Hạnh Nhẫn nhục

Nhẫn nhục là một trong những phẩm chất đạo đức mà con người cần học hỏi, rèn luyện để có được. Bởi lợi ích của nó là vô cùng to lớn… Phật giáo rất coi trọng việc giáo dục đạo đức, trong đó “hạnh nhẫn nhục” nhận được nhiều sự quan tâm. Câu chuyện sau đây là một minh chứng giáo dục cho “hạnh nhẫn nhục”:

Một thằng bé trông to con đang đi trên đường, chợt thấy cái ví của ai đó đánh rơi. Nó vừa nhặt lên xem thì một thằng bé khác (nhỏ hơn) ở đâu chạy đến đòi chia đôi số tiền trong ví. Thằng lớn không chịu vì nó muốn trả lại ví cho người đánh mất.

Đang dùng dằng tranh cãi thì một người đàn ông đi tới hỏi hai đứa có nhặt được một cái ví không. Thằng lớn nói có và vui vẻ trả lại chiếc ví cho ông ta. Người đàn ông mừng quá, sau khi xem ví không thấy mất gì liền lấy ra tờ 50 ngàn để “hậu tạ” hai đứa. Thằng lớn dứt khoát không nhận tiền…

Khi người đàn ông đi khỏi thì thằng nhỏ hơn nói với thằng lớn:

Mày đưa tao 25 ngàn.

Tiền gì? thằng lớn hỏi lại.

Vì tao với mày cùng nhặt được ví, ông ta cho 50 ngàn thì phải chia đôi.

Lúc nãy mày thấy tao trả lại hết cho ông ta rồi mà.

Tao không biết, ông ta cho 50 ngàn tức mày 25, tao 25 còn trả lại là việc riêng của mày.

Hai đứa cứ cãi cọ nhau qua lại như vậy. Vì không nhận được tiền thằng bé xông vào đánh thằng lớn. Thằng lớn bỏ chạy… Có người thấy thế hỏi: Mày lớn hơn, không đánh lại được nó hay sao mà bỏ chạy? Thằng lớn trả lời: Đâu có, nếu cháu đánh lại là nó chết, nên cháu chạy để không phải đánh nhau với nó…

Đó chính là “hạnh nhẫn nhục” mà Đạo Phật thường truyền dạy cho các Phật tử và chúng sinh…

Hà Nội, ngày 16-02-2020

Bùi Tâm Văn

Chuyện “Tỳ kheo và con ngỗng”

Có vị Tỳ Kheo đi khất thực vào buổi sáng. Khi đến một gia đình giàu có, ông được chủ nhà cung kính đem vật thực ra cho vào bát.. Trong lúc xới vào bát, chiếc nhẫn của bà chủ nhà do lỏng quá nên bị rớt xuống đất, nhưng bà không biết.

Vị Tỳ Kheo biết nhưng nghĩ mình sẽ nói cho chủ nhà biết sau. Vốn ít nói, lại giữ oai nghi khi đi khất thực, nên ông không vội nói. Không ngờ, lúc đó có một con ngỗng từ đâu chạy tới nuốt mất chiếc nhẫn. Ông không biết làm thế nào!

Khi chủ vào nhà, ông vẫn còn đứng đó. Chủ nhà rất ngạc nhiên, lúc đó bà nhận ra mình mất chiếc nhẫn. Bà vội chạy ra hỏi: “Thưa thầy, thầy có thấy chiếc nhẫn của con không?”. Vị Tỳ Kheo im lặng không trả lời. Vì ông sợ nói thật thì con ngỗng sẽ bị giết. Ông lại là người chân thật, không nói dối bao giờ.

Ông không biết giải quyết sự tình thế nào. Bà chủ nhà tiếp tục hỏi: “Thầy có thấy không, chiếc nhẫn của con mới rơi ở đây thôi”. Dù bị nghi là mình lấy nhẫn, ông vẫn im lặng. Chủ nhà giận dữ túm áo ông nói: “Thầy lấy chứ còn ai. Nãy giờ chỉ có thầy với tôi”. Bà chủ vừa nặng lời vừa đánh vị Tỳ Kheo. Có lẽ nghiệp của ông vừa hết nên con ngỗng tự nhiên vật vã rồi lăn ra chết. Lúc đó ông mới thều thào nói: “Tôi thấy con ngỗng nó nuốt…”. Bà chủ nhà hoảng hốt kêu lên: “Trời ơi! Sao thầy không nói sớm”. Tỳ Kheo trả lời: “Nói, cô giết con ngỗng thì sao?”

[P/s: Trong cuộc đời, nhiều khi chúng ta cũng rơi vào những tình huống tương tự. Chúng ta bị người khác hiểu lầm, hiểu sai mà vẫn phải chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi để không nói dối… Cần phải tin rằng chính sự chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi này sẽ làm cho phước đức của chúng ta tăng lên bội phần. Vì nhân quả và phước báo không tự nhiên mà có. Con người phải trải qua những thử thách, gian nan khổ cực, cay đắng… trong cuộc đời mới có được].

Hà Nội, ngày 13/02/2020

Bùi Tâm Văn

Ông già Chồn (chuyện Phật giáo)

Có một ông già hay vào nghe ngài Bá Trượng giảng pháp. Một lần sau khi nghe giảng xong, ông già vẫn không chịu đi. Ngài Bá Trượng nghĩ đây là một người không bình thường, bèn hỏi: “Ông là ai?”. Ông già trả lời: “Bạch Hòa Thượng, con không phải là người. Con là con chồn sau núi. Năm trăm đời trước, đời Đức Phật Ca Diếp, con là một vị Tăng tu hành. Một hôm, có người hỏi con: Người đã đắc đạo có bị luật Nhân Quả chi phối hay không? Con trả lời: Không. Thế là từ đó con bị đọa làm thân chồn 500 kiếp mà không biết mình phạm lỗi gì! Nay con mong Hòa thượng cho con một lời giải thích để con hiểu ra sự thật mà thoát được thân chồn này”.

Ngài Bá Trượng nói: “Ông hỏi lại ta đi”. Ông già trịnh trọng hỏi lại: “Bạch Hòa thượng, người đắc đạo có còn bị luật nhân quả chi phối không?”. Ngài Bá Trượng đã trả lời: “Người đắc đạo đã không còn hiểu sai về luật Nhân Quả nữa (tức hiểu rất sâu sắc)”. Nghe câu đó, ông già đại ngộ ngay. Ông nói với ngài Bá Trượng: “Vậy là con thoát được thân chồn, xin Hòa thượng lấy nghi thức dành cho Tăng mà tống táng cho con”. Nói xong, ông già biến mất.

Trưa hôm sau, ngài Bá Trượng thông báo cho mọi người chuẩn bị lễ tang cho một vị Tăng. Mọi người rất ngạc nhiên vì trong chùa không có ai vừa qua đời cả. Ngài bảo mọi người đi theo mình ra sau núi. Khi đến một cái hang thấy xác một con chồn, Ngài bảo họ đem về thiêu và tống táng như một vị Tăng…

[Đây là câu chuyện được thầy Thích Chân Quang dẫn ra khi giảng về HẠNH CHÂN THẬT. Thầy muốn nói tới những người tu hành cần tránh khát khao, tham vọng, danh lợi phù ảo, muốn được mọi người tôn kính. Người đó biết mình chưa đắc đạo, nhưng vẫn nói dối là mình đã đắc đạo… Những người đó khi nói dối, họ đã gieo rắc những tà kiến sai lầm cho người khác về nhiều vấn đề đạo lý… Trong chuyện trên, ông già Chồn không phải là người nói dối… Ông chỉ hiểu sai, trả lời thiếu cân nhắc, vậy mà ông bị đọa làm thân chồn tới 500 kiếp].

(P/s: Chuyện của Nhà Phật, nhưng với những người không tu hành vẫn nên ngẫm nghĩ và rút ra cho mình điều gì đó thì cũng… TỐT!)

Hà Nội, ngày 12/02/2020

Bùi Tâm Văn

QUAY ĐẦU LÀ BỜ

Một kiếm sĩ vì muốn đoạt vợ của người khác nên đã giết người chồng. Ông ta sợ bị trả thù nên đưa vợ đi nơi khác. Về sau, thấy vợ không tốt nên ông ta đã bỏ vợ. Ông ta hối hận vì việc giết người nên đã tìm cách chuộc lại lỗi lầm của mình.

Ông thấy người từ hai địa phương muốn qua lại phải vượt qua một ngọn núi, đường đèo nguy hiểm, chỉ xẩy chân chút là mất mạng. Ông đã phát tâm đục đường xuyên qua núi nhằm giúp mọi người đi lại dễ dàng.

Cứ ban ngày ông ta đi ăn xin, ban đêm đục núi. Ròng rã thời gian trôi qua không biết bao nhiêu năm. Đến một ngày, con trai của người bị ông giết năm xưa tìm đến để trả thù cho cha. Khi gặp ông, anh ta nói: “Ta không giết người sau lưng, hãy rút kiếm ra và đấu với ta”. Lúc đó, ông ta trả lời người thanh niên: “Ta sẽ dâng mạng sống cho anh, nhưng hãy cho ta đục xong con đường hầm này đã”. Người thanh niên suy nghĩ thấy hợp lý nên đồng ý.

Thời gian chờ đợi kéo dài. Chờ mãi cũng chán, nên anh thanh niên phụ giúp ông ta đục đường hầm cho nhanh. Cứ thế, hai người cùng nhau đục đường hầm ròng rã thêm mấy năm nữa mới xong. Khi kết thúc công việc, ông già ngồi xuống và nói: “Đầu của ta đây, anh cắt đi”. Người thanh niên quỳ xuống, ôm ông già như ôm người thầy của mình và nức nở nói: “Thầy! Làm sao con có thể cắt đầu thầy được”

Hà Nội, ngày 11-02-2020

Bùi Tâm Văn

Cô giáo Việt “Dạy giỏi nhất nước Mỹ”

Đó là một cô giáo người Mỹ, gốc Việt. Cô là người theo đạo Thiên chúa, nhưng chồng cô theo đạo Phật. Vì tu đúng theo lý tưởng của đạo Phật nên người chồng đã thuyết phục được cô sang với đạo Phật.

Cuộc đời dạy học của cô rất vất vả, nhưng nhờ tận tụy và giàu tình thương yêu người nên cô đã cảm hóa được nhiều học trò, đặt biệt là những học trò cá biệt. Danh tiếng của cô ngày càng vang xa…

Tại một trường học rất lớn của một bang nước Mỹ, có khoảng 100 ngàn học sinh đang học tập tại đây. Trong đó, có một số học sinh bị gạt ra ngoài lề, những em này thuộc đối tượng hư hỏng, hay phá phách, nghịch ngợm… Những học sinh ấy thường có nguồn gốc từ Việt Nam, Lào, châu Phi và Nam Mỹ… Phần lớn chúng không rành tiếng Anh, lại không chịu khó học tập nên hư hỏng.

Nhà trường bố trí cho chúng học trong những thùng xe. Còn những tòa nhà lớn, khang trang thì dành cho những học sinh ngoan. Vì những học sinh này quá hư hỏng nên không giáo viên nào dạy được chúng. Nhà trường phải thuê giáo viên dạy theo giờ, dạy được giờ nào nhận thù lao giờ đó. Có người dạy giờ đầu rồi không dám dạy giờ sau nữa… Ông Hiệu trưởng nghe tiếng cô nên đã đích thân đến mời cô dạy. Hai vợ chồng cô đắn đo suy nghĩ, cuối cùng được chồng khuyến khích cô đã nhận lời.

Khi tới trường cô đã thấy hai xe cảnh sát ở đấy. Cảnh sát phải có mặt thường xuyên bởi những học sinh này đi học mang theo cả súng, dao. Khi vào trường, chỗ này đứng một cặp, chỗ kia đứng một cặp, chúng ôm hôn nhau rất tự nhiên. Vào lớp, cô còn chứng kiến nhiều cảnh tượng đáng sợ hơn nữa. Chúng thường đánh nhau, đâm chém lẫn nhau. Thỉnh thoảng cảnh sát lại chạy vào can thiệp. Đó là chưa kể cảnh con gái ngồi trong lớp còn vạch ngực ra, gác chân lên bàn…

Trước tình hình đó, cô đề nghị với ông Hiệu trưởng: “Cho tôi một phòng học chính thức ở tòa nhà, chứ không học trong thùng xe”. “Bà yêu cầu điều gì, chúng tôi làm điều đó”, ông Hiệu trưởng nói.

Khi nhận phòng học cô thấy do lâu ngày không được dọn dẹp nên rất bẩn. Cô phải tự quyét dọn, lau chùi. Thấy cô làm bọn học sinh hỏi: Cô dọn dẹp để làm gì? Cô trả lời: Lớp học cũng như cái nhà, mình phải chăm sóc cho nó. Cô chỉ nói vậy, nhưng nhiều đứa thấy cô nói đúng nên đã phụ giúp cô dọn dẹp. Lớp học trở nên sạch đẹp.

Trong quá trình dạy học cô luôn thể hiện tình yêu thương và tôn trọng đối với học sinh. Dần dần cô đã cảm hóa được chúng. Bọn trẻ bắt đầu học tập tử tế… Vài hôm sau, một đứa học sinh người Mỹ vào học. Việc làm đầu tiên của nó là gác chân lên bàn nằm ngủ. Ba ngày liên tiếp như thế không thấy ai nói gì, đến ngày thứ tư nó không ngủ nữa và bắt đầu quậy phá. Nó la hét um sùm để người ta chú ý. Cô giáo hỏi nó: “Em từ đâu đến?”; nó trả lời: “Trong tù mới ra”. Cô lại hỏi: “Em đi tù vì tội gì?”; “Ăn cướp có súng”, nó trả lời.

Nó lạnh lùng trả lời, thân thể nó được xăm từ đầu tới chân. Vậy mà cuối cùng cô cảm hóa được học sinh này. Nó bắt đầu chịu học và trở thành người giữ trật tự trong lớp. Đang học, ai nói chuyện, nó chỉ mặt nói: “Im lặng”. Cô rất kiên trì dạy dỗ, lại thêm phương pháp sư phạm tốt, học trò tiến bộ trông thấy. Khi thấy học sinh nào tiến bộ rõ rệt, cô cho chuyển qua lớp khác học ngay. Những học sinh chuyển sang lớp khác về sau đều trở thành học sinh giỏi. Có những em trúng tuyển vào các trường đại học danh tiếng. Tên tuổi của cô lại càng được nhiều người biết đến…

Năm đó, nước Mỹ chọn được 30 giáo viên giỏi trong toàn quốc, sau đó lọc dần còn lại 60 người. Hội đồng xem cách giảng dạy của từng giáo viên, chọn đi chọn lại còn được 36 người. Hội đồng xét duyệt mời 36 giáo viên đó về gặp mặt tại thủ đô Washington.

Trước khi gặp mắt, họ gửi cho mỗi người một cuốn băng video để biết 35 người kia. Trong hội nghị, theo quy định, mỗi người chỉ được nói 3 phút về đường lối, phương pháp giáo dục của mình.

Đến lượt cô trình bày, cô nói bằng tiếng Việt: “Kính chào quý vị, tôi rất hân hạnh được gặp quý vị ở đây”. Mọi người không hiểu gì cả… Sau đó,cô nói bằng tiếng Mỹ: “Quý vị có hiểu tôi nói gì không?”. Mọi người lắc đầu cười. Cô nói tiếp: “Bây giờ tôi nói chậm lại, quý vị có hiểu gì không?”. Mọi người vẫn lắc đầu cười. Cô nói: “Nhiệm vụ của tôi là như vậy. Nhiệm vụ của tôi là giúp những em học sinh không nắm được ngôn ngữ của nước Mỹ, trở nên mặc cảm và bị ruồng bỏ, được hội nhập vào xã hội, trở thành học sinh giỏi và trở thành công dân có ích cho nước Mỹ”.

Cả hội trường vỗ tay vang dội và nói rằng: “Những điều cô nói ngắn ngủi đã làm cho cô vượt trội hơn cúng tôi”. Cô được 35 người còn lại bầu chọn là “Giáo viên giỏi nhất”. Chính Tổng thống Mỹ đã trao cho cô phần thưởng cao quý đó…

[P/s: Để có câu chuyện cho chúng ta kể trong 5 phút, những người như cô đã phải cố gắng từng phút, từng giờ, từ tháng năm này đến tháng năm khác, có khi phải dành cả cuộc đời mình cho công việc mình làm. Vì thế, chúng ta cần/nên biết ơn những con người đã làm nên các “huyền thoại”… vì họ phải chịu đựng khó khăn, gian khổ và phải nỗ lực biết bao nhiêu mới làm được điều đó!].

Hà Nội, ngày 07/02/2020

Đau lòng chuyện con đánh mẹ!

Trong truyện cổ Phật giáo có câu chuyện này:

Một quan tòa trước khi tuyên án tử hình một bị cáo đã hỏi anh ta:

– Nguyện vọng cuối cùng của anh là gì?

– Tôi muốn được ôm mẹ tôi lần cuối.

Đây là mong ước chính đáng của một người sắp lìa xa cõi trần. Quan tòa cho người mời mẹ anh ta đến. Tưởng người con sẽ ôm lấy mẹ… Nào ngờ anh ta dùng tay đánh mẹ mình ngất xỉu!

Cùng lúc đó, anh ta ràn rụa nước mắt nói với mọi người: Chính vì người đàn bà này khiến tôi bị chết một cách nhục nhã như hôm nay!

Rồi anh ta đau đớn kể lại một chuyện xẩy ra từ hồi còn nhỏ: lần đầu tiên anh ta lấy trộm một bao diêm của hàng xóm đem về khoe với mẹ. Bấy giờ, mẹ đã không la mắng anh ta mà còn khen ngợi: “Thằng này khôn”.

Nhiều lần anh ta ăn cắp, lấy trộm đồ của người khác nhưng đều không bị mẹ la mắng. Cứ thế anh ta lớn lên và trở thành một tên cướp của, giết người… Hậu quả phải đón nhận cái chết nhục nhã hôm nay!

Tại sao Nho giáo lại xếp BỐ sau THẦY?

Trong “Tam cương” (Quân, Sư, Phụ) của Nho giáo, bố (phụ) “bị xếp” sau thầy (sư) – Tại sao vậy? Câu hỏi này đeo đuổi tôi từ lâu mà vẫn chưa tìm được câu trả lời. Gần đây khi đọc bộ “Tâm lý Đạo đức” của Tỳ kheo Thích Chân Quang (2006) mới có câu trả lời (ít nhiều mang tính thuyết phục)…

Trong tập 3 của bộ sách, từ trang 18 đến trang 20, Tỳ kheo Thích Chân Quang đã đặt ra và trả lời câu hỏi: Tại sao người xưa lại coi công ơn thầy cô nặng hơn công ơn của cha mẹ? Và ông đã lý giải như sau:

Có quan niệm như vậy là vì người ta cho rằng công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ đối với con cái không thể tính kể được, nhưng dẫu sao công ơn đó cũng mang ý nghĩa vật chất. Cha mẹ cho chúng ta hình hài, nuôi chúng ta khôn lớn, nhưng tất cả những điều đó đều thuộc về vật chất. Còn thầy cô cho chúng ta trí tuệ, đời sống tâm hồn. Đó là những yếu tố thuộc về giá trị tinh thần, nên có ý nghĩa lớn lao.

Thử nghĩ, nếu không biết đọc, biết viết, không được dạy dỗ về lẽ sống, về cách cư xử, chúng ta sẽ sống như thế nào? Chúng ta sẽ không hiểu biết gì về cuộc sống, chúng ta có thể hỗn láo với người lớn tuổi, gây gổ với mọi người. Lúc ấy, chúng ta không có một chút giá trị nào vì giá trị của con người được đánh giá trên khía cạnh tinh thần hơn là vật chất. Điều này được biểu hiện qua trí tuệ, đạo đức, khả năng ứng xử với mọi người… Bởi vậy, thân tuy quan trọng nhưng giá trị tâm hồn, giá trị tinh thần còn quan trọng hơn. Người Á Đông đã khẳng định về điều đó – một điều rất sâu sắc mà người phương Tây không nghĩ đến!

Giá trị tinh thần của một người phần lớn nhờ công dạy dỗ của thầy cô giáo. Nhờ học hành mà chúng ta có trí tuệ, có hiểu biết sâu sắc về những vấn đề về tự nhiên – xã hội; biết nói năng lễ độ, biết cư xử đúng mực, không xâm phạm đến quyền lợi của người khác, v.v… Vì thế người phương Đông đã đặt công lao của người thầy trên công lao của cha mẹ… BIẾT ƠN THẦY CÔ, CHÚNG TA CẦN: Sống tốt, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện tài năng để góp phần đem lại lợi ích cho gia đình và xã hội. Đó chính là cách đền ơn có ý nghĩa nhất đối với những người có công bồi dưỡng giáo dục cho mình những giá trị tinh thần…

Hà Nội, ngày 05/02/2020

Bùi Tâm Văn

Chữ “TÍN”

Bàn về chuyện giữ chữ “Tín” đối với nhiều người thực không có mấy tí giá trị. Vì họ không sống và hành động theo khuôn phép đó. Thành ngữ Việt có câu: “Một lần bất tin thì vạn lần bất tín”. Đặc biệt trong xã hội hiện đại, trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, chữ Tín lại hết sức cần thiết phải quan tâm và giữ gìn…

Có rất nhiều minh chứng cho thấy hệ quả không hay xẩy ra khi không giữ chữ tín. Dưới đây là một câu chuyện “thất tín” của Trung Quốc, nhưng cũng gợi lên cho chúng ta những nghĩ suy… về chữ tín thời nay:

Vu Trạch mới từ nước ngoài trở về Trung Quốc. Anh kết giao với hai bạn mới là Tuệ và Phi. Hai người này đang thành công trong ngành bất động sản ở Trung Quốc. Ba người hợp lại thành một nhóm chơi cầu lông chuyên nghiệp. Hàng tuần vào một thời gian cố định, họ thường tập luyện với nhau 2 lần. Trạch là trưởng nhóm, phụ trách thuê sân bãi luyện tập.

Trong ba người, Trạch luôn là người tuân thủ thời gian nghiêm ngặt. Anh thường đến sớm và chờ hai người bạn của mình. Ngược lại Tuệ và Phi hôm nào cũng đến muộn, hoặc không đến. Khi Trạch gọi điện thoại hỏi thăm thì Tuệ làm như không có việc gì, lại nói với anh: “Tớ đang ăn cơm cùng người khác, cậu đánh cậu lông xong cũng đến đây nhé!”. Có hôm cả Phi và Tuệ đều không đến, khiến Trạch buồn bã trên sân đợi bạn!

Từ đó, Trạch rút kinh nghiệm trước khi thuê sân, anh hỏi Tuệ và Phi xem hôm nay họ có hẹn với khách hàng không. Nếu không hẹn khách hàng, anh mới thuê sân. Tuy vậy, việc hai người bạn của anh vẫn thường xuyên đến trễ hoặc thất hứa, không đến.

Ba người sau đó phát sinh xung đột, mâu thuẫn. Không kìm được giận, Trạch đã lớn tiếng trách Phi: “Nếu các cậu không đến được, sao không gọi điện trước cho tớ để tớ tìm người khác chơi?”. Nghe vậy, Phi nói: “Việc này có gì to tát đâu, sao cậu khiến nó nghiêm trọng như thế?”. Trạch nói: “Nếu muốn người khác tôn trọng cậu, cậu phải tôn trọng người khác, tôn trọng thời gian. Các cậu là người làm kinh doanh, giữ lời hứa là danh dự của doanh nhân. Nếu các cậu cũng đối xử với khách hàng như với tớ, thì hỏi khách hàng nào tin tưởng các cậu?”.

Nét mặt Phi lúc đó trở nên vô cùng khó coi, anh ta nói: “Tớ không bao giờ thất hẹn với khách hàng… Quan niệm của người Trung Quốc khác người phương Tây. Cậu phải thay đổi tín điều của mình đi, học cách hòa nhập vào văn hóa nước ta. Nếu không, cậu sẽ bị bong da tróc vảy đấy”. Trạch không hiểu, nên anh hỏi lại: “Lẽ nào không đến đúng hẹn lại là văn hóa của người Trung Quốc?

Sau lần ấy, Trạch rút ra bài học và quyết định thuê một huấn luyện viên làm bạn đánh cầu với mình. Từ đó, anh không phải nảy sinh mâu thuẫn, xung đột với người khác do phải chờ đợi nữa.

Không lâu sau, do nhu cầu kinh doanh, Tuệ và Phi muốn hợp tác với Trạch; nhưng Trạch chỉ cảm ơn rồi khước từ. Người tuân thủ thời gian như Trạch cho rằng: một người không làm đúng hẹn giống như một nhạc công chơi nhạc tùy hứng. Anh không muốn chịu đựng sự khó chịu giống như trước đây nữa!

Hà Nội, ngày 02/02/2020

Bùi Tâm Văn

ĐẠO SĨ VÀ BẦY CHUỘT

Ở Ấn Độ xưa có một người đi tu. Thời kỳ đầu, ông ta tu tốt, sống cũng rất đơn giản. Ông sống trong một hang động, không làm gì, chỉ lo tu và đi khất thực.

ĐỨC PHẬT THÍCH CA

Từ cái hang nơi ông ở vào làng khá xa. Mỗi lần đi khất thực, ông đều xin nhiều lương thực, thực phẩm để dành trong một cái bao. Cứ khoảng một tuần ông lại rời hang xuống làng khất thực.

Cuộc sống của ông đơn giản, bình yên. Nhưng rắc rối xẩy ra bắt đầu từ mấy con chuột. Vì phát hiện có thức ăn để dành nên lũ chuột kéo đến quấy phá. Vị Đạo sĩ cảm thấy phiền toái, nên ông thấy cần một con mèo canh giữ những thứ để dành.

Vì thế, khi vào làng khất thực, Đạo sĩ xin thêm con mèo. Thức ăn chay vốn đơn giản, mèo con không chịu ăn. Đạo sĩ nghĩ cần sữa cho mèo uống. Do sống xa làng bản, lấy đâu ra sữa cho con mèo. Đạo sĩ lại nghĩ nuôi thêm một con bò lấy sữa nuôi mèo. Và khi có bò, Đạo sĩ phải bớt thời gian tu để chăn bò và vắt sữa cho mèo.

Cứ thế, thời gian trôi qua, bao nhiêu chuyện rắc rối xẩy ra. Khi bò bị bệnh, ông phải bỏ nhiều công sức chăm sóc nó. Lúc này Đạo sĩ không còn thời gian để nấu cơm. Một Phật tử có lòng cảm mộ xin đến ở nấu cơm cho Thầy. Ông đồng ý, nhưng lại nảy sinh vấn đề mới là cô Phật tử ở đâu, vì chỉ có một cái hang nhỏ?

Ông Đạo sĩ lại phải cất một căn nhà cho ni cô ở. Dần dà lại có thêm vài chú tiểu lo lắng việc trong, việc ngoài. Cuộc sống của nhà tu hành đã thay đổi. Một thời gian sau thì việc tu hành cũng chấm dứt…

Vậy là, chỉ vì mấy con chuột, do không xử lý tốt mà công quả tu hành của một người không thể thành tựu, viên mãn…

Trên thực tế, việc tu hành không dễ. Có rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến quá trình này. Những ai không đủ dũng khí, kiên trì và cả trí tuệ thì khó thành tựu công quả. Chả thế mà các bậc thánh như Đức Phật, Đức Khổng Tử, chúa Giê-su, V.I. Lênin… đều khẳng định: Chiến thắng lớn nhất của một người là chiến thắng được chính bản thân mình…

Hà Nội, ngày 21/1/2020

Bùi Tâm Văn

Quan hệ giữa giàu có và phẩm hạnh (Socrates)

Socrates – nhà triết học vĩ đại của nhân loại trong cuộc đời mình có những cuộc đối thoại đặc biệt. Cuộc đối thoại giữa ông và nhà quý tộc giàu có nhưng hống hách ở thành phố quê hương ông (Athens) cho ta thấy rõ tư tưởng triết học của ông về mối quan hệ giữa sự giàu có và phẩm hạnh:

Trong tác phẩm Meno của Plato, Socrates có cuộc đối thoại với một người cực kỳ tự tin về sự đúng đắn của quan niệm theo “lẽ phải thông thường” là Meno. Ông này nói với Socrates rằng để là người có phẩm hạnh thì phải rất giàu có. Sự nghèo khó luôn luôn là thất bại của cá nhân chứ không phải là sự tình cờ.

Trước cách đặt vấn đề của Meno như vậy, Socrates quyết định hỏi ông ta mấy câu:

  • Socrates: Theo ngài những thứ tốt có nghĩa là sức khỏe và tài sản?
  • Meno: Tôi nghĩ nó bao gồm cả vàng và bạc, cũng như một vị trí cao và danh giá trong bộ máy nhà nước.
  • Socrates: Đó có phải là những thứ duy nhất mà ngài cho là tốt không?
  • Meno: Đúng, ý tôi là tất cả những thứ kiểu như vậy.
  • Socrates:… Ngài cho rằng việc “có được” những thứ đó có cần phải “công bằng và chính đáng” không, hay điều đó với ngài không quan trọng? Liệu ngài có coi một người là có phẩm hạnh ngay cả khi họ có được những thứ tốt một cách không công bằng hay không?
  • Meno: Chắc chắn là không.
  • Socrates: Như vậy có vẻ là việc có được [vàng và bạc] phải gắn với sự công bằng, chừng mực, lòng hiếu thảo hoặc những yếu tố khác của phẩm hạnh… Thực ra, việc không có vàng hay bạc, nếu xuất phát từ thất bại trong việc có được chúng… trong những trường hợp mà việc có được chúng là không chính đáng, thì bản thân nó lại là phẩm hạnh.
  • Meno: Có vẻ như vậy.
  • Socrates: Như thế có nghĩa là việc có các thứ đó không hề làm cho một người trở nên tốt đẹp hơn là không có chúng…
  • Meno: Kết luận của ngài có vẻ như là tất yếu.

Sau những câu đối thoại trên, Socrates còn cho Meno thấy tiền bạc và ảnh hưởng của bản thân chúng không phải là những điều kiện cần và đủ của phẩm hạnh. Người giàu có thể được ngưỡng mộ nhưng điều đó còn phụ thuộc vào việc tài sản của họ từ đâu mà có. Sự nghèo khó bản thân nó cũng không cho thấy điều gì về giá trị đạo đức của một cá nhân. Không có lí do ràng buộc nào để một người giàu cho rằng tài sản của mình đảm bảo cho phẩm hạnh. Cũng không có lí do ràng buộc nào để một người nghèo nghĩ rằng sự nghèo khó của mình là dấu hiệu của sự đồi bại!

ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO

Nổi bật

1. Đạo Phật là một thành tựu văn hoá, văn minh đặc sắc, trước hết của dân tộc Ấn, sau đó là của cả nhân loại. Đạo Phật xuất hiện ở Ấn Độ cách ngày nay hơn 2.500 năm, về sau lan toả và phát triển ra khắp các châu lục và hiện đang là “một trong ba tôn giáo lớn của thế giới (Đạo Phật, Đạo Cơ đốc và Đạo Hồi”).

Sinh thời, A. Einstein đã cho rằng: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, xuất phát từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, và Phật giáo đáp ứng đủ các điều kiện ấy”.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay Phật giáo được nhân loại tôn vinh là một tôn giáo có triết lý sống nhân văn, thiết thực nhất và trở thành thứ Đạo được hướng tới trong tương lai. Đạo Phật xuất phát từ hiện thực con người và vì con người, nhằm hướng con người đi đến hạnh phúc an lạc.

Nói một cách vắn tắt, Đạo Phật là con đường giải thoát con người khỏi khổ đau, bất toại nguyện. Tìm hiểu sâu chúng ta sẽ nhận thấy trong toàn bộ giáo lý của Đạo Phật thể hiện một nếp sống đạo đức có những đặc trưng riêng biệt, nổi bật mà con người khi trải nghiệm sẽ nhận ra được chân giá trị đích thực của hạnh phúc.

Đạo đức là một phạm trù được quan niệm không hoàn toàn giống nhau trong các nền văn hoá và trong các thời đại lịch sử. Nó là phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội; là những phẩm chất tốt đẹp của con người. Đây là quan niệm chung về đạo đức.

Quan niệm đạo đức của Đạo Phật căn bản cũng như vậy. Nhưng có cái khác biệt là nhấn mạnh đến cái thiện ở bên trong, nó là cái gốc của những hành vi, lời nói tốt đẹp thể hiện ra bên ngoài của con người.

“Đạo đức là những khuynh hướng tốt có trong tâm ta, mà những khuynh hướng đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến cho mọi người chung quanh ta được chuyển hoá, an vui, lợi ích”.

2. Đạo Phật là đạo giải thoát chúng sinh khỏi trầm luân khổ ải, bất toại nguyện. Từ góc nhìn này ta thấy Đạo Phật là một loại đạo đức lớn.

Trong tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), nếu phân tích đến cùng sẽ ẩn chứa đạo đức bên trong. Nhưng có lẽ biểu hiện rõ nét và tập trung nhất của đạo đức trong Phật giáo là ở các Giới (Ngũ giới, lục giới và thập giới).

Khi nghiên cứu về đạo đức trong Phật giáo, ta nhận thấy một số điểm nổi bật sau:

Một là: Đạo đức Phật giáo thể hiện rõ ràng, dứt khoát về thiện ác.

Đây là điểm khác biệt với nhiều học thuyết đạo đức học phương Tây. Phương Tây thường nhấn mạnh tính tương đối của thiện ác, coi tiêu chuẩn của thiện ác có sự thay đổi theo thời gian và không gian. Phật giáo luôn thể hiện sự dứt khoát, minh bạch trong vấn đề này.

Trong Kinh Tăng chi bộ khẳng định thiện và ác phân biệt cách xa nhau như đất với trời, phân biệt rõ nguyên nhân căn bản của ác là tham, sân, si và nguyên nhân căn bản của thiện là không tham, không sân, không si.

Đồng thời Kinh cũng phân biệt rõ kết quả do thiện ác đem lại là hạnh phúc và bất hạnh cho con người ở đời này và đời sau như thế nào. Hình tướng của thiện và ác được phân tích rõ ràng là không sát sinh hay sát sinh, bố thí hay trộm cắp, sống chính hạnh hay là tà hạnh, v.v… cho đến những ý nghĩ thiện hay bất thiện trong tâm hồn cũng được phân tích rõ ràng minh bạch.

Kinh chép: “Có hai tiềm lực trong con người, làm điều thiện hay làm điều ác. Thật có thể từ bỏ điều ác; từ bỏ điều ác đem lại lợi ích và hạnh phúc. Cũng có thể huân tập điều thiện. Huân tập điều thiện cũng mang lại lợi ích và hạnh phúc (đoạn 19)”.

Nếu chúng ta coi trọng tính thực tiễn của học thuyết đạo đức, nghĩa là mọi học thuyết đạo đức đều phải hướng tới việc khích lệ mọi người sống thiện, bỏ ác, thì những chủ thuyết không phân biệt rõ thiện và ác làm sao có thể hoàn thành được mục tiêu này.

Nếu một chủ thuyết tuyên bố thiện là cái không thể định nghĩa thì làm sao có thể khuyến cáo người ta làm điều thiện.

Chính vì vậy mà giáo sư T.W. Rhys Davids đã phê phán đạo đức học phương Tây: “Cho tới nay, việc nghiên cứu đạo đức ở phương Tây đã thất bại thảm hại qua những cuộc bàn cãi lý luận kéo dài và những tư biện trống rỗng cắt đứt mọi thực tế”.

Hai là: Đạo đức Phật giáo có tính liên tục và nhất quán.

Nội dung của thiện ác như chính Đức Phật Thích Ca đã đích thân thuyết giảng, từ ngày Ngài còn tại thế cách đây hơn 2.500 năm và được kết tập trong Kinh tạng Nguyên thủy, nội dung thiện ác đó đã được duy trì một cách liên tục nhất quán cho đến nay, hầu như không thay đổi gì kể cả trong thời kỳ Phật giáo bộ phái và Phật giáo Đại thừa.

Nội dung của năm giới, mười điều thiện đến nay, vẫn không thay đổi mặc dù Phật giáo đã phát triển qua một thời gian dài và trở thành một tôn giáo thế giới, có mặt ở hầu hết các nước trên hành tinh này.

Sự phân biệt thiện ác của đạo đức Phật giáo không chỉ dứt khoát, minh bạch mà còn nhất quán và liên tục.

Có thể nói, được chính Đức Phật Thích Ca tuyên bố và minh định nội dung của đạo đức Phật giáo thật sự là những giá trị siêu thời gian và không gian, và nó trở thành khuôn mẫu ứng xử tốt đẹp nhất của con người, không kể là thời đại nào hay ở châu lục nào.

Vì thế mà Albert Schweitzer khẳng định: “Đức Phật đã sáng tạo ra một nền đạo đức nội tâm hoàn thiện nhất”, và “trong lĩnh vực này, Đức Phật đã nói lên những chân lý đạo đức có giá trị bất hủ, đã phát triển nền đạo đức không phải của đất nước Ấn Độ mà là của cả nhân loại. Đức Phật là một trong những nhà đạo đức học vĩ đại nhất, kỳ tài nhất mà thế giới có được”.

Ba là: Đạo đức Phật giáo dựa trên quy luật nhân quả nghiệp báo.

Đây là một quy luật có giá trị khách quan nhất, công bằng nhất, quy luật nhân quả nghiệp báo đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với cá nhân, cũng như đối với cộng đồng và xã hội.

Theo Phật dạy, nghiệp là hành động. Nghiệp báo là kết quả hay là quả báo của hành động. Quả báo đó tương ứng với hành động tức nghiệp tạo ra nó. Ca dao tục ngữ Việt Nam đã đúc kết quy luật đó thành những câu như “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão”. Đó là quy luật mà lương tri mọi người đều chấp nhận.

Đạo Phật xem quy luật này như là cái chìa khóa, giúp lý giải tất cả mọi sự vật và hiện tượng diễn biến trong tự nhiên và xã hội.

Đạo Phật bác bỏ Thần ý luận, cũng như Ngẫu nhiên luận. Nếu mọi diễn biến trong xã hội đều do ý của thần linh hay của đấng sáng tạo sắp xếp sẵn rồi, thì mọi cố gắng sống đạo đức của người đều là vô ích.

Đối với Ngẫu nhiên luận cũng vậy, nếu mọi diễn biến trong xã hội đều xảy ra một cách ngẫu nhiên, không có quy luật gì cả, thì sống đạo đức mà làm gì?

Định mệnh luận và Túc mệnh luận, tuy không phải là Thần ý luận, nhưng kết quả đối với hành động đạo đức của con người, cũng mang một ý nghĩa tiêu cực như thế.

Nếu mọi diễn biến xảy đến cho xã hội và cá nhân đều do định mệnh, hay là do quá khứ quyết định và an bài, thì mọi cố gắng của con người trong hiện tại đều là bất lực và vô ích. Con người chỉ còn biết an phận và chịu đựng.

Đọc các vở kịch thơ của Homère thời Hy Lạp cổ đại, chúng ta thường gặp khái niệm số mệnh hay số phận. Đó là một giải thích rất tiêu cực đối với mọi diễn biến của cuộc sống cá nhân và xã hội.

Đạo Phật, trái lại tuyên bố “Con người là chủ nhân của nghiệp, đồng thời con người cũng là thừa tự của nghiệp”, nghĩa là chính con người hành động bằng ý chí tự do của mình, và con người phải chịu hậu quả của hành động của mình. Con người tuy là thừa tự của nghiệp nhưng quyết không phải là nô lệ của nghiệp.

Với một nỗ lực đạo đức tối đa trong hiện tại người ta hoàn toàn có thể chuyển nghiệp quá khứ, hạn chế nghiệp quá khứ, thậm chí có thể xóa bỏ nó chuyển thành nghiệp thiện, nghiệp lành.

Cũng như một người, do nghiệp nhân tạo ra trong đời quá khứ, phải sanh ra với một thân thể gầy yếu, thế nhưng, người đó với một cố gắng liên tục và tối đa rèn luyện thân thể, hoàn toàn có thể trở thành khỏe mạnh, thậm chí trở thành một lực sĩ hay võ sĩ.

Đạo Phật bao giờ cũng khẳng định khả năng của con người là vô tận, nếu con nguời có ý chí phấn đấu, bản thân mình cũng như hoàn cảnh mình đều có thể cải tạo được theo hướng tiến bộ, nếu người thật sự muốn và cố gắng.

Có thể nói, sự hiểu biết đúng đắn thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật sẽ tạo cho mỗi người một ý thức trách nhiệm rất cao đối với cá nhân mình và xã hội.

Bởi vì, căn cứ theo quy luật Nhân quả Nghiệp báo của đạo Phật, tất cả mọi hành động lời nói cho đến mỗi ý nghĩ của chúng ta, đều tác động đến bản thân chúng ta trong hiện tại và tương lai, đồng thời cũng tác động đến xã hội, tạo ra cái mà đạo Phật gọi là biệt nghiệp, đối với mỗi cá nhân và tạo ra cộng nghiệp đối với cộng đồng và xã hội.

Nói cộng đồng ở đây là các cộng đồng nhỏ và lớn, trong đó mỗi con người chúng ta sống và hoạt động như gia đình, tập thể cơ quan, ngành nghề và quốc gia xã hội.

Sống có ý thức, với đầy đủ trách nhiệm của mình tức là nhận chân thật rõ, không chút mơ màng là mỗi việc làm, mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ của chúng ta đều có tác động ít hay nhiều đến bản thân mình đã đành (biệt nghiệp), mà còn đến người khác nữa, đến môi trường sống chung quanh chúng ta (cộng nghiệp).

Cương vị càng cao, quyền lực càng lớn, thì tầm cỡ ảnh hưởng của mỗi việc làm chúng ta cũng rộng lớn theo, chứ không chỉ hạn chế trong phạm vi gia đình, bạn bè thân thuộc.

Bốn là: Những nguyên lý đạo đức Phật giáo có ý nghĩa thực tiễn, sống động.

Mỗi người phải biểu hiện thường xuyên bằng những hành động đạo đức, lời nói đạo đức cho tới ý nghĩ đạo đức, trước hết là của tất cả Tăng, Ni, Phật tử. Nhờ vậy, chúng ta tỏa sáng cho đời để cuộc đời sáng đẹp hơn lên.

Như thế, đạo Phật có mặt trong đời sống không chỉ diễn bày qua chùa chiền, tượng Phật, kinh sách, các nghi lễ cầu an, mà trước hết là bằng nếp sống đạo đức của Tăng, Ni, Phật tử, bằng những quan hệ ứng xử mẫu mực của mọi người với nhau trong xã hội.

Khi mỗi người đã nhận chân ra đặc trưng của đạo đức Phật giáo là gì, thì chắc chắn rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với bất cứ ai thực hành theo nếp sống này.

3. Tóm lại: Đạo đức Phật giáo là một thành tựu văn hoá, văn minh chung của nhân loại. So với những truyền thống đạo đức khác (như Nho giáo, Đạo thiên chúa, Đạo Hồi…) thì đạo đức Phật giáo có nhiều điểm riêng biệt, độc đáo.

Nghiên cứu đạo đức Phật giáo và tìm cách khai thác những hạt nhân hợp lý trong đó, kết hợp với các truyền thống đạo đức khác sẽ giúp ta xây dựng một xã hội tốt đẹp, hạnh phúc hơn trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

[01] – Hoàng Tâm Xuyên (Chủ biên): Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
[02] – Tâm Thiện: “Tôn giáo và giá trị đích thực” trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, (Chương trình Phật học hàm thụ, Tập 2), Nxb Hồng Đức, 2013.
[03] – Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, 1999.
[04] – Thích Chân Quang: Tâm lý đạo đức, (Quyển số 1, Tái bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung), Nxb Tôn giáo, 2006.
[05] – Damien Keown: Đạo đức học Phật giáo, Nxb Tri thức, 2013.
[06] – Minh Hạnh Đức: “Đạo đức Phật giáo”, in trong Đạo Phật ngày nay, Tập 46 (10-2014), Nxb Phương Đông.
[07] – Thu Giang Nguyễn Duy Cần: Phật học tinh hoa (Tái bản lần thứ nhất), Nxb Trẻ, 2014.
[08] – Nguyễn Duy Hinh: Một số bài viết về Tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội, 2007.

TS Bùi Hồng Vạn
Trường Đại học Thương mại (TMU)