Category Archive : ĐẠO HỌC

Chuyện về viên kim cương “Hy vọng” (Hope)

Trên thế giới có rất nhiều câu chuyện li kỳ, khó tin và theo góc nhìn khoa học thì vẫn là “ẩn số” cần giải đáp trong tương lai…

Bài này kể câu chuyện liên quan đến viên kim cương nổi tiếng trong lịch sử nhân loại, đó là viên kim cương Hope (Hy vọng), được lưu giữ trong Viện Bảo tàng Smithsonian tại Washington D.C. Viên kim cương này rất lớn được gắn vào trán một vị thần trong ngôi đền của Ấn Độ thời cổ.

Trong thời gian nội chiến, một vị chỉ huy nhóm loạn quân đã gỡ viên kim cương trên xuống đem bán. Vài hôm sau, ông ta bị cái chết bất ngờ. Viên kim cương được một lái buôn trang sức người Pháp (Jean Tavernier) bí mật đem về châu Âu. Tavernier bán nó cho triều đình Pháp để gắn lên vương miện của vua Louis thứ 14. Viên kim cương được gọi là viên ngọc xanh của nước Pháp (Le Bleu de France).

Sau khi bán viên kim cương được ít lâu, Jean Tavernier tự nhiên hộc máu chết trong xưởng làm trang sức của ông ta tại Paris. Còn vua Louis sau khi đội vương miện trong lễ đăng quang cũng bị bệnh, da thịt ung thối và sau chết vì nhiễm độc. Những đứa con của vua cũng chết thê thảm – người thì chết đuối, kẻ chết cháy, người khác chết vì ngã ngựa lúc đi săn; chỉ còn lại một đứa con sống sót!

Vương miện được trao lại vua Louis thứ 16. Ông này cho tháo viên kim cương ra làm vòng đeo cổ nữ hoàng Marie Antoinette. Chỉ vài năm sau, cả hai người đều bị chết thê thảm trên máy chém trong cuộc cách mạng Pháp năm 1792…

Về sau, viên kim cương được mang sang nước Anh và lọt vào tay một thợ kim hoàn nổi tiếng là Wilhelm Fals. Wilhelm Fals đã cắt viên kim cương thành bốn viên nhỏ hơn để dễ bán. Chỉ ít lâu sau, Wilhelm Fals bị chính con trai mình giết chết để cướp gia tài. Rồi chính người con trai bị kết án, sau đó chết trong ngục.

Một thời gian dài, không thấy người ta nhắc đến 4 viên kim cương này nữa. Và… theo sử liệu của những thợ kim hoàn thì về sau, chàng triệu phú trẻ Hoa Kỳ là Somerset đã mua được 1 trong 4 viên kim cương “Hope” làm quà tặng vợ mới cưới của anh ta. Viên kim cương đó được mệnh danh là “Trái tim của Đại dương”. Hai vợ chồng đi hưởng tuần trăng mật trên chiếc tàu định mệnh Tianic và cái kết thì nhiều người đã biết.

Viên kim cương thứ hai rơi vào tay Nga Hoàng Nicholas và được chế tác thành vòng đeo cổ hoàng hậu Alexandria. Rồi chuyện gì xẩy ra cho gia đình Nga Hoàng trong cuộc cách mạng Bolshevik năm 1917 thì mọi người cũng đã rõ.

Viên kim cương thứ ba rơi vào tay triệu phú Hy Lạp Simon Maoncharides. Chỉ ít lâu sau khi mua nó, ông này lái xe rơi xuống vực chết thê thảm… Còn viên thứ tư, lớn và đẹp nhất được bán ở Thụy Sỹ; nhưng giá của nó quá lớn, nên không ai mua nổi.

Nhiều năm sau, con gái triệu phú McLean là Evalyn McLean được hưởng gia tài của cha để lại đã mua. Cô thường đeo nó trong các buổi dạ hội của giới điện ảnh, được báo chí khen là người có món nữ trang đẹp nhất… Nhưng, về sau vì sống trụy lạc, tiêu pha phung phí nên Evalyn nợ nần rất nhiều. Để trang trai nợ nần, cô phải bán viên kim cương cho chủ ngân hàng Thomas Hope.

Từ khi sở hữu viên kim cương, gia đình ông này gặp nhiều chuyện rắc rối. Vợ chồng li dị, con cái bất hòa, tranh chấp kiện tụng tranh giành tài sản xẩy ra. Gia tài tỷ phú Hope cuối cùng khánh kiệt tài sản… Từ đó viên kim cương được biết đến như là một tai ương cho những ai sở hữu nó. Cháu ông bèn đem viên kim cương tặng cho viện bảo tàng Smithsonian do không một ai dám giữ hay sở hữu nó nữa!

(P/s: Không ai giải thích được những chuyện kiểu này. Có lẽ chỉ những bậc hiền triết (do thấu hiểu “Đạo Trời” ) mới trả lời nổi. Vậy nên, trước những “vật linh”, chúng ta – những “phàm phu” muốn an toàn, tốt nhất là nên tránh xa…).

Hà Nội, ngày 29/07/2020

Bùi Tâm Văn

LUẬT “NHÂN QUẢ”

Nói đến “Luật nhân quả” có nhiều người biết, nhiều người cảm nhận được, nhưng cũng không ít người không quan tâm. Những người không biết đến luật này Đạo Phật gọi họ là vô minh!

“Nhân quả” (Karma) là định luật được nhắc đến trong hầu hết giáo lý của các tôn giáo lớn. Nếu duy danh định nghĩa hay chiết tự mà nói thì “nhân” chính là hạt giống, là nguyên nhân; còn “quả” chính là “trái”, là kết quả.

Luật nhân quả cho rằng nhân luôn luôn sinh ra quả, nhân nào tạo ra quả ấy! Nhiều người cho rằng Nhân quả là giáo lý của Đạo Phật, nhưng thật ra đây là chân lý, quy luật của vũ trụ mà hầu như tôn giáo nào cũng có nhắc đến. Đức Phật nói: “Gieo nhân nào, gặt quả đó”; Đức Krishna của Ấn giáo bảo: “Trồng đậu được ăn đậu, trồng khoai được ăn khoai. Muốn ăn đậu chớ trồng khoai”. Đấng Cứu Thế cũng nói: “Kẻ nào sử dụng gươm giáo sẽ chết về gươm giáo”…

Ngày nay khoa học đã chứng minh mỗi một động lực gây ra đều tạo một phản lực tương đồng ngược chiều, động lực và phản lực không bao giờ tách rời nhau. Trong tiếng Ấn, từ Karma có nghĩa là hành động nhưng cũng bao hàm ý nghĩa phản động, vì hành động và phản động luôn gắn với nhau.

“Nhân quả” là luật của vũ trụ nên mang tính bất di, bất dịch (ổn định) chứ không giống như luật pháp do con người đặt ra, thường có sự thay đổi theo thời gian, không gian.

Luật Nhân quả công bằng tuyệt đối, nó không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, vua chúa hay thứ dân… Trong khi xử theo luật do con người đặt ra thì có thể người hiền lương bị oan ức; còn kẻ bất lương lại nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật… Vì lẽ đó, nhiều người không chấp nhận luật Nhân quả, do họ chưa nắm được quy tắc của loại luật này. Từ hành động đến phản động (hay từ nhân sang quả) không hẳn xẩy ra ngay tức khắc. Một nhân đã gieo trong quá khứ có thể sinh quả ở hiện tại hay tương lai, tùy theo sự sắp đặt màu nhiệm của các yếu tố khác và biểu hiện ở các dạng thức sau:

  • Hiện báo: Gây nhân sẽ chịu hậu quả ngay trong kiếp hiện tại.
  • Sinh báo: Tuy gây nhân nhưng quả chưa chín mà sẽ xẩy ra trong kiếp sau.
  • Hậu báo: Quả xẩy ra vì nguyên nhân đã gây ra từ trước.

Vì vậy mà kẻ xấu ác đôi khi được hưởng điều tốt lành trong hiện tại (do nhân tốt tạo tác từ trước đó). Tương tự, người hiền lành có khi bị tai ách, khổ đau vì nhân xấu đã gây ra từ quá khứ…

Do “vô minh” (thiếu khả năng nhận thức, suy xét đúng đắn) nên nhiều người vội kết luận vũ trụ chẳng có trật tự, công bằng gì cả, mà chỉ có sự tranh giành, mạnh được yếu thua. Những người này thường sống buông thả, bừa bãi, phóng túng, tham lam, ích kỷ và gây nên nhiều đau khổ cho người khác. Sớm muộn họ cũng phải gánh chịu hậu quả do mình gây ra theo luật “Nhân quả”…

Hà Nội, ngày 22/07/2020

Bùi Tâm Văn

“BÕM!”…

Có những tác phẩm thi ca vĩ đại, nhưng không có tác phẩm nào quan trọng bằng những bài thơ “haiku” (loại thơ độc đáo của Nhật Bản, mỗi bài chỉ có 17 âm tiết)…

Khi nghe/đọc haiku, bạn phải mường tượng ra nó. Nó nhỏ bé đến nỗi vấn đề không phải là hiểu, mà phải bước vào trong nó. Chẳng hạn mấy câu haiku của Basho sau đây:

Cái ao xưa cũ

Con ếch nhảy vào

Bõm!

Bài haiku nói đến cái ao xưa cũ, cây cối xưa cũ, những hòn đá xưa cũ, mọi thứ đều xưa cũ. Rồi một con ếch nhảy vào. Khoảnh khắc tĩnh lặng bị quấy động bởi tiếng “Bõm!”

Basho thật sự muốn nói gì?

Ông ấy muốn nói: Thế giới xưa cũ này… và sự tồn tại của bạn chỉ là một tiếng “Bõm!” – một âm thanh ngắn ngủi trong tĩnh lặng. Rồi bạn “ra đi”, sự tĩnh lặng sâu thêm…

Basho làm cho toàn thế giới trở thành phù du, mộng tưởng, chẳng có gì là vững chãi, trường tồn cả. Chỉ có tĩnh lặng ngập tràn. Sự tĩnh lặng ngập tràn chính là bản thể của BẠN. NÓ CŨNG CHÍNH LÀ BẢN THỂ CỦA TOÀN BỘ VŨ TRỤ! (Osho)…

TÔI LÀ AI? CHỈ LÀ MỘT TIẾNG “BÕM!”

Hà Nội, ngày 15/07/2020

Bùi Tâm Văn

Bồ-Đề-Đạt-Ma (Chút xíu lịch sử “Thiền”)

Nói đến Bồ Đề Đạt Ma thì ít người biết. Nhưng nếu tìm hiểu, nghiên cứu về Phật giáo Đại thừa, đặc biệt là Thiền thì Bồ Đề Đạt Ma là nhân vật quan trọng không thể không nhắc tới…

BỒ ĐỀ ĐẠT MA

Nếu xét theo phương diện truyền bá Thiền, Bồ Đề Đạt Ma đứng thứ hai sau Đức Phật. Osho xem Ngài là người mang Thiền tới Trung Hoa. Theo Osho Đức Phật là người tạo ra hạt giống Thiền, về sau được Bồ Đề Đạt Ma đem tới mảnh đất có thổ nhưỡng phù hợp để gieo trồng thành cây, nhiều cành lá sum suê. Nhưng tại đây, hạt giống thiền chưa nở hoa mà chỉ sang Nhật, Thiền mới nở hoa.

Bồ Đề Đạt Ma sinh ra cách nay 14 thế kỷ. Ngài là con trai thứ 3 của một vị vua ở miền Nam Ấn Độ. Toàn bộ mối quan tâm của Ngài là làm sao để biết bản chất của mình… Ngài đã tìm đến và trở thành đệ tử của Đức Phật. Mặc dù là đệ tử nhưng trong một số trường hợp Bồ Đề Đạt Ma còn thể hiện tầm bay cao hơn chính Đức Phật. Đức Phật e ngại việc điểm đạo cho phụ nữ để người đó gia nhập tăng đoàn thì Bồ Đề Đạt Ma lại được một phụ nữ (Prajnatara) chứng ngộ – điểm đạo. Chính bà đã yêu cầu ngài đến Trung Hoa truyền Đạo Phật.

Thời điểm Bồ Đề Đạt Ma từ bỏ gia đình và vương quốc Ngài đã nói với cha mình: “Nếu cha không thể cứu con thoát khỏi cái chết thì xin đừng ngăn cản con. Hãy để con bước vào con đường tìm kiếm điều vượt khỏi cái chết”. Vua cha trả lời: “Ta sẽ không ngăn cản con, bởi ta không thể ngăn cản cái chết của con. Con hãy tiếp tục con đường của mình với tất cả sự chúc phúc của ta” (Một vị vua vĩ đại! Với hành động này ông đã gián tiếp góp phần tìm ra chân lý cứu rỗi nhân loại).

Sau 9 năm đến Trung Hoa, Bồ Đề Đạt Ma thu phục được 5% dân số nước này theo Phật Giáo. Ngài chọn được 4 người xứng đáng làm đệ tử của mình, trong đó Huệ Khả là người đệ tử đầu tiên và cũng là đệ tử được Bồ Đề Đạt Ma chọn làm người truyền thừa chánh đạo.

Chuyện Huệ Khả trở thành “đệ tử ruột” của Bồ Đề Đạt Ma khá ly kì (và có phần khó tin)…

Tương truyền: sau khi Bồ Đề Đạt Ma giúp Lương Vũ Đế khai minh, hàng ngày Ngài ngồi Thiền trong tu viện Phật giáo. Khi hành Thiền Ngài ngồi quay mặt nhìn vào bức tường và không để ý đến xung quanh. Ngài tuyên bố với đại chúng: “Trừ khi có người xứng đáng làm đệ tử tới, còn không ta sẽ không nhìn vào người khác và xung quanh”.

Cứ thế, mỗi ngày mọi người đến ngồi sau lưng Ngài, còn Ngài chỉ ngồi im lặng nhìn bức tường trước mặt… Một ngày nọ, chàng thanh niên Huệ Khả xuất hiện. Anh ta dùng kiếm chặt đứt một cánh tay, ném ra trước mặt Ngài nói: “Đây mới là bắt đầu. Hoặc là thầy quay lại, hoặc đầu của tôi sẽ rơi xuống trước mặt thầy”. Bồ Đề Đạt Ma quay lại và nói: “Anh là người thật sự xứng đáng với ta. Không cần chặt đầu, chúng ta phải sử dụng nó”. Huệ Khả trở thành đệ tử đầu tiên của Ngài như vậy.

Về sau, Bồ Đề Đạt Ma còn thu nạp thêm ba đệ tử. Đến một ngày, Bồ Đề Đạt Ma gọi bốn đệ tử lại và nói với họ rằng: “Hãy nói ta nghe, cốt lõi giáo lý của ta là gì? Sáng sớm mai ta sẽ rời khỏi đây, ta muốn chọn một trong số các con để truyền thừa giáo lý của ta”.

Nghe thầy hỏi, bốn đệ tử lần lượt trả lời. Người đầu tiên nói: “Giáo huấn của thầy vượt khỏi tâm trí, tuyệt đối im lặng, rồi mọi thứ tự nó bắt đầu xẩy ra”. Nghe xong, Bồ Đề Đạt Ma bảo: “Con nói không sai, nhưng chưa làm ta thỏa mãn. Con có da của ta“. Người thứ hai nói: “Biết rằng ta không hiện hữu, chỉ có hiện hữu là giáo huấn nền tảng của thầy”. Bồ Đề Đạt Ma nói: “Tốt hơn một chút, nhưng chưa đạt chuẩn của ta. Con có xương của ta“. Người thứ ba nói: “Không thể nói gì về nó. Không lời nào có khả năng nói gì về nó”. Bồ Đề Đạt Ma bảo: “Tốt, nhưng con đã nói điều gì về nó rồi. Con đã mâu thuẫn với chính mình… Con có tủy của ta“. Đến lượt Huệ Khả, ông chỉ quỳ dưới chân Bồ Đề Đạt Ma mà không nói lời nào, nước mắt lăn dài trên má. Bồ Đề Đạt Ma nói: “Con đã nói ra nó rồi. Con sẽ là người truyền thừa của ta“…

Trong đêm đó, Bồ Đề Đạt Ma bị một đệ tử không được chọn truyền thừa đầu độc. Ngài chết, các đệ tử chôn cất Ngài trong mảnh đất của tu viện… Thật lạ lùng: ba năm sau, một vị quan bắt gặp ông chân trần rảo bước đi khỏi Trung Hoa hướng về dãy Himalaya. Tay Ngài cầm trượng, một chiếc dép treo trên cây trượng.

Vị quan hỏi Ngài: “Ý nghĩa của cây trượng này và một chiếc dép treo trên nó là gì?”. Bồ Đề Đạt Ma trả lời: “Ông sẽ biết sớm thôi. Nếu ông gặp người của ta thì hãy bảo họ rằng – ta sẽ đi vào dãy Himalaya mãi mãi”. Vị quan vội chạy đến tu viện nơi Bồ Đề Đạt Ma trước đây sống, hành thiền. Ông được mọi người cho biết Bồ Đề Đạt Ma bị đầu độc đã chết ba năm trước rồi… Viên quan kể lại chuyện gặp Bồ Đề Đạt Ma cho mọi người nghe. Các đệ tử của Bồ Đề Đạt Ma không kiềm chế được sự hiếu kỳ. Họ quyết định khai quật ngôi mộ chôn Ngài trước đây. Khi mở quan tài, họ kinh ngạc khi thấy bên trong chỉ có 1 chiếc dép…

Vị quan lúc đó hiểu ra – tại sao Bồ Đề Đạt Ma nói với mình: Ông sẽ biết sớm thôi…!!!

Hà Nội, ngày 8/07/2020

Bùi Tâm Văn

THÂN LÀ KHỔ

Cứ theo quan niệm/điểm của Đạo Phật, khổ do nhiều nguyên do tạo nên. Bài này nói đến “Thân” (xác/thể) cũng là nguyên nhân của khổ…

Một hôm, tại nơi Đức Phật đang giáo hóa có 4 vị tỳ kheo sơ phát tâm mới xuất gia tu hành, nhân lúc nhàn rỗi mới ngồi đàm đạo dưới một gốc cây lớn. Họ tranh cãi với nhau về chủ đề cái gì là đau khổ, hoạn nạn lớn nhất của đời người.

– Một tỳ kheo nói: Theo tôi, cái khổ nhất của con người không gì bằng sự đam mê sắc dục. Nếu không đoạn trừ được tâm dâm dục thì không cách nào vào đạo được.

– Vị thứ hai nói: Cái khổ lớn nhất là cái khổ thiếu ăn! Một khi gặp cơn đói khát, con người không làm được gì cả.

– Vị tỳ kheo thứ 3 nói: Theo tôi, lòng sân hận mới là hoạn nạn đáng sợ nhất của con người! “Nhất niệm tâm sân khởi, bát vạn chướng môn khai” (Một niệm tâm sân nổi lên là tám vạn cánh cửa chướng ngại mở ra) kia mà! Sân hận cũng là nguyên nhân khiến người ta phải chịu vô lượng tội phạt!

– Tỳ kheo cuối cùng nói: Theo tôi, sợ hãi mới là nỗi khổ lớn nhất của con người! Sống trong sợ hãi giây phút nào là giây phút đó không có chút yên ổn!

Bốn người đang tranh luận hăng say thì vừa lúc Đức Phật đi ngang qua. Đức Phật hỏi họ đang thảo luận vấn đề gì. Bốn người lần lượt nói cho Đức Phật nghe ý kiến của mình. Nghe xong, Đức Phật ôn tồn nói:

Là người tu hành mà có thể cùng nhau tụ họp để thảo luận về vấn đề tu học là điều đáng mừng. Nhưng nghe lý luận các ông vừa trình bày thì ý kiến đều có lý, nhưng chưa được rốt ráo.

Nay ta nói với các ông biết – cái khổ não, hoạn nạn lớn nhất của con người là cái thân ngũ uẩn giả hợp này. Thân là căn bản cho tất cả mọi ưu khổ tạo thành.

Ta hay gọi thân là “khổ khí”. Đói, khát, nóng lạnh, phiền não, sợ hãi, những tai họa do sắc dục gây ra, tất cả là do thân thể cảm thọ. Lao tâm cực trí, lo sợ trăm mối và chúng sinh tàn hại lẫn nhau, cho đến sự trầm luân trong 6 nẻo, không gừng lăn lộn trong sinh tử, cũng đều do có thân mà ra cả…

Muốn thoát ra khỏi cái khổ của thế gian này, thì phải tìm cầu sự tịch diệt, tức là sự thoát khổ chân chính. Nhiếp phục được tâm tham dục, dập tắt được ngọn lửa sân hận, đối với ngoại cảnh hư huyễn thì dùng thái độ không mong cầu, cứ thế dần dần cảnh tịch diệt sẽ hiện ra trước mắt…

Bốn tỳ kheo nghe Đức Phật khai thị xong, phát tâm tàm quý, tinh tiến dũng mãnh gia công tu hành và sau đó chứng được thánh quả rất mau chóng!

Hà Nội, 30/05/2020

Giấc mơ của chàng thư sinh

Có một chàng thư sinh đi thi. Anh đã luyện mài kinh sử 10 năm và có biết bao mơ ước trong 10 năm đèn sách. Nhưng trong kỳ thi năm đó, anh thi hỏng, tất cả hy vọng cũng tan.

Trên đường về, lòng anh tràn ngập bởi nỗi tuyệt vọng. Đói, mệt mỏi, anh đi qua một sườn núi và thấy một ông Đạo đang ngồi nấu một nồi cháo. Khi nhìn thấy anh, ông Đạo hỏi: – Anh đi đâu mà có vẻ thiểu não như vậy? Anh chàng thư sinh nói: – Chán quá thầy ơi! Chắc tôi chết mất. Bao nhiêu hy vọng tan thành mây khói hết. Mười năm đèn sách, kinh sử, bây giờ không còn gì nữa. Còn mặt mũi nào để về nhà đây…

– Anh thi hỏng à? Ông Đạo hỏi. – Vâng!

– Thôi anh nghỉ ngơi chút cho khỏe rồi đi. Anh nằm gối đầu lên gốc cây này, ngủ một giấc cho khỏe. Tôi đang nấu cháo kê. Khi chín, tôi sẽ đánh thức anh dậy ăn cháo rồi tiếp tục cuộc hành trình…

Nghe lời ông Đạo, chàng thư sinh nằm xuống, gối đầu lên gốc cây và ngủ thiếp đi. Anh mơ thấy mình thi đậu, được vua gả cho công chúa xinh đẹp. Anh được làm quan to, hạnh phúc tràn trể, danh vọng, địa vị… đủ hết. Về sau đất nước có giặc xâm lấn bờ cõi, vua cử anh đi chặn giặc. Nhưng thế giặc mạnh, anh không ngăn được, để giặc tràn qua biên giới. Vua ra lệnh chém đầu anh. Khi đao phủ chuẩn bị hành quyết thì anh bừng tỉnh dậy… Hú hồn!

Trong văn học cổ Trung Hoa, chuyện này có tên là “Giấc kê vàng” (hay “Mộng hoàng lương”). Mới hay, trong cuộc sinh tồn và phát triển, con người luôn tạo ra những câu chuyện, được xem như liều thuốc bổ tinh thần để tự chữa trị cho mình trong những hoàn cảnh bất như ý… Tất nhiên, đây chỉ là một trong những cách lý giải bình thường của cá nhân tôi về chuyện này. Bên cạnh còn có cách lý giải khác – cao siêu, mang tinh thần triết học (Phật giáo). Nếu bạn muốn biết về cách lý giải này, xin đọc các trang 55-58 trong cuốn sách hay – “Đập vỡ vỏ hồ đào” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh (xuất bản năm 2014)]…

Hà Nội, ngày 26/03/2020

Bùi Tâm Văn

Lòng bao dung của Cụ Hồ

Cụ Hồ là một nhân vật lịch sử trở thành huyền thoại ngay khi còn sống. Một trong những nét tính cách tạo nên người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất là tấm lòng bao dung rộng lớn. Bài viết của nhà nghiên cứu Trần Đương sẽ giúp chúng ta hiểu biết thêm về lòng bao dung của Cụ Hồ Chí Minh:

Ngay từ thuở nhỏ, sống và lớn lên trong tình cảm của cha mẹ, người thân, bà con họ hàng ở quê hương, Bác Hồ của chúng ta – tức cậu Công lúc còn bé và Nguyễn Tất Thành khi là chàng trai – đã giàu lòng nhân ái, bao dung. “Thương người như thể thương thân”, câu ca ấy thấm sâu trong tâm hồn Bác.

Từ trong cảnh ngộ của người dân mất nước, thực dân phong kiến chà đạp, Bác thương yêu đồng bào và quyết tìm đường cứu nước, cứu dân. Tấm lòng bao dung của Người là kết quả của sự nhận thức từ những tư tưởng, tinh hoa của văn hóa dân tộc – Thiện, Nhân, Tâm, Đức, Trí của các nhà triết học tiền bối, như Lão Tử (“Vì nhân từ nên mới mạnh”), Cervantes (“Khoan hồng còn chói sáng hơn công lý”)…

Sự bao dung ấy của Người thể hiện trong ứng xử hằng ngày, ở chính sách của Nhà nước. Không có lòng bao dung cao cả, không thể có đường lối “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”. Người thường nói: “Quan san muôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em”, cũng là xuất phát từ tư tưởng “Tứ hải giai huynh đệ”.

Nhờ có “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” mà “thành công, thành công, đại thành công”. Không chỉ đoàn kết với những người cùng chí hướng, cùng hoàn cảnh, mà cả với người hôm qua còn lầm lạc, với kẻ thù khi đã hạ súng đầu hàng.

Năm 1946, trước giờ lên đường sang Pháp, Bác Hồ còn viết thư cho đồng bào Nam Bộ khuyên “đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi”. Người viết: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu con người cũng có người thế này, thế khác, đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”.

Chính tư tưởng “đại đoàn kết” này là một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Thám Tám 1945, của các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc. Bác Hồ đã trân trọng cầu hiền tài và rất nhiều trí thức nhân sĩ cũ, kể cả các vị từng là quan lại phong kiến, đã theo Bác đi kháng chiến đến thành công.

Với sĩ quan tù binh Pháp, Người trao chiếc áo mặc khỏi lạnh. Với binh lính địch khi nhận ra lẽ phải chạy sang hàng ngũ cách mạng, Người gọi là “bạn”, là “cháu”, là “con”. Cho nên, không ít người thuộc phía bên kia cũng gọi Người là “Bác Hồ”, “Cha Hồ”.

Với những thanh niên còn nhiều khuyết điểm, Bác không gọi là “lạc hậu” mà dùng chữ “chậm tiến”. Người luôn khích lệ mọi người tiến về phía trước, làm nhiều việc tốt, việc hay. Trước khi đi xa, Người còn gửi lại “muôn vàn tình thân yêu” trong bản Di chúc thiêng liêng.

(Trần Đương: “Sáng mãi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Nxb. Thanh niên, 2009)

Hà Nội, ngày 18/03/2020

Bùi Tâm Văn

Đạo Phật dạy cách Đền ơn!

Trong cuộc đời mỗi chúng ta đều chịu ơn rất nhiều người, nào là cha mẹ sinh thành dưỡng dục, nào là thầy cô dạy dỗ, nào là người thân, bạn bè… giúp đỡ. Nhưng hầu như không ai trong chúng ta có thể báo đáp lại được tất cả những người mà mình đã chịu ơn. Vì thế mà tâm không tránh khỏi áy náy, buồn khổ…

Ở tập 3 bộ sách Tâm lý Đạo đức của Thầy Thích Chân Quang có mục “21. Biết ơn” luận bàn rất thấu tình, đạt lý về chủ đề này. Thầy Quang đã chỉ cho chúng ta cách đền ơn, đáp nghĩa đúng đắn để tâm mình luôn được bình yên, hạnh phúc:

Sự thật, trong cuộc sống không phải lúc nào chúng ta cũng có thể trực tiếp đền ơn người mà mình chịu ơn được. Chẳng hạn, khi đã lớn, thấu hiểu công ơn cha mẹ, chúng ta muốn đền đáp công ơn to lớn ấy nhưng cha mẹ lại không còn nữa…

Hoặc một lần nào đó trong đời, chúng ta rơi vào tình cảnh éo le, giữa đường vì trộm vét sạch túi. Lúc bấy giờ một người tốt bụng đã cho chúng ta tiền xe để trở về nhà. Chỉ gặp nhau trong chốc lát giữa đường luân hồi vô tận này rồi biến mất, biết bao giờ chúng ta tìm lại được họ để đền ơn?

Một cư sĩ kể rằng, có một lần khi đi xa trở về, trong túi anh ta không còn một đồng nào, bụng đói cồn cào, lại phải cuốc bộ trên con đường dài giữa trưa nắng. Khi trông thấy một ngôi chùa, anh bèn ghé vào xin cơm ăn.

Nghe anh nói rất thành thật về tình cảnh của mình, sư cô ân cần mời anh ăn cơm, sau đó còn cho anh tiền xe để về nhà nữa. Ân nghĩa đó suốt đời anh không quên…

Mỗi khi nghĩ đến chuyện đó, lòng anh cứ canh cánh mong có ngày tìm lại chốn cũ để đền ơn. Nhưng do bận sinh kế, vợ con hàng ngày, anh chưa có điều kiện trở lại…

Khi tâm sự điều này với Sư Thầy ở ngôi chùa gần nhà, anh được ông khuyên đừng bận tâm nghĩ đến chuyện đó nữa, mà anh có thể giúp đỡ bất cứ người nào xung quanh mình bằng tình thương yêu như sư cô đối với anh là được. Làm như vậy là đã đền ơn sư cô và ngôi chùa trước đây giúp anh rồi.

Lời khuyên của Sư Thầy giúp anh hiểu ra Đạo lý “đền ơn, đáp nghĩa”. Từ đó anh nguyện đối xử tốt với mọi người trong cuộc sống…

Hà Nội, ngày 01-03-2020

Bùi Tâm Văn

Tên cướp xin quy y cửa Phật

Trong Phật giáo có câu chuyện kể về một Thiền sư đang tụng kinh thì một tên cướp xông vào. Hắn dí dao vào cổ bảo ông đưa cho hắn tiền. Thiền sư vẫn ngồi tụng kinh và chỉ cho tên cướp tiền để trong tủ.

Tên cướp lấy được tiền liền quay đi, lúc đó ông mới ngừng tụng kinh và nói với hắn: “Nhận tiền xong phải cảm ơn”. Hắn nói: “Cảm ơn” rồi đi. Thiền sư tiếp tục tụng kinh như không có chuyện gì xẩy ra.

Tên cướp tiếp tục đi cướp tiền của người khác và bị cảnh sát bắt. Hắn hối hận và khai ra các vụ cướp hắn đã thực hiện, trong đó có vụ cướp tiền của Thiền sư.

Cảnh sát giải tên cướp đến chùa và hỏi Thiền sư: “Có phải tên này đã vào chùa dí dao vào cổ và cướp tiền của ngài không?”. Thiền sư trả lời: “Không, tôi cho và nó có cảm ơn”. Nhờ câu ấy của Thiền sư mà tên cướp được giảm án…

Mãn hạn tù, hắn đến chùa gặp Thiền sư xin được xuất gia vào chùa tu. Từ đó hắn trở thành đệ tử của vị Thiền sư ấy… (Vậy là, Đạo Từ Bi của Phật đã cứu độ được một chúng sinh lầm lỗi).

Tản mạn về “Tu thân”

  • “Tu thân” là một trong “bát mục” của Nho giáo (Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Theo thiển ý của tôi, tu thân “nặng đồng cân” nhất trong bát mục. Có thể xem nó như mấu chốt của lí thuyết chính trị – xã hội thuộc học phái Nho gia xưa.
  • Về cơ bản, “tu thân” có nghĩa là “tu dưỡng thân tâm”. Khổng Dĩnh Đạt (đời Đường) khi viết sớ có bàn đến hai chữ tu thân: “Sở dĩ không xa mà nhanh chóng trở lại, là để tu thân vậy, có sai thì có sửa”. Điểm này, xét về thực chất có sự trùng khớp với quan niệm của Khổng Tử về “tu kỉ” (nghĩa là “tu thân”) (Luận Ngữ).
  • Mạnh Tử, trong sách Tận tâm hạ viết: “Quân tử chi thủ, tu kì thân nhi thiên hạ bình” (Điều người quân tử giữ là sửa thân mình mà thiên hạ được bình trị). Như vậy, Mạnh Tử cũng coi tu thân là cơ sở của tu dưỡng đạo đức.
  • Sau cuộc cách mạng Tân Hợi (2011), Chính phủ Bắc Dương (Trung Quốc) đề xướng tôn “Khổng độc kinh”, nêu chủ trương “Quốc dân giáo dục dĩ Khổng Tử chi đạo vi thân đại bản” (Nền giáo dục quốc dân lấy đạo của Khổng Tử làm gốc lớn để tu thân). Trước năm 1922, các trường trung, tiểu học của Trung Quốc đều có môn học “Tu thân”.
  • Như thế, từ thời thượng cổ việc tu thân đã xuất hiện và từng bước được hoàn thiện trong truyền thống văn hóa Trung Hoa. Có thể xem đây là một trong những công cụ giúp kiểm soát phần CON để phần NGƯỜI tăng trưởng, tạo nên cuộc sống NGƯỜI ngày càng văn minh, hạnh phúc hơn.
  • Ở Việt Nam, dưới thời phong kiến, có rất nhiều người học và hành đạo Nho. Những nhà Nho chân chính tạo thành tầng lớp tinh hoa trong xã hội. Những người này luôn đề cao việc tu thân dưỡng tính để tạo cái gốc căn bản từ đó “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
  • Một trong những người Việt tiêu biểu biết phát huy, phát triển tinh hoa của “tu thân” trong thời hiện đại là cụ Hồ Chí Minh. Cuộc đời Cụ là một tấm gương sáng về đạo đức. Cả “79 mùa Xuân” cụ đã dành để đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho đồng bào.
  • Theo cố GS. Trần Văn Giàu, ở cụ Hồ có hẳn một môn học về đạo đức (Đạo đức học Hồ Chí Minh). Trong đó, cụ đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của đạo đức mới – đạo đức cách mạng. Ngay trong những trang viết đầu tiên của tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Cụ Hồ nêu 23 điều gọi là “Tư cách của người cách mệnh”, đồng thời Cụ cũng giải thích rõ vì sao làm cách mạng phải có đạo đức…
  • Cụ khuyên những cán bộ, đảng viên những điều chí lý, chí tình trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách. Theo Cụ thì việc rèn luyện nhân cách, đạo đức không thể nói suông ở đầu lưỡi, mà phải thực hiện mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh với nỗ lực lớn, liên tục, không mệt mỏi…
  • Trong tập “Nhật ký trong tù” có bài thơ Cụ Hồ nói rất hay về tu dưỡng đạo đức phải trải qua gian khổ mới có kết quả tốt đẹp: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;/ Sống ở trên đời người cũng vậy,/ Gian nan rèn luyện mới thành công” (“Nghe tiếng giã gạo”).
  • Tôi nghiệm thấy những lời dạy của cụ Hồ rất chí lý. Những ai học và làm theo đều được thành tựu ít nhiều trong cuộc sống. Ngược lại những người không học, không hành theo lời cụ thì hầu như đều nhận kết cục không mấy tốt đẹp… “Tu thân” chính là một Đạo lý lớn, ai muốn thành công trong cuộc sống, trong sự nghiệp thì nên học và hành theo đạo lý này…

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Trọng Sâm (Biên dịch, 2010): Tứ thư, Nxb. Văn học.

[2] Sào Nam Phan Bội Châu (1998): Khổng học đăng, Nxb. Văn hóa thông tin.

[3] Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, tập 3 (1030 – 1945), Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

Hà nội, chiều thứ 7 (22-02-2020)

Bùi Tâm Văn

Hạnh Nhẫn nhục

Nhẫn nhục là một trong những phẩm chất đạo đức mà con người cần học hỏi, rèn luyện để có được. Bởi lợi ích của nó là vô cùng to lớn… Phật giáo rất coi trọng việc giáo dục đạo đức, trong đó “hạnh nhẫn nhục” nhận được nhiều sự quan tâm. Câu chuyện sau đây là một minh chứng giáo dục cho “hạnh nhẫn nhục”:

Một thằng bé trông to con đang đi trên đường, chợt thấy cái ví của ai đó đánh rơi. Nó vừa nhặt lên xem thì một thằng bé khác (nhỏ hơn) ở đâu chạy đến đòi chia đôi số tiền trong ví. Thằng lớn không chịu vì nó muốn trả lại ví cho người đánh mất.

Đang dùng dằng tranh cãi thì một người đàn ông đi tới hỏi hai đứa có nhặt được một cái ví không. Thằng lớn nói có và vui vẻ trả lại chiếc ví cho ông ta. Người đàn ông mừng quá, sau khi xem ví không thấy mất gì liền lấy ra tờ 50 ngàn để “hậu tạ” hai đứa. Thằng lớn dứt khoát không nhận tiền…

Khi người đàn ông đi khỏi thì thằng nhỏ hơn nói với thằng lớn:

Mày đưa tao 25 ngàn.

Tiền gì? thằng lớn hỏi lại.

Vì tao với mày cùng nhặt được ví, ông ta cho 50 ngàn thì phải chia đôi.

Lúc nãy mày thấy tao trả lại hết cho ông ta rồi mà.

Tao không biết, ông ta cho 50 ngàn tức mày 25, tao 25 còn trả lại là việc riêng của mày.

Hai đứa cứ cãi cọ nhau qua lại như vậy. Vì không nhận được tiền thằng bé xông vào đánh thằng lớn. Thằng lớn bỏ chạy… Có người thấy thế hỏi: Mày lớn hơn, không đánh lại được nó hay sao mà bỏ chạy? Thằng lớn trả lời: Đâu có, nếu cháu đánh lại là nó chết, nên cháu chạy để không phải đánh nhau với nó…

Đó chính là “hạnh nhẫn nhục” mà Đạo Phật thường truyền dạy cho các Phật tử và chúng sinh…

Hà Nội, ngày 16-02-2020

Bùi Tâm Văn

Chuyện “Tỳ kheo và con ngỗng”

Có vị Tỳ Kheo đi khất thực vào buổi sáng. Khi đến một gia đình giàu có, ông được chủ nhà cung kính đem vật thực ra cho vào bát.. Trong lúc xới vào bát, chiếc nhẫn của bà chủ nhà do lỏng quá nên bị rớt xuống đất, nhưng bà không biết.

Vị Tỳ Kheo biết nhưng nghĩ mình sẽ nói cho chủ nhà biết sau. Vốn ít nói, lại giữ oai nghi khi đi khất thực, nên ông không vội nói. Không ngờ, lúc đó có một con ngỗng từ đâu chạy tới nuốt mất chiếc nhẫn. Ông không biết làm thế nào!

Khi chủ vào nhà, ông vẫn còn đứng đó. Chủ nhà rất ngạc nhiên, lúc đó bà nhận ra mình mất chiếc nhẫn. Bà vội chạy ra hỏi: “Thưa thầy, thầy có thấy chiếc nhẫn của con không?”. Vị Tỳ Kheo im lặng không trả lời. Vì ông sợ nói thật thì con ngỗng sẽ bị giết. Ông lại là người chân thật, không nói dối bao giờ.

Ông không biết giải quyết sự tình thế nào. Bà chủ nhà tiếp tục hỏi: “Thầy có thấy không, chiếc nhẫn của con mới rơi ở đây thôi”. Dù bị nghi là mình lấy nhẫn, ông vẫn im lặng. Chủ nhà giận dữ túm áo ông nói: “Thầy lấy chứ còn ai. Nãy giờ chỉ có thầy với tôi”. Bà chủ vừa nặng lời vừa đánh vị Tỳ Kheo. Có lẽ nghiệp của ông vừa hết nên con ngỗng tự nhiên vật vã rồi lăn ra chết. Lúc đó ông mới thều thào nói: “Tôi thấy con ngỗng nó nuốt…”. Bà chủ nhà hoảng hốt kêu lên: “Trời ơi! Sao thầy không nói sớm”. Tỳ Kheo trả lời: “Nói, cô giết con ngỗng thì sao?”

[P/s: Trong cuộc đời, nhiều khi chúng ta cũng rơi vào những tình huống tương tự. Chúng ta bị người khác hiểu lầm, hiểu sai mà vẫn phải chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi để không nói dối… Cần phải tin rằng chính sự chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi này sẽ làm cho phước đức của chúng ta tăng lên bội phần. Vì nhân quả và phước báo không tự nhiên mà có. Con người phải trải qua những thử thách, gian nan khổ cực, cay đắng… trong cuộc đời mới có được].

Hà Nội, ngày 13/02/2020

Bùi Tâm Văn

Ông già Chồn (chuyện Phật giáo)

Có một ông già hay vào nghe ngài Bá Trượng giảng pháp. Một lần sau khi nghe giảng xong, ông già vẫn không chịu đi. Ngài Bá Trượng nghĩ đây là một người không bình thường, bèn hỏi: “Ông là ai?”. Ông già trả lời: “Bạch Hòa Thượng, con không phải là người. Con là con chồn sau núi. Năm trăm đời trước, đời Đức Phật Ca Diếp, con là một vị Tăng tu hành. Một hôm, có người hỏi con: Người đã đắc đạo có bị luật Nhân Quả chi phối hay không? Con trả lời: Không. Thế là từ đó con bị đọa làm thân chồn 500 kiếp mà không biết mình phạm lỗi gì! Nay con mong Hòa thượng cho con một lời giải thích để con hiểu ra sự thật mà thoát được thân chồn này”.

Ngài Bá Trượng nói: “Ông hỏi lại ta đi”. Ông già trịnh trọng hỏi lại: “Bạch Hòa thượng, người đắc đạo có còn bị luật nhân quả chi phối không?”. Ngài Bá Trượng đã trả lời: “Người đắc đạo đã không còn hiểu sai về luật Nhân Quả nữa (tức hiểu rất sâu sắc)”. Nghe câu đó, ông già đại ngộ ngay. Ông nói với ngài Bá Trượng: “Vậy là con thoát được thân chồn, xin Hòa thượng lấy nghi thức dành cho Tăng mà tống táng cho con”. Nói xong, ông già biến mất.

Trưa hôm sau, ngài Bá Trượng thông báo cho mọi người chuẩn bị lễ tang cho một vị Tăng. Mọi người rất ngạc nhiên vì trong chùa không có ai vừa qua đời cả. Ngài bảo mọi người đi theo mình ra sau núi. Khi đến một cái hang thấy xác một con chồn, Ngài bảo họ đem về thiêu và tống táng như một vị Tăng…

[Đây là câu chuyện được thầy Thích Chân Quang dẫn ra khi giảng về HẠNH CHÂN THẬT. Thầy muốn nói tới những người tu hành cần tránh khát khao, tham vọng, danh lợi phù ảo, muốn được mọi người tôn kính. Người đó biết mình chưa đắc đạo, nhưng vẫn nói dối là mình đã đắc đạo… Những người đó khi nói dối, họ đã gieo rắc những tà kiến sai lầm cho người khác về nhiều vấn đề đạo lý… Trong chuyện trên, ông già Chồn không phải là người nói dối… Ông chỉ hiểu sai, trả lời thiếu cân nhắc, vậy mà ông bị đọa làm thân chồn tới 500 kiếp].

(P/s: Chuyện của Nhà Phật, nhưng với những người không tu hành vẫn nên ngẫm nghĩ và rút ra cho mình điều gì đó thì cũng… TỐT!)

Hà Nội, ngày 12/02/2020

Bùi Tâm Văn

QUAY ĐẦU LÀ BỜ

Một kiếm sĩ vì muốn đoạt vợ của người khác nên đã giết người chồng. Ông ta sợ bị trả thù nên đưa vợ đi nơi khác. Về sau, thấy vợ không tốt nên ông ta đã bỏ vợ. Ông ta hối hận vì việc giết người nên đã tìm cách chuộc lại lỗi lầm của mình.

Ông thấy người từ hai địa phương muốn qua lại phải vượt qua một ngọn núi, đường đèo nguy hiểm, chỉ xẩy chân chút là mất mạng. Ông đã phát tâm đục đường xuyên qua núi nhằm giúp mọi người đi lại dễ dàng.

Cứ ban ngày ông ta đi ăn xin, ban đêm đục núi. Ròng rã thời gian trôi qua không biết bao nhiêu năm. Đến một ngày, con trai của người bị ông giết năm xưa tìm đến để trả thù cho cha.

Khi gặp ông, anh ta nói: “Ta không giết người sau lưng, hãy rút kiếm ra và đấu với ta”. Lúc đó, ông ta trả lời người thanh niên: “Ta sẽ dâng mạng sống cho anh, nhưng hãy cho ta đục xong con đường hầm này đã”. Người thanh niên suy nghĩ thấy hợp lý nên đồng ý.

Thời gian chờ đợi kéo dài. Chờ mãi cũng chán, nên anh thanh niên phụ giúp ông ta đục đường hầm cho nhanh. Cứ thế, hai người cùng nhau đục đường hầm ròng rã thêm mấy năm nữa mới xong.

Khi kết thúc công việc, ông già ngồi xuống và nói: “Đầu của ta đây, anh cắt đi”. Người thanh niên quỳ xuống, ôm ông già như ôm người thầy của mình và nức nở nói:

“Thầy! Làm sao con có thể cắt đầu thầy được”

Hà Nội, ngày 11-02-2020

Bùi Tâm Văn

Đau lòng chuyện con đánh mẹ!

Trong truyện cổ Phật giáo có câu chuyện này:

Một quan tòa trước khi tuyên án tử hình một bị cáo đã hỏi anh ta:

– Nguyện vọng cuối cùng của anh là gì?

– Tôi muốn được ôm mẹ tôi lần cuối.

Đây là mong ước chính đáng của một người sắp lìa xa cõi trần. Quan tòa cho người mời mẹ anh ta đến. Tưởng người con sẽ ôm lấy mẹ… Nào ngờ anh ta dùng tay đánh mẹ mình ngất xỉu!

Cùng lúc đó, anh ta ràn rụa nước mắt nói với mọi người: Chính vì người đàn bà này khiến tôi bị chết một cách nhục nhã như hôm nay!

Rồi anh ta đau đớn kể lại một chuyện xẩy ra từ hồi còn nhỏ: lần đầu tiên anh ta lấy trộm một bao diêm của hàng xóm đem về khoe với mẹ. Bấy giờ, mẹ đã không la mắng anh ta mà còn khen ngợi: “Thằng này khôn”.

Nhiều lần anh ta ăn cắp, lấy trộm đồ của người khác nhưng đều không bị mẹ la mắng. Cứ thế anh ta lớn lên và trở thành một tên cướp của, giết người… Hậu quả phải đón nhận cái chết nhục nhã hôm nay!

Chữ “TÍN”

Bàn về chuyện giữ chữ “Tín” đối với nhiều người thực không có mấy tí giá trị. Vì họ không sống và hành động theo khuôn phép đó. Thành ngữ Việt có câu: “Một lần bất tin thì vạn lần bất tín”. Đặc biệt trong xã hội hiện đại, trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, chữ Tín lại hết sức cần thiết phải quan tâm và giữ gìn…

Có rất nhiều minh chứng cho thấy hệ quả không hay xẩy ra khi không giữ chữ tín. Dưới đây là một câu chuyện “thất tín” của Trung Quốc, nhưng cũng gợi lên cho chúng ta những nghĩ suy… về chữ tín thời nay:

Vu Trạch mới từ nước ngoài trở về Trung Quốc. Anh kết giao với hai bạn mới là Tuệ và Phi. Hai người này đang thành công trong ngành bất động sản ở Trung Quốc. Ba người hợp lại thành một nhóm chơi cầu lông chuyên nghiệp. Hàng tuần vào một thời gian cố định, họ thường tập luyện với nhau 2 lần. Trạch là trưởng nhóm, phụ trách thuê sân bãi luyện tập.

Trong ba người, Trạch luôn là người tuân thủ thời gian nghiêm ngặt. Anh thường đến sớm và chờ hai người bạn của mình. Ngược lại Tuệ và Phi hôm nào cũng đến muộn, hoặc không đến. Khi Trạch gọi điện thoại hỏi thăm thì Tuệ làm như không có việc gì, lại nói với anh: “Tớ đang ăn cơm cùng người khác, cậu đánh cậu lông xong cũng đến đây nhé!”. Có hôm cả Phi và Tuệ đều không đến, khiến Trạch buồn bã trên sân đợi bạn!

Từ đó, Trạch rút kinh nghiệm trước khi thuê sân, anh hỏi Tuệ và Phi xem hôm nay họ có hẹn với khách hàng không. Nếu không hẹn khách hàng, anh mới thuê sân. Tuy vậy, việc hai người bạn của anh vẫn thường xuyên đến trễ hoặc thất hứa, không đến.

Ba người sau đó phát sinh xung đột, mâu thuẫn. Không kìm được giận, Trạch đã lớn tiếng trách Phi: “Nếu các cậu không đến được, sao không gọi điện trước cho tớ để tớ tìm người khác chơi?”. Nghe vậy, Phi nói: “Việc này có gì to tát đâu, sao cậu khiến nó nghiêm trọng như thế?”. Trạch nói: “Nếu muốn người khác tôn trọng cậu, cậu phải tôn trọng người khác, tôn trọng thời gian. Các cậu là người làm kinh doanh, giữ lời hứa là danh dự của doanh nhân. Nếu các cậu cũng đối xử với khách hàng như với tớ, thì hỏi khách hàng nào tin tưởng các cậu?”.

Nét mặt Phi lúc đó trở nên vô cùng khó coi, anh ta nói: “Tớ không bao giờ thất hẹn với khách hàng… Quan niệm của người Trung Quốc khác người phương Tây. Cậu phải thay đổi tín điều của mình đi, học cách hòa nhập vào văn hóa nước ta. Nếu không, cậu sẽ bị bong da tróc vảy đấy”. Trạch không hiểu, nên anh hỏi lại: “Lẽ nào không đến đúng hẹn lại là văn hóa của người Trung Quốc?

Sau lần ấy, Trạch rút ra bài học và quyết định thuê một huấn luyện viên làm bạn đánh cầu với mình. Từ đó, anh không phải nảy sinh mâu thuẫn, xung đột với người khác do phải chờ đợi nữa.

Không lâu sau, do nhu cầu kinh doanh, Tuệ và Phi muốn hợp tác với Trạch; nhưng Trạch chỉ cảm ơn rồi khước từ. Người tuân thủ thời gian như Trạch cho rằng: một người không làm đúng hẹn giống như một nhạc công chơi nhạc tùy hứng. Anh không muốn chịu đựng sự khó chịu giống như trước đây nữa!

Hà Nội, ngày 02/02/2020

Bùi Tâm Văn

ĐẠO SĨ VÀ BẦY CHUỘT

Ở Ấn Độ xưa có một người đi tu. Thời kỳ đầu, ông ta tu tốt, sống cũng rất đơn giản. Ông sống trong một hang động, không làm gì, chỉ lo tu và đi khất thực.

ĐỨC PHẬT THÍCH CA

Từ cái hang nơi ông ở vào làng khá xa. Mỗi lần đi khất thực, ông đều xin nhiều lương thực, thực phẩm để dành trong một cái bao. Cứ khoảng một tuần ông lại rời hang xuống làng khất thực.

Cuộc sống của ông đơn giản, bình yên. Nhưng rắc rối xẩy ra bắt đầu từ mấy con chuột. Vì phát hiện có thức ăn để dành nên lũ chuột kéo đến quấy phá. Vị Đạo sĩ cảm thấy phiền toái, nên ông thấy cần một con mèo canh giữ những thứ để dành.

Vì thế, khi vào làng khất thực, Đạo sĩ xin thêm con mèo. Thức ăn chay vốn đơn giản, mèo con không chịu ăn. Đạo sĩ nghĩ cần sữa cho mèo uống. Do sống xa làng bản, lấy đâu ra sữa cho con mèo. Đạo sĩ lại nghĩ nuôi thêm một con bò lấy sữa nuôi mèo. Và khi có bò, Đạo sĩ phải bớt thời gian tu để chăn bò và vắt sữa cho mèo.

Cứ thế, thời gian trôi qua, bao nhiêu chuyện rắc rối xẩy ra. Khi bò bị bệnh, ông phải bỏ nhiều công sức chăm sóc nó. Lúc này Đạo sĩ không còn thời gian để nấu cơm. Một Phật tử có lòng cảm mộ xin đến ở nấu cơm cho Thầy. Ông đồng ý, nhưng lại nảy sinh vấn đề mới là cô Phật tử ở đâu, vì chỉ có một cái hang nhỏ?

Ông Đạo sĩ lại phải cất một căn nhà cho ni cô ở. Dần dà lại có thêm vài chú tiểu lo lắng việc trong, việc ngoài. Cuộc sống của nhà tu hành đã thay đổi. Một thời gian sau thì việc tu hành cũng chấm dứt…

Vậy là, chỉ vì mấy con chuột, do không xử lý tốt mà công quả tu hành của một người không thể thành tựu, viên mãn…

Trên thực tế, việc tu hành không dễ. Có rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến quá trình này. Những ai không đủ dũng khí, kiên trì và cả trí tuệ thì khó thành tựu công quả. Chả thế mà các bậc thánh như Đức Phật, Đức Khổng Tử, chúa Giê-su, V.I. Lênin… đều khẳng định: Chiến thắng lớn nhất của một người là chiến thắng được chính bản thân mình…

Hà Nội, ngày 21/1/2020

Bùi Tâm Văn

SÁCH “TỨ THƯ BÌNH GIẢI” CỦA LÝ MINH TUẤN

Cần phải nhận rằng, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Trung Quốc.

Ngày xưa, thời phong kiến, giới nho sĩ nước ta chủ yếu được đào tạo những kiến thức nằm trong hai bộ sách kinh điển: Tứ thưNgũ kinh. Trong đó Tứ thư, theo một ý nghĩa nào đó, giống như sách gối đầu giường của Nho gia.

Ngày nay, người Việt ít người đọc loại sách này. Những ai muốn hiểu lịch sử tư tưởng, rộng hơn là lịch sử văn hóa Việt Nam thì không thể bỏ qua bộ Tứ thư

Trước đây đã có những học giả nổi tiếng dịch thuật, chú giải về Tứ thư (như: Đoàn Trung Còn, Nguyễn Hiến Lê…), nay thêm Lý Minh Tuấn.

BÌA TRƯỚC

Sách Tứ thư bình giải được Nxb. Tôn giáo ấn phát hành năm 2011, khổ lớn (A4), có dung lượng 1.567 trang, đóng bìa cứng. (Theo tôi, đây là một cuốn sách quý).

BÌA SAU

Trong sách, Lý Minh Tuấn đã giới thiệu, bình chú đầy đủ nội dung bộ Tứ thư.

ĐỘ DÀY CỦA SÁCH

Lý Minh Tuấn là người am hiểu Tứ thư và có nhiều năm giảng dạy về Nho giáo. Tứ thư bình giải là công trình hệ thống hóa các bài giảng của ông.

Mục đích của tác giả khi soạn sách là cung cấp cho người đọc những hiểu biết nhất định về tư tưởng Nho giáo.

Từ đó khơi dậy những giá trị đạo đức, tinh thần tốt đẹp đã bị lãng quên trong bối cảnh xã hội đang thiên về lối sống vật chất hiện nay.

Lý Minh Tuấn là bậc thầy cao niên, nhưng với tấm lòng yêu người, thương đời ông đã cống hiến một công trình học thuật rất đáng trân trọng.

Tứ thư bình giải sẽ đem đến nhiều điều tốt đẹp cho những ai biết khai thác những giá trị ẩn tàng trong nó…

Quan hệ giữa giàu có và phẩm hạnh (Socrates)

Socrates – nhà triết học vĩ đại của nhân loại trong cuộc đời mình có những cuộc đối thoại đặc biệt. Cuộc đối thoại giữa ông và nhà quý tộc giàu có nhưng hống hách ở thành phố quê hương ông (Athens) cho ta thấy rõ tư tưởng triết học của ông về mối quan hệ giữa sự giàu có và phẩm hạnh:

Trong tác phẩm Meno của Plato, Socrates có cuộc đối thoại với một người cực kỳ tự tin về sự đúng đắn của quan niệm theo “lẽ phải thông thường” là Meno. Ông này nói với Socrates rằng để là người có phẩm hạnh thì phải rất giàu có. Sự nghèo khó luôn luôn là thất bại của cá nhân chứ không phải là sự tình cờ.

Trước cách đặt vấn đề của Meno như vậy, Socrates quyết định hỏi ông ta mấy câu:

  • Socrates: Theo ngài những thứ tốt có nghĩa là sức khỏe và tài sản?
  • Meno: Tôi nghĩ nó bao gồm cả vàng và bạc, cũng như một vị trí cao và danh giá trong bộ máy nhà nước.
  • Socrates: Đó có phải là những thứ duy nhất mà ngài cho là tốt không?
  • Meno: Đúng, ý tôi là tất cả những thứ kiểu như vậy.
  • Socrates:… Ngài cho rằng việc “có được” những thứ đó có cần phải “công bằng và chính đáng” không, hay điều đó với ngài không quan trọng? Liệu ngài có coi một người là có phẩm hạnh ngay cả khi họ có được những thứ tốt một cách không công bằng hay không?
  • Meno: Chắc chắn là không.
  • Socrates: Như vậy có vẻ là việc có được [vàng và bạc] phải gắn với sự công bằng, chừng mực, lòng hiếu thảo hoặc những yếu tố khác của phẩm hạnh… Thực ra, việc không có vàng hay bạc, nếu xuất phát từ thất bại trong việc có được chúng… trong những trường hợp mà việc có được chúng là không chính đáng, thì bản thân nó lại là phẩm hạnh.
  • Meno: Có vẻ như vậy.
  • Socrates: Như thế có nghĩa là việc có các thứ đó không hề làm cho một người trở nên tốt đẹp hơn là không có chúng…
  • Meno: Kết luận của ngài có vẻ như là tất yếu.

Sau những câu đối thoại trên, Socrates còn cho Meno thấy tiền bạc và ảnh hưởng của bản thân chúng không phải là những điều kiện cần và đủ của phẩm hạnh. Người giàu có thể được ngưỡng mộ nhưng điều đó còn phụ thuộc vào việc tài sản của họ từ đâu mà có. Sự nghèo khó bản thân nó cũng không cho thấy điều gì về giá trị đạo đức của một cá nhân. Không có lí do ràng buộc nào để một người giàu cho rằng tài sản của mình đảm bảo cho phẩm hạnh. Cũng không có lí do ràng buộc nào để một người nghèo nghĩ rằng sự nghèo khó của mình là dấu hiệu của sự đồi bại!

NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP BÀN VỀ THƠ VIỆT NAM

Trong các nhà văn Việt Nam, nhà văn tôi thích nhất chính là Nguyễn Huy Thiệp. Tôi là người yêu văn học, nhưng không được làm nghề mình yêu thích. Chính vì thế những lúc rảnh rỗi hay mang sách văn học ra đọc.

Hôm nay đọc lại tập tiểu luận “Giăng lưới bắt chim” của Nguyễn Huy Thiệp, tôi vẫn thích thú như những lần đọc trước đây. Có nhiều bài do thích tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, trong đó có bài “Nhân ngày thơ, bàn về thơ”… 

Theo tôi biết khi Nguyễn Huy Thiệp đăng bài này trên báo Văn hóa Thể thao (2/2006) có nhiều người phản đối… Nhưng với tôi, đây vẫn là một bài hay bàn về thơ Việt. Vì lẽ đó, xin phép nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb. Thanh Niên cho tôi post lại bài này lên blog cá nhân để thỉnh thoảng đọc lại, nghĩ suy về thơ Việt.


“Nói về thơ (cũng là về nghệ thuật) có lẽ ít ai nói hay được như A.Rimbaud: “Tôi đặt cái đẹp lên đầu gối/ Và tôi thấy nó cay đắng quá/ Và tôi nguyền rủa nó!”. Cái đẹp của thơ từ xưa đến nay không ai phủ nhận, không phải bàn. Nhưng cái cần bàn là thế nào mới gọi là thơ đích thực?


Hiện nay ở ta, tình trạng lạm phát thơ rất tệ hại, ai cũng làm thơ, danh hiệu nhà thơ bị rẻ rúng. Ngày thơ Việt Nam được tổ chức đến nay là năm thứ ba đã lộ rõ sự dung tục, nhiều lố bịch, không văn minh.

Thơ, đấy phải là của tuổi trẻ, của sáng tạo, của tình yêu, của cái mới, đam mê và khát vọng. Tôi đã nhiều lần nói đến ba loại người làm thơ. Loại một của những người trẻ, những “thiên thần”.

Trong lịch sử thơ ca, những bài thơ tuyệt diệu nhất đều là của những trai tân, gái tân, những thần đồng (trường hợp của Huy Cận, Tế Hanh, Chế Lan Viên và nhiều tác giả “Thơ Mới” cũng như vậy. Trần Đăng Khoa thời “nhí” và Vi Thùy Linh thời chưa biết đến “mùi đời” cũng như vậy).

Thơ của họ như giọt sương mai, nó là cái đẹp, ta cảm nhận được ngay. Không cần phân tích. Nó chính là đạo tự nhiên, đạo phác. 


Loại hai đấy là khi người ta không còn trẻ nữa, bắt đầu vào đời, lăn lộn trong “chốn giang hồ”, ngày xưa các cụ gọi loại thơ đó là “thi ngôn chí”. Khi bộc lộ chí, tức là thơ sẽ đề cập đến một khu vực mạo hiểm và nhạy cảm nhất mà chúng ta vẫn quen gọi là tâm hồn. Tâm hồn là thứ rất cá nhân, nhìn chung nên giấu kín.

Ngày xưa Tống Giang buồn tình viết lên vách lầu Tầm Dương mấy câu: “Thân ở Giang Đông, thân tại Ngô/ Mấy phen than thở, mấy giang hồ/ Mai sau như thỏa lòng non nước/ Mới thấy Hoàng Sào cũng trượng phu!”. Chỉ vì mấy câu thơ vớ vẩn đó mà Tống Giang bị tóm cổ vào tù. Cái hại nhãn tiền sờ sờ ra đấy.


Ở ta có thể thấy các nhà thơ vẫn hay bộc lộ tình yêu trai gái trong thơ, nói trắng phớ ra là tính hiếu dâm (chí tình). Giở báo “Văn nghệ” ra, ta luôn thấy các cụ ông cụ bà tình tứ một cách “rất mất dạy”. Những câu “anh anh em em” du dương có một cái gì đó thật khả ố và nực cười.

Tình yêu nên dành cho tuổi trẻ, chúng ta là cựu chiến binh, chúng ta nên làm những việc khác có tính chất tu dưỡng đạo đức. (“Chiến trường thích cựu chiến binh/ Ái tình thích kẻ chiến chinh lần đầu” – thơ Nguyễn Bảo Sinh). Thơ nói chung, nhất là thơ tình yêu nên dành cho tuổi trẻ. 


Ngoài loại một, loại hai vốn là thơ đích thực, còn lại là thơ chính trị, thơ tâm lý chiến, thơ tầm phào, thơ của “đám giặc già lăng nhăng thơ phú”.

Chiến tranh đã lùi xa, chúng ta cần phải có cách nhìn nhận đúng về các giá trị chân lý thường nhật, phải gọi đúng tên thật của nó (thí dụ thơ Phạm Tiến Duật, thơ Nguyễn Đức Mậu, thơ Xuân Sách, thơ Thu Bồn, v.v… thực chất là thơ tâm lý chiến, có đóng góp to lớn trong chiến tranh, đấy không phải là thơ giải trí).

Khi các lối thơ thù tạc, “tình yêu” và lăng nhăng vớ vẩn quá lạm phát, quá phát triển thì người đời phần nào cũng cảm thấy “ghê ghê” các nhà thơ.


Từ xưa, các nhà Nho theo nghiệp thi cử đã từng coi trọng những người giỏi phú và văn sách hơn những người làm thơ là rất có lý. Người làm thơ thường bị coi là hạng phóng dật, thiếu đứng đắn, bê tha.

Thơ quá phát triển là dấu hiệu của phong hóa suy đồi và đạo đức xã hội đi xuống chứ chẳng phải hay ho báu bở gì.


Trong thơ, việc quy định niêm luật chặt chẽ (hai-ku, xon-nê, lục bát, Đường luật, thất ngôn, tứ tuyệt, v.v…) chính là một cách đội lên đầu vành kim cô “rèn rũa kỷ luật tâm hồn”, là hình thức giáo dục “lễ” cho người làm thơ. 

Ở ta, nhiều người “dân tộc chủ nghĩa” cực đoan cho lục bát mới là thơ, thơ chính là lục bát cũng có lý của họ. Một nhà thơ Việt Nam không biết làm thơ lục bát cho hay thì còn “đậm đà bản sắc dân tộc” gì nữa! 

Trong ba loại người làm thơ, buồn thay, loại ba bao giờ cũng chiếm số đông nhất (có đến 99% là như vậy). Thơ đích thực rất hiếm, bởi thế nó quý. “Và tôi thấy nó cay đắng quá/ Và tôi nguyền rủa nó!”.

Trong truyện chưởng Kim Dung, có hình ảnh kiếm khách võ lâm thấy đám tục tử nghiệp dư ba lăng nhăng cũng học đòi đeo kiếm đi đi lại lại làm mất hình ảnh võ lâm trên giang hồ thế là tức mình vung kiếm chém sạch bọn này.

Trong thơ cũng thế, tôi đã thấy có nhiều cao thủ phải nuốt bồ hòn làm ngọt đi trong ngày thơ, thở dài sườn sượt.


Con đường của nhà thơ là con đường khó khăn: hết giai đoạn thơ, hết giai đoạn thiên thần, họ phải đi đến triết học. Đi đến triết học thì chí ít họ phải bắt buộc trở thành một nhà tâm lý học trước đã.

Và như vậy, công việc tu thân của một nhà thơ là một công việc lâu dài, lâu bền, mất cả đời người. “Cơm áo không đùa với khách thơ”. Đấy cũng là một chân lý.


Nhân ngày thơ, bàn về thơ cũng là để “mua vui cũng được một vài trống canh”. Thơ thật cao quý nhưng thật ra thơ cũng chỉ là một thể loại có phần “tráo trở và mập mờ” nhất trong các thể loại văn học “đứng đắn”.

Thơ cũng chỉ là một trong mười tám ban binh khí mà thôi. Để cả một ngày cho thơ thật phí, thật xa xỉ. Có lẽ ngày 15 tháng Giêng nên gọi là “ngày văn học” thì sẽ có ý nghĩa hơn nhiều. Người ta sẽ diễn kịch ở trong ngày đó, bán các thứ hàng hóa văn học và liên quan đến văn học, gặp gỡ các nhà văn trong và ngoài nước.

Nếu quốc tế hóa thì đó nên là một Festival văn học, trong điều kiện nước ta nghèo thì không nên năm nào cũng tổ chức mà nên để hai hoặc ba năm một lần, có ban tổ chức chuyên nghiệp và thu hút được các nhà tài trợ trong và ngoài nước.

Cũng chỉ nên làm ở một nơi cho nó ra trò chứ không nên bày đặt ra tất cả các tỉnh thành như kiểu hội hè đình đám hiện nay. Nhưng thôi, đấy là tôi lại trót làm thơ mất rồi!


“Lộ phùng kiếm khách, tu trình kiếm/ Bất thị thi nhân mạc hiến thi” (Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm/ Không phải nhà thơ chớ hiến thơ)”.

(8/2/2006)

ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO

1. Đạo Phật là một thành tựu văn hoá, văn minh đặc sắc, trước hết của dân tộc Ấn, sau đó là của cả nhân loại. Đạo Phật xuất hiện ở Ấn Độ cách ngày nay hơn 2.500 năm, về sau lan toả và phát triển ra khắp các châu lục và hiện đang là “một trong ba tôn giáo lớn của thế giới (Đạo Phật, Đạo Cơ đốc và Đạo Hồi”).

Sinh thời, A. Einstein đã cho rằng: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, xuất phát từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, và Phật giáo đáp ứng đủ các điều kiện ấy”.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay Phật giáo được nhân loại tôn vinh là một tôn giáo có triết lý sống nhân văn, thiết thực nhất và trở thành thứ Đạo được hướng tới trong tương lai. Đạo Phật xuất phát từ hiện thực con người và vì con người, nhằm hướng con người đi đến hạnh phúc an lạc.

Nói một cách vắn tắt, Đạo Phật là con đường giải thoát con người khỏi khổ đau, bất toại nguyện. Tìm hiểu sâu chúng ta sẽ nhận thấy trong toàn bộ giáo lý của Đạo Phật thể hiện một nếp sống đạo đức có những đặc trưng riêng biệt, nổi bật mà con người khi trải nghiệm sẽ nhận ra được chân giá trị đích thực của hạnh phúc.

Đạo đức là một phạm trù được quan niệm không hoàn toàn giống nhau trong các nền văn hoá và trong các thời đại lịch sử. Nó là phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội; là những phẩm chất tốt đẹp của con người. Đây là quan niệm chung về đạo đức.

Quan niệm đạo đức của Đạo Phật căn bản cũng như vậy. Nhưng có cái khác biệt là nhấn mạnh đến cái thiện ở bên trong, nó là cái gốc của những hành vi, lời nói tốt đẹp thể hiện ra bên ngoài của con người.

“Đạo đức là những khuynh hướng tốt có trong tâm ta, mà những khuynh hướng đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến cho mọi người chung quanh ta được chuyển hoá, an vui, lợi ích”.

2. Đạo Phật là đạo giải thoát chúng sinh khỏi trầm luân khổ ải, bất toại nguyện. Từ góc nhìn này ta thấy Đạo Phật là một loại đạo đức lớn.

Trong tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), nếu phân tích đến cùng sẽ ẩn chứa đạo đức bên trong. Nhưng có lẽ biểu hiện rõ nét và tập trung nhất của đạo đức trong Phật giáo là ở các Giới (Ngũ giới, lục giới và thập giới).

Khi nghiên cứu về đạo đức trong Phật giáo, ta nhận thấy một số điểm nổi bật sau:

Một là: Đạo đức Phật giáo thể hiện rõ ràng, dứt khoát về thiện ác.

Đây là điểm khác biệt với nhiều học thuyết đạo đức học phương Tây. Phương Tây thường nhấn mạnh tính tương đối của thiện ác, coi tiêu chuẩn của thiện ác có sự thay đổi theo thời gian và không gian. Phật giáo luôn thể hiện sự dứt khoát, minh bạch trong vấn đề này.

Trong Kinh Tăng chi bộ khẳng định thiện và ác phân biệt cách xa nhau như đất với trời, phân biệt rõ nguyên nhân căn bản của ác là tham, sân, si và nguyên nhân căn bản của thiện là không tham, không sân, không si.

Đồng thời Kinh cũng phân biệt rõ kết quả do thiện ác đem lại là hạnh phúc và bất hạnh cho con người ở đời này và đời sau như thế nào. Hình tướng của thiện và ác được phân tích rõ ràng là không sát sinh hay sát sinh, bố thí hay trộm cắp, sống chính hạnh hay là tà hạnh, v.v… cho đến những ý nghĩ thiện hay bất thiện trong tâm hồn cũng được phân tích rõ ràng minh bạch.

Kinh chép: “Có hai tiềm lực trong con người, làm điều thiện hay làm điều ác. Thật có thể từ bỏ điều ác; từ bỏ điều ác đem lại lợi ích và hạnh phúc. Cũng có thể huân tập điều thiện. Huân tập điều thiện cũng mang lại lợi ích và hạnh phúc (đoạn 19)”.

Nếu chúng ta coi trọng tính thực tiễn của học thuyết đạo đức, nghĩa là mọi học thuyết đạo đức đều phải hướng tới việc khích lệ mọi người sống thiện, bỏ ác, thì những chủ thuyết không phân biệt rõ thiện và ác làm sao có thể hoàn thành được mục tiêu này.

Nếu một chủ thuyết tuyên bố thiện là cái không thể định nghĩa thì làm sao có thể khuyến cáo người ta làm điều thiện.

Chính vì vậy mà giáo sư T.W. Rhys Davids đã phê phán đạo đức học phương Tây: “Cho tới nay, việc nghiên cứu đạo đức ở phương Tây đã thất bại thảm hại qua những cuộc bàn cãi lý luận kéo dài và những tư biện trống rỗng cắt đứt mọi thực tế”.

Hai là: Đạo đức Phật giáo có tính liên tục và nhất quán.

Nội dung của thiện ác như chính Đức Phật Thích Ca đã đích thân thuyết giảng, từ ngày Ngài còn tại thế cách đây hơn 2.500 năm và được kết tập trong Kinh tạng Nguyên thủy, nội dung thiện ác đó đã được duy trì một cách liên tục nhất quán cho đến nay, hầu như không thay đổi gì kể cả trong thời kỳ Phật giáo bộ phái và Phật giáo Đại thừa.

Nội dung của năm giới, mười điều thiện đến nay, vẫn không thay đổi mặc dù Phật giáo đã phát triển qua một thời gian dài và trở thành một tôn giáo thế giới, có mặt ở hầu hết các nước trên hành tinh này.

Sự phân biệt thiện ác của đạo đức Phật giáo không chỉ dứt khoát, minh bạch mà còn nhất quán và liên tục.

Có thể nói, được chính Đức Phật Thích Ca tuyên bố và minh định nội dung của đạo đức Phật giáo thật sự là những giá trị siêu thời gian và không gian, và nó trở thành khuôn mẫu ứng xử tốt đẹp nhất của con người, không kể là thời đại nào hay ở châu lục nào.

Vì thế mà Albert Schweitzer khẳng định: “Đức Phật đã sáng tạo ra một nền đạo đức nội tâm hoàn thiện nhất”, và “trong lĩnh vực này, Đức Phật đã nói lên những chân lý đạo đức có giá trị bất hủ, đã phát triển nền đạo đức không phải của đất nước Ấn Độ mà là của cả nhân loại. Đức Phật là một trong những nhà đạo đức học vĩ đại nhất, kỳ tài nhất mà thế giới có được”.

Ba là: Đạo đức Phật giáo dựa trên quy luật nhân quả nghiệp báo.

Đây là một quy luật có giá trị khách quan nhất, công bằng nhất, quy luật nhân quả nghiệp báo đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với cá nhân, cũng như đối với cộng đồng và xã hội.

Theo Phật dạy, nghiệp là hành động. Nghiệp báo là kết quả hay là quả báo của hành động. Quả báo đó tương ứng với hành động tức nghiệp tạo ra nó. Ca dao tục ngữ Việt Nam đã đúc kết quy luật đó thành những câu như “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão”. Đó là quy luật mà lương tri mọi người đều chấp nhận.

Đạo Phật xem quy luật này như là cái chìa khóa, giúp lý giải tất cả mọi sự vật và hiện tượng diễn biến trong tự nhiên và xã hội.

Đạo Phật bác bỏ Thần ý luận, cũng như Ngẫu nhiên luận. Nếu mọi diễn biến trong xã hội đều do ý của thần linh hay của đấng sáng tạo sắp xếp sẵn rồi, thì mọi cố gắng sống đạo đức của người đều là vô ích.

Đối với Ngẫu nhiên luận cũng vậy, nếu mọi diễn biến trong xã hội đều xảy ra một cách ngẫu nhiên, không có quy luật gì cả, thì sống đạo đức mà làm gì?

Định mệnh luận và Túc mệnh luận, tuy không phải là Thần ý luận, nhưng kết quả đối với hành động đạo đức của con người, cũng mang một ý nghĩa tiêu cực như thế.

Nếu mọi diễn biến xảy đến cho xã hội và cá nhân đều do định mệnh, hay là do quá khứ quyết định và an bài, thì mọi cố gắng của con người trong hiện tại đều là bất lực và vô ích. Con người chỉ còn biết an phận và chịu đựng.

Đọc các vở kịch thơ của Homère thời Hy Lạp cổ đại, chúng ta thường gặp khái niệm số mệnh hay số phận. Đó là một giải thích rất tiêu cực đối với mọi diễn biến của cuộc sống cá nhân và xã hội.

Đạo Phật, trái lại tuyên bố “Con người là chủ nhân của nghiệp, đồng thời con người cũng là thừa tự của nghiệp”, nghĩa là chính con người hành động bằng ý chí tự do của mình, và con người phải chịu hậu quả của hành động của mình. Con người tuy là thừa tự của nghiệp nhưng quyết không phải là nô lệ của nghiệp.

Với một nỗ lực đạo đức tối đa trong hiện tại người ta hoàn toàn có thể chuyển nghiệp quá khứ, hạn chế nghiệp quá khứ, thậm chí có thể xóa bỏ nó chuyển thành nghiệp thiện, nghiệp lành.

Cũng như một người, do nghiệp nhân tạo ra trong đời quá khứ, phải sanh ra với một thân thể gầy yếu, thế nhưng, người đó với một cố gắng liên tục và tối đa rèn luyện thân thể, hoàn toàn có thể trở thành khỏe mạnh, thậm chí trở thành một lực sĩ hay võ sĩ.

Đạo Phật bao giờ cũng khẳng định khả năng của con người là vô tận, nếu con nguời có ý chí phấn đấu, bản thân mình cũng như hoàn cảnh mình đều có thể cải tạo được theo hướng tiến bộ, nếu người thật sự muốn và cố gắng.

Có thể nói, sự hiểu biết đúng đắn thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật sẽ tạo cho mỗi người một ý thức trách nhiệm rất cao đối với cá nhân mình và xã hội.

Bởi vì, căn cứ theo quy luật Nhân quả Nghiệp báo của đạo Phật, tất cả mọi hành động lời nói cho đến mỗi ý nghĩ của chúng ta, đều tác động đến bản thân chúng ta trong hiện tại và tương lai, đồng thời cũng tác động đến xã hội, tạo ra cái mà đạo Phật gọi là biệt nghiệp, đối với mỗi cá nhân và tạo ra cộng nghiệp đối với cộng đồng và xã hội.

Nói cộng đồng ở đây là các cộng đồng nhỏ và lớn, trong đó mỗi con người chúng ta sống và hoạt động như gia đình, tập thể cơ quan, ngành nghề và quốc gia xã hội.

Sống có ý thức, với đầy đủ trách nhiệm của mình tức là nhận chân thật rõ, không chút mơ màng là mỗi việc làm, mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ của chúng ta đều có tác động ít hay nhiều đến bản thân mình đã đành (biệt nghiệp), mà còn đến người khác nữa, đến môi trường sống chung quanh chúng ta (cộng nghiệp).

Cương vị càng cao, quyền lực càng lớn, thì tầm cỡ ảnh hưởng của mỗi việc làm chúng ta cũng rộng lớn theo, chứ không chỉ hạn chế trong phạm vi gia đình, bạn bè thân thuộc.

Bốn là: Những nguyên lý đạo đức Phật giáo có ý nghĩa thực tiễn, sống động.

Mỗi người phải biểu hiện thường xuyên bằng những hành động đạo đức, lời nói đạo đức cho tới ý nghĩ đạo đức, trước hết là của tất cả Tăng, Ni, Phật tử. Nhờ vậy, chúng ta tỏa sáng cho đời để cuộc đời sáng đẹp hơn lên.

Như thế, đạo Phật có mặt trong đời sống không chỉ diễn bày qua chùa chiền, tượng Phật, kinh sách, các nghi lễ cầu an, mà trước hết là bằng nếp sống đạo đức của Tăng, Ni, Phật tử, bằng những quan hệ ứng xử mẫu mực của mọi người với nhau trong xã hội.

Khi mỗi người đã nhận chân ra đặc trưng của đạo đức Phật giáo là gì, thì chắc chắn rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với bất cứ ai thực hành theo nếp sống này.

3. Tóm lại: Đạo đức Phật giáo là một thành tựu văn hoá, văn minh chung của nhân loại. So với những truyền thống đạo đức khác (như Nho giáo, Đạo thiên chúa, Đạo Hồi…) thì đạo đức Phật giáo có nhiều điểm riêng biệt, độc đáo.

Nghiên cứu đạo đức Phật giáo và tìm cách khai thác những hạt nhân hợp lý trong đó, kết hợp với các truyền thống đạo đức khác sẽ giúp ta xây dựng một xã hội tốt đẹp, hạnh phúc hơn trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

[01] – Hoàng Tâm Xuyên (Chủ biên): Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
[02] – Tâm Thiện: “Tôn giáo và giá trị đích thực” trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, (Chương trình Phật học hàm thụ, Tập 2), Nxb Hồng Đức, 2013.
[03] – Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, 1999.
[04] – Thích Chân Quang: Tâm lý đạo đức, (Quyển số 1, Tái bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung), Nxb Tôn giáo, 2006.
[05] – Damien Keown: Đạo đức học Phật giáo, Nxb Tri thức, 2013.
[06] – Minh Hạnh Đức: “Đạo đức Phật giáo”, in trong Đạo Phật ngày nay, Tập 46 (10-2014), Nxb Phương Đông.
[07] – Thu Giang Nguyễn Duy Cần: Phật học tinh hoa (Tái bản lần thứ nhất), Nxb Trẻ, 2014.
[08] – Nguyễn Duy Hinh: Một số bài viết về Tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội, 2007.

TS Bùi Hồng Vạn
Trường Đại học Thương mại (TMU)