ĐẦU TÔI ĐÂU?

Tôi “hành nghề” dạy học (bậc đại học) năm nay là năm thứ 35. Có vô số chuyện có thể nói về nghề nghiệp của mình. Chẳng hạn về thủ pháp dạy học tôi thường chọn lọc những mẩu chuyện phù hợp lồng ghép vào nội dung bài giảng. Mục đích là tăng sự sinh động, tính hấp dẫn, thu hút, tạo hiệu quả cho giờ dạy. Sau đây là một ví dụ cụ thể (xin được chia sẻ với bạn nghề):

Xưa, có viên quan trong một buổi thiết triều, do sơ suất đã “phạm thượng”. Vì thế nhà vua phán quyết sẽ chém đầu ông ngày hôm sau. Ông ta được về gặp vợ con lần cuối. Khi thấy ông rất buồn, vợ con hỏi sự tình mới biết ngày mai ông bị xử trảm.

Sau hồi lâu suy nghĩ, cậu con trai của viên quan đã tìm ra cách cứu bố (nhưng cậu không nói ra điều này). Cậu đề nghị bố mẹ cho mình hôm sau vào cung xin nhà vua cho mình chết thay bố. Mặc dù rất đau lòng, nhưng hai vợ chồng viên quan buộc phải chấp nhận; bởi đây là lựa chọn tối ưu cho gia đình lúc đó.

Hôm sau hai cha con vào cung, lời cầu xin của cậu bé được nhà vua chấp thuận. Song khi đao phủ chuẩn bị chém đầu thì cậu bé xin phép hỏi ông ta một câu: “Ông cho tôi biết, đầu tôi đâu?”. Đao phủ chỉ vào đỉnh đầu cậu bé và nói: “Đầu mày đây”. Cậu bé cãi lại: “Không phải, đó là tóc chứ không phải là đầu của tôi”. Đao phủ lại chỉ vào cổ, tai, gáy, v.v… thì đều bị cậu bé bác đi… Đao phủ lúng túng, sau một hồi không thể xác định được đầu cậu bé; ông ta bẩm báo với nhà vua. Nghe chuyện, vua biết ngay đây là một nhân tài. Vì thế, vua ra lệnh tha bổng và quyết định đưa cậu vào cung để bồi dưỡng, phát triển thành người có ích cho quốc gia…

Thông qua mẩu chuyện trên tôi muốn dùng một hình ảnh trực quan để giải thích về khái niệm “chỉnh thể” khi dạy học. Cái gì được xem là chỉnh thể thì trong nó luôn có nhiều yếu tố, bộ phận cấu thành (và có liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau). Cái đầu là một chỉnh thể, nó được cấu thành từ các bộ phận là tóc, tai, mũi, mắt, cổ, da… Nếu tách riêng những bộ phận này thì sự vật không còn là nó nữa, không có khái niệm “đầu” nữa. Một khái niệm trừu tượng; nhưng nếu ta biết lấy những mẩu chuyện phù hợp để lý giải sẽ giúp người học dễ hiểu hơn nhiều…

Hà Nội, ngày 21-02-2020

Bùi Tâm Văn

7 bí quyết giúp bạn “bắt tay đúng cách” trong giao tiếp

Cái bắt tay xuất hiện trong lịch sử nhân loại vào thời nào? Rất khó trả lời câu hỏi này. Nhưng ở thời hiện đại, cái bắt tay giữa hai người trong giao tế trở thành hành vi phổ biến. Tuy nhiên, bắt tay như thế nào cho đúng, phù hợp giúp cho tình cảm giữa người với người ngày càng tốt đẹp, công việc làm ăn thêm hanh thông, thuận lợi thì không phải ai cũng làm tốt được điều này…

Nhưng mọi việc ta đều có thể học. Dưới đây là 7 bí quyết giúp bạn bắt tay đúng cách. Các bạn tham khảo nhé:

1) Cái bắt tay lạnh nhạt và cái bắt tay thô bạo: Điều quan trọng nhất khi bắt tay là phải sử dụng một lực vừa phải. Nhiều người sẽ có ấn tượng xấu về bạn nếu bạn đón tiếp họ với cái bắt tay lạnh nhạt. Cụ thể: bạn đặt bàn tay yếu ớt, thiếu sinh khí của mình vào bàn tay họ một cách hờ hững. Có người nghĩ bạn yếu đuối, có người nghĩ bạn thuộc chíp người thiếu quyết đoán. Thậm chí, một số người sẽ nghĩ: “Mình sẽ không bao giờ giao dịch với con người này”.

Ở một thái cực khác là cái bắt tay thô bạo: người khác có thể nắm tay bạn mạnh đến mức bạn có cảm giác như máu ngừng chảy và chiếc nhẫn trên tay họ để lại dấu hằn trên các ngón tay bạn vài ngày. Đa số mọi người tự hỏi: “Anh chàng này muốn chứng tỏ điều gì?” Cái bắt tay lý tưởng sẽ nằm giữa sự lạnh nhạt và thô bạo – mạnh nhưng không quá mức (để thành thô bạo)…

Một số bạn nam hỏi có nên bắt tay phụ nữ nhẹ nhàng không? Câu trả lời là không, vì điều này sẽ tạo cảm giác bạn có vẻ kẻ cả. Vì thế, bạn cần bắt tay một cách phù hợp với cả hai phái…

2) Chỗ hõm giữa ngón chỏ và ngón cái của hai bàn tay phải chạm nhau: Để có cảm nhận thật sự về mối liên hệ với người khác, bạn cần bắt tay sao cho chỗ hõm giữa ngón chỏ và ngón cái của bàn tay bạn chạm vào chỗ hõm ở bàn tay họ. Trong đa số trường hợp, điều này được thực hiện dễ dàng.

Nhưng trong thực tế có những kiểu bắt tay gây cản trở cho lối giao tiếp vừa nêu. Một số người có cách bắt tay găngxtơ: bắt tay từ bên hông. Một số người lại giơ tay từ trên cao rồi đột ngột hạ xuống. Để tránh hai tình huống này, bạn có thể đưa cánh tay thẳng ra phía trước sao cho nó ở vị trí ngay trên thắt lưng.

3) Lắc tay: Bạn nên lắc tay bao nhiêu lần? Nếu chỉ lắc một lần thì chưa đủ, có vẻ thiếu lễ độ, giống như bạn đang làm một việc chiếu lệ. Nhưng đối với nhiều người (điều này thay đổi tùy theo tình huống cũng như nền văn hóa) thì lắc tay ba bốn lần hoặc hơn lại nhiều quá. Thích hợp nhất là nên lắc tay hai lần…

4) Tôi là người bề trên: Khi ai đó đưa bàn tay ra và đặt nó phía trên bàn tay bạn thì họ đang gửi đi thông điệp: “Tôi là người bề trên”. Có thể họ không biết mình đang làm như vậy, nhưng người khác lại nghĩ thế! Một số người để ngửa lòng bàn tay khi chìa bàn tay ra, điều này cho thấy họ ở vị thế của kẻ dưới.

Nếu gặp phải một trong hai tình huống đó, bạn nên đưa tay thẳng, nhờ đó bạn gây được ấn tượng mạnh hơn với hầu hết mọi người.

Khi bắt tay, một số người dùng cả hai bàn tay và còn chạm vào bàn tay, khuỷu tay hoặc cánh tay của người kia. Họ sử dụng một bàn tay theo cách thông thường và đặt bàn tay còn lại ở phía trên cùng hoặc ở lưng chừng trên cánh tay người kia. Bàn tay thứ hai đặt ở vị trí càng cao trên cánh tay của người kia thì càng tạo được cảm giác thân mật. Người sử dụng cả hai bàn tay có thể gửi đi thông điệp “hãy tin tôi”.

Song, hãy thận trọng khi bắt tay người mới gặp theo cách này, bởi nó chỉ đem lại hiệu quả với người bạn đã quen biết. Nếu không họ có thể nghĩ: “Tại sao tôi phải tin anh? Sao anh lại tỏ ra thân thiện đến thế?”.

5) Biết lúc nào cần buông tay ra: Bắt tay người khác quá lâu sẽ khiến họ cảm thấy khó chịu. Còn nếu buông tay quá sớm thì người kia sẽ không cảm nhận được sự nhiệt tình của bạn.

Làm thế nào để biết được mình bắt tay quá lâu hoặc quá nhanh? Trong đa số trường hợp, bạn chỉ cần bắt tay khoảng 1-2 giây. Nhưng bí quyết để biểu lộ sự chân thành là hãy giữ tay họ lâu hơn một tích tắc nữa…

6) Đừng tạo khoảng cách với người khác: Khi ai đó đưa cánh tay thẳng ra thì đó là cách họ tạo khoảng cách an toàn. Hành vi này gửi thông điệp: “Đừng bước vào không gian riêng của tôi”.

Khi bạn làm như vậy, người khác sẽ nhận biết được và nó tạo ra hàng rào cản trở bạn thiết lập quan hệ với họ…

7) Đừng để ra mồ hôi tay và lo âu: Khi tay bạn có mồ hôi hoặc nước sẽ không tạo được ấn tượng tốt đẹp. Trong trường hợp này, bạn nên sử dụng khăn giấy hoặc lau bàn tay vào phía sau quần hoặc váy trước khi bắt tay (đừng để người kia trông thấy) là được…

Tài liệu tham khảo

[1] Amanda Visckers, Steve Bavister và Jackie Smith: Để gây ấn tượng cá nhân (Những điều cần có để tạo sự khác biệt), Nxb TH Tp Hồ Chí Minh, 2010.

[2] Andrew Leigh: Giải mã sức thu hút cá nhân – Cách tạo ấn tượng mạnh mẽ và bền vững, Nxb TH Tp Hồ Chí Minh, 2009.

[3] Ingrid Zhang: Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô, Nxb Văn hóa thông tin, 2013.

Vai trò giáo dục trẻ của phụ nữ Việt trong gia đình

1. Trong thời kỳ ấu thơ, ảnh hưởng của người phụ nữ, đặc biệt là người mẹ, người bà đối với đứa trẻ là rất lớn; trong nhiều trường hợp còn có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành nhân cách của một cá nhân.

Nền giáo dục Việt Nam thời nay chủ trương giáo dục theo bốn chuẩn mực: Đức, Trí, Thể, Mỹ. Cả bốn lĩnh vực này, trên một ý nghĩa nào đó, người phụ nữ đều có tác động quan trọng. Nhưng ảnh hưởng lớn nhất đối với trẻ những năm tháng đầu đời là đạo đức. Phụ nữ là “Người thầy đầu tiên” của trẻ. Ngay từ lúc lọt lòng, đứa trẻ đã nhận được sự giáo dục từ người mẹ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy giáo dục trẻ càng sớm càng tốt. Từ 0 đến 6 tuổi được xem là thời kỳ vàng trong giáo dục trẻ. Trong thời gian này, người lớn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển về trí tuệ, nhân cách, tâm hồn của đứa trẻ. Người Do Thái khẳng định: “Giáo dục của mẹ lớn hơn sự dạy dỗ của cả trăm người thầy[1]”.

Có những bằng chứng nghiên cứu khẳng định giáo dục sớm giúp tốc độ phát triển trí thông minh (IQ) nhanh hơn nhiều so với giáo dục muộn. Theo nhà khoa học Nhật Bản – Kimura Kyuichi thì: “Một đứa trẻ chưa sinh ra vốn có tiềm năng về khả năng là 100 độ. Nếu vừa ra đời đã nhân được sự giáo dục lý tưởng thì sẽ có khả năng trở thành người trưởng thành có năng lực 100 độ. Nhưng nếu bắt đầu giáo dục khi trẻ 5 tuổi, dù giáo dục tốt đến mấy, cũng chỉ trở thành người có năng lực đạt mức 60 độ”[2].

2. Từ khi lập quốc đến nay, nhìn chung, phụ nữ Việt Nam có những phẩm chất quý giá: Thương yêu chồng con; hy sinh bản thân cho chồng con; giữ gìn gia phong; tạo phúc cho con cháu, v.v… Hình ảnh người phụ nữ truyền thống được khắc hoạ qua bài “Thương vợ” của nhà thơ Tú Xương:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo xèo mặt nước buổi đò đông.

Hơn thế, người phụ nữ Việt Nam là người sinh thành, nuôi dưỡng, là người thầy thuốc, người thầy giáo (đầu tiên) đối với con trẻ. Với vai trò người thầy giáo, người phụ nữ trong xã hội xưa sẵn sàng gánh vác trách nhiệm thiêng liêng khi người chồng đi xa: “Ngọt bùi thiếp đã hiếu nan/ Dạy con đèn sách, thiếp chàng phụ thân[3]”.

 Nói đến người mẹ Việt Nam ta không được quên một trong những điểm nổi trội là sự quan tâm tu dưỡng nhân cách và tích đức cho con cháu. Họ luôn sống với tâm niệm “Phúc đức tại mẫu”. Làm gì thì làm người phụ nữ cũng phải nghĩ đến để lại phúc cho con, cháu.

Phúc là cái gì rất trừu tượng, nhưng cũng rất cụ thể trong tâm thức người Việt. Sự tích đức của các bà mẹ Việt Nam đơn giản và cụ thể. Đó là chú ý ăn ở cho tốt, năng làm việc thiện, giữ gìn tư cách, nhân phẩm, bảo tồn nề nếp gia đình. “Nghệ thuật làm mẹ của người phụ nữ Việt chủ yếu là ở sự tích đức” (GS Vũ Ngọc Khánh).

Phụ nữ Việt Nam xưa không/ít được học hành, cuộc đời cũng không mấy êm ả nhưng vẫn luôn tin vào một cái phúc đức nào đó do chính họ ăn ở hiền lành tạo ra (“Ở hiền gặp lành”). Đây là một quan niệm truyền thống, có giá trị, đến nay vẫn hiển hiện trong xã hội chúng ta. Từ quan niệm như vậy, người mẹ Việt Nam đã nuôi dưỡng, giáo dục cho xã hội, đất nước những đứa con hữu ích.

Trong xã hội xưa, do ảnh hưởng của Nho giáo, hiếu học dần trở thành một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta. Trong quá trình học tập để thành tài, người phụ nữ có vai trò quan trọng đối với chồng con họ.

Những người mẹ, người vợ đã đảm đang nhiều việc từ sản xuất (nông nghiệp, thủ công, buôn bán) đến nội trợ gia đình để nuôi chồng, con ăn học thành tài và nên người. Làng xã xưa tôn vinh khi người phụ nữ có công giúp chồng con mình ăn học thành tài. Trong bản Hương ước làng Khuông Hạ (nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội) viết: “Nếu người đàn bà nào nhà nghèo chịu khó làm ăn cặm cụi, nuôi chồng con học hành làm nên danh phận thì dân sẽ có chiếu riêng để khi đình đám, phải mời những người ấy ra đình lễ thần nghe hát[4]”.

Chốn đình trung xưa chỉ dành cho nam giới ra tế lễ, bàn việc làng. Hương ước làng Khuông Hạ cho thấy làng này tôn trọng phụ nữ, đánh giá cao công lao của họ trong việc nuôi chồng con học hành đỗ đạt thành tài. Vì thế mà GS Vũ Ngọc Khánh khẳng định: “Đối với nền văn hoá Việt Nam, phụ nữ quả đã có một vài trò rất lớn: vai trò tạo tác, vai trò duy trì, vai trò triển khai[5]”.

Một trong những chức năng của gia đình là chức năng giáo dục. Chức năng này là “lớn nhất, thiêng liêng nhất” (GS Vũ Ngọc Khánh).

Trong xã hội xưa, phụ nữ phải lập gia đình, phải sinh con và giáo dục con thành người. Giáo dục trong gia đình là chính, quan trọng; còn nhà trường, xã hội chỉ hỗ trợ thêm[6]. Ở Pháp, Voltaire đã từng nói: “Bàn tay lắc chiếc nôi là bàn tay cai trị thế giới”. Phụ nữ quả có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội.

Trong xã hội cũ, hầu hết phụ nữ không được ăn học, nên không biết chữ. Vậy họ dạy con như thế nào? Người phụ nữ Việt căn bản dạy con về mặt đạo đức, để hình thành những con người có nhân cách.

Người phụ nữ Việt Nam luôn có niềm tin vào một cái phúc, đức nào đó. Theo họ, con người cần phải sống ngay thẳng, đạo đức thì sẽ hiểu được điều tốt lành. Quan niệm “ở hiền gặp lành”, luận thuyết nhân quả của Đạo Phật, tu dưỡng bản thân, giáo dục của Nho giáo đã chi phối lối nghĩ, lối sống của người phụ nữ Việt. Họ đã truyền dạy những điều này cho con cháu.

Phụ nữ giữ vai trò quan trọng, to lớn đối với đứa trẻ vì khi trẻ mới sinh chưa đến trường thì người mẹ, người bà là những người gần gũi trẻ nhất. Người mẹ cho trẻ bú mớm, ăn uống và vuốt ve, âu yếm đứa nó. Khoa tâm lý học trẻ em cho biết, với những cử chỉ vuốt ve, âu yếm và những câu nói nựng như “cún con của mẹ”… sẽ “theo dòng sữa vào trong từ thớ thịt đứa trẻ”, nó là vô giá với sự hình thành nhân cách con người.

Theo GS Hồ Ngọc Đại, nuôi trẻ thơ không phải chỉ nuôi bằng sữa mà còn nuôi bằng tình thương. Hạt giống tình thương gieo vào thời điểm này là hợp thời nhất. Nó cắm rễ sâu tới điểm tận cùng của tâm hồn con người. Tình thương đó giúp trẻ vững vàng trong cuộc sống, có tâm hồn thanh thản và một bộ óc thông minh[7].

Sự tích đức của các bà mẹ đơn giản chỉ là sự chú ý làm việc thiện, giữ gìn tư cách đạo đức, bảo tồn gia phong. GS Vũ Ngọc Khánh coi “nghệ thuật làm mẹ” của phụ nữ chủ yếu ở sự tích đức. Sự tích đức này không chỉ bảo vệ, giúp ích cho chồng mà còn có tác dụng lâu dài và ảnh hưởng sâu sắc đến con cháu.

Với tư cách là người mẹ, phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách của con cái. Họ là “cô giáo” trong suốt cuộc đời của con. Không chỉ “dạy con từ thuở còn thơ” mà mẹ Việt còn tiếp tục dạy con mình ngay cả khi họ đã trưởng thành, cả khi thành đạt, có cương vị, địa vị cao ngoài xã hội.

Hạnh phúc nhất của người phụ nữ là khi chồng con, gia đình mình thành đạt, hạnh phúc. Với việc sinh con, người phụ nữ đã tạo ra cả một thế giới. Họ có xu thế hướng nội, tập trung vào gia đình mình. Họ tìm thấy niềm vui, lẽ sống, niềm hạnh phúc trong tổ ấm gia đình mình…

Người phụ nữ Việt Nam đáng được tôn trọng, vinh danh. Họ đã vượt qua các thói tục lạc hậu, bất công của xã hội truyền thống để góp phần tạo nên những con người hữu ích cho xã hội. Họ thật xứng đáng với các danh hiệu: “Tay hòm chìa khoá”; “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” (Hồ Chí Minh).

TS. Bùi Hồng Vạn

Tài liệu trích dẫn


[1] Ikeda Daisaku: Thế kỷ XXI: Ánh sáng giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, 2013, tr.15.

[2] Ngô Hải Khê: Phương án giáo dục sớm từ 0-6 tuổi, Nxb Lao động XH, 2013, tr.19.

[3] GS Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Khôi: Gia đình, gia phong trong văn hoá Việt, Nxb Hà Nội, 2012, tr.185.

[4] – Nguyễn Thế Long: Gia đình – Những giá trị truyền thống, Nxb Văn hoá – Thông tin, 2012, tr.23.

[5] Vũ Ngọc Khánh: Văn hoá Việt Nam – Những điều học hỏi, Nxb Văn hoá – Thông tin, 2004. tr.668.

[6] Vũ Ngọc Khánh: Văn hoá Việt Nam – Những điều học hỏi, Nxb Văn hoá – Thông tin, 2004, tr.670.

[7] Hồ Ngọc Đại: Bài báo, Nxb Lao động, 2000, tr.113.

“Tư duy lưỡng hợp” với sinh viên đại học

Chúng ta quan niệm vào học đại học là đã vượt qua một cái “ngưỡng” phổ thông để lên học ở cấp học mới, cao hơn và khác hẳn về chất, nội dung so với phổ thông thì phương pháp học đại học cũng khác phổ thông. Bởi “Đối tượng nào, phương pháp ấy”, “Đối tượng chi phối phương pháp”.

Theo đó, sinh viên vào đại học phải được/tự trang bị một hệ thống phương pháp phù hợp với yêu cầu của cấp học mới.

Bàn đến phương pháp học đại học là một vấn đề rộng lớn mà khả năng và điều kiện có hạn của chúng tôi không cho phép. Vì thế trong bài này, chúng tôi chỉ bàn đến một phương pháp cụ thể – phương pháp “tư duy lưỡng hợp” để góp phần xây dựng phương pháp học tập cho sinh viên hiện nay.

“Tư duy lưỡng hợp” là loại tư duy khi xem xét một sự vật, hiện tượng phải xem xét cả hai mặt: phải, trái; trước, sau; mặt tích cực, mặt tiêu cực… Từ đó tiến tới nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng đang xem xét. Đây là loại tư duy hầu như dân tộc cũng có; nó được phản ánh trong triết học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học…

Ở Việt Nam, “tư duy lưỡng hợp” đã có từ lâu trong lịch sử. Nó có biểu hiện rõ nét trong kho tàng văn hoá dân gian người Việt[2] và được bảo tồn, phát huy đến ngày nay. Chúng ta có thể tìm thấy lối tư duy lưỡng hợp trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong nền văn hoá dân tộc ta.

Trong kho tàng văn học dân gian và kho tàng văn học viết của dân tộc, chúng ta tìm thấy những câu mà khi xem xét về ý nghĩa thấy chúng đối lập nhau. Chẳng hạn, cùng nói về một người, một vị trí trong xã hội xưa, ở chỗ này chúng ta gặp quan niệm: “Một người làm quan, cả họ được nhờ”.

Nhưng ở chỗ khác, ta gặp quan niệm ngược lại: “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Câu trên coi trọng, đề cao địa vị làm quan, nhưng câu dưới thì phủ định lại. Cũng như vậy, chúng ta gặp các câu: “Nhất sĩ, nhì nông”, câu này đề cao giới trí thức phong kiến. Sĩ là số một, cao hơn hẳn nhà nông, nghề nông. Song thời thế không phải lúc nào cũng thế! Chỉ cần đến lúc “hết gạo” phải chạy rông thì lập tức “Nhất nông, nhì sĩ”.

Nói về sự học, dân tộc ta có truyền thống hiếu học. Bao nhân tài của đất nước xưa nay đều “nên thợ, nên thầy nhờ có học”[3]. Nhưng người ta vẫn khuyên nhau: “Ai ơi chớ lấy học trò. Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”.

Trong quan hệ của xã hội xưa, có sự phân biệt đẳng cấp và nghề nghiệp. Vì thế mà mặc dù biết “phi thương bất phú”; nhưng dân ta ít người theo nghề buôn hoặc chỉ buôn bán nhỏ, đã thế còn phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp. Còn ai đó mang lấy nghiệp buôn vào thân thì bị người khác xem/coi thường và họ bị xếp xuống bậc cuối trong thứ bậc “tứ dân”: Sĩ – Nông – Công – Thương.

 Trong xã hội truyền thống, người ta thường coi trọng người đàn ông. Tục ngữ nói rõ: “Đàn ông nông nổi giếng thơi. Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Cái sâu sắc của người đàn bà trong câu trên cũng chỉ bằng cái “cơi đựng trầu”. Trong khi đó, cái nông nổi của người đàn ông đã bằng cái giếng thơi (khơi) rồi.

Song, tình hình không phải lúc nào cũng như vậy. Trong cuộc sống thực, có không ít người phụ nữ tài giỏi, họ chẳng kém gì đàn ông. Thế nên mới có câu: “thấp mưu thua trí đàn bà”.

Trong quan hệ vợ chồng, nhiều người đàn ông tuyên bố: “Nhất vợ, nhìn trời”. Nhưng ở một chỗ khác, trong một bối cảnh khác, nhất là ở nơi quan trên ngó xuống, người ta trông vào thì họ đổi giọng và bấy giờ họ lại nói: “Dạy con từ thuở còn thơ/ Dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về”.

Nói đến chuyện đi đây đi đó, vượt ra khỏi luỹ tre làng, người Việt thường khuyên nhủ nhau: “Đi cho biết đó, biết đây. Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Vẫn biết “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, “Làm trai cho đáng nên trai. Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”… Song ở hoàn cảnh khác, họ lại khuyên nhau: “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”, “Ta về ta tắm ao ta/Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”.

Chuyện quan hệ dòng họ, láng giềng cũng tương tự như vậy. Người ta vẫn thường nói: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Máu chảy đến đâu ruồi bâu đến đấy”. Nhưng cuộc sống cũng dạy con người tình làng, nghĩa xóm trong nhiều trường hợp còn quý/cần hơn tình ruột thịt. Bởi hàng xóm “tắt lửa tối đèn có nhau”, nên mới có câu: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”.

 Trong tình yêu và trong tình nghĩa vợ chồng, người ta vẫn nói: “Một túp lều tranh hai trái tim vàng”; “Chồng ta áo rách ta thương. Chồng người áo gấm xông hương, mặc người”. Nhưng vẫn có những phụ nữ khuyến cáo nhau: “Một giờ ngồi tựa thuyền rồng. Còn hơn cả kiếp ngồi trong thuyền chài”; “Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt. Còn hơn le lói suốt thiên thu”.

Trong quan hệ chính trị, có người quan niệm: “Dân vi bang bản” (Dân là gốc); nhưng ngược lại cũng có cả quan niệm: Dân là gà vịt, quan là chim ưng, gà vịt dùng để nuôi chim ưng!

Đối với thiên nhiên, có lúc người ta ca ngợi sức mạnh con người chinh phục, chế ngự thiên nhiên: “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”, “Vắt đất ra nước thay trời làm mưa”… Nhưng đấy là nói đến mặt làm được của con người.

Song ngẫm lại, con người tự thấy mình còn vô cùng yếu ớt trước sức mạnh ghê gớm của tự nhiên. Vì thế người ta phải cảnh báo, giáo dục nhau: “Núi cao sông hãy còn dài. Dăm năm báo oán, đời đời đánh ghen”…

Tóm lại: “Tư duy lưỡng hợp” là loại tư duy không xa lạ đối với dân tộc ta và nhiều dân tộc khác. Loại tư duy này đòi hỏi phải luôn nhìn các sự vật, hiện tượng trong thế đối lập. Với cách nhìn như vậy sẽ giúp chúng ta nhận chân được bản chất các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

Sinh viên hôm nay, những người sẽ gánh trọng trách của đất nước mai sau cần chuẩn bị hành trang cho mình thật tốt. Hành trang mà mỗi sinh viên cần chuẩn bị, mang theo vẫn sẽ là: Học ở đại học “chủ yếu là nắm lấy phương pháp suy nghĩ…, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề”[4], trong đó hẳn phải có phương pháp “tư duy lưỡng hợp”…

Bùi Hồng Vạn

(Bài đã đăng tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, số 4-1995)


Tài liệu trích dẫn

[2] GS Trần Quốc Vượng: Bài giảng “Phương pháp hay phong cách học đại học” cho sinh viên K25, Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1980.

[3] Dẫn theo sách Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 353.

[4] Phạm Văn Đồng: Hãy tiến mạnh trên mặt trận khoa học và kỹ thuật, Nxb Sự thật, 1969, tr. 33.

NHẶT CHI CON ỐC VÀNG

Phàm là người thì hầu như ai cũng muốn được nhàn hạ, sung sướng. Đấy là một nét tâm lý chung, cũng là một trong những bản tính của con người…

Thế nhưng, nếu tĩnh tâm ngẫm lại thì thấy rõ: từ khởi thủy đến nay, để một trong những loài động vật (theo Đác Uyn) tiến hóa thành người thì phải mất hàng triệu năm. Loài động vật ấy đã phải gian nan, cực khổ đến thế nào…

Từ động vật đến Homo Faber (người biết chế tạo công cụ), rồi Homo Sapiens (người tinh khôn, hiện đại)… là cả một chặng dài tiến hóa trong sự khổ cực, đớn đau…

Vậy mà thời nay, một bộ phận không nhỏ Homo Sapiens lại mong cầu được cái này, cái kia một sớm, một chiều, mọi cái phải đến thật nhanh, càng nhanh, càng tốt!

Mâu thuẫn, phản quy luật đến thế là cùng… Những hệ lụy tai hại đã/đang/sẽ xẩy ra với họ và với cả những người khác…

Mấy chục năm trước, nữ nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có viết:

Nhặt chi con ốc vàng

Sóng xô vào tận bãi

Những cái gì dễ dãi

Chẳng bao giờ bền lâu!

CHÍ LÝ…!!!

Hà Nội, thứ 6, 10-01-2020

Bùi Tâm Văn

Một số khái niệm, thuật ngữ phục vụ chương 1 LSKTVN

TS. BÙI HỒNG VẠN

[Bài viết bổ sung kiến thức, dành cho sinh viên trường Đại học Thương mại, khóa 55DK, lớp học phần Lịch sử kinh tế Việt Nam]

Các bạn sinh viên thân mến!

Ngoài nghe giảng trên lớp, các bạn cần đọc thêm một số tài liệu (được giới thiệu trong Đề cương học phần) và bài viết này để bổ sung kiến thức cho bài học.

Một số khái niệm, thuật ngữ cần nắm: Lực lượng sản xuất, Quan hệ sản xuất, Phương thức sản xuất, Phương pháp luận, Quan điểm lịch sử.

[Nội dung các khái niệm, thuật ngữ trình bày dưới đây được trích rút từ bộ “Từ điển bách khoa Việt Nam”, tập 2 và 3 (xuất bản năm 2002-2003)].

* Lực lượng sản xuất (LLSX):

Biểu hiện trình độ chinh phục của con người và quan hệ của con người với tự nhiên trong từng giai đoạn lịch sử; là sự thống nhất hữu cơ giữa lao động đã tích lũy (tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động) với lao động sống (những người sử dụng tư liệu sản xuất) để sản xuất của cải nhằm đáp ứng những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người trong mọi xã hội.

LLSX chủ yếu là người lao động, có thói quen và kỹ năng lao động, có kinh nghiệm, tri thức và trình độ chuyên môn – kỹ thuật kết hợp với những yếu tố vật chất của sản xuất như tư liệu sản xuất (tức công cụ lao động và đối tượng lao động). Đối tượng lao động là những gì mà con người tác động đến trong khi sản xuất và để tạo ra của cải vật chất (đất đai, sông, rừng, nguyên liệu, khoáng sản, v.v…).

Tư liệu lao động hay công cụ lao động là tổng hợp những vật thể mà con người làm cho thích ứng và dùng làm vật dẫn tác động đến đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm (gồm: dụng cụ, máy móc, những thiết bị phức hợp và cả những phương tiện phục vụ sản xuất như hệ thống chứa đựng, chuyên chở, thông tin, đường sá, nhà cửa, công trình và những cấu trúc hạ tầng khác), là chỉ tiêu nói lên trình độ kĩ thuật của sản xuất vật chất, là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong LLLSX.

Cùng với sự cải tiến và hoàn thiện tư liệu lao động, kinh nghiệm sản xuất của con người càng phát triển, những ngành sản xuất mới xuất hiện và sự phân công lao động trong xã hội ngày càng mở rộng.

Trong thời đại cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện nay, khoa học được ứng dụng ngày càng rộng rãi vào sản xuất đã trở thành LLSX trực tiếp; tri thức khoa học được vật chất hóa và kết tinh vào mọi nhân tố của LLSX.

LLSX được kế thừa và phát triển liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác và luôn gắn bó một cách hữu cơ với QHSX trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định, hợp thành PTSX. LLSX phát triển và biến đổi đòi hỏi một sự thay đổi tương ứng của QHSX.

Đây là mối quan hệ biện chứng được thể hiện qua quy luật phù hợp của QHSX hiện có với LLSX. Theo quy luật này, khi QHSX hiện có không còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX, nghĩa là khi QHSX và LLSX đã mâu thuẫn với nhau đến độ gay gắt nhất thì cách mạng xã hội nổ ra, một QHSX mới hình thành phù hợp với tính chất và trình độ mới của LLSX.

[tập 2, tr.785].

* Quan hệ sản xuất (QHSX):

Quan hệ kinh tế – xã hội giữa người với người hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất và vận động của sản phẩm xã hội từ sản xuất đến tiêu dùng; về cơ bản nó thể hiện ở mặt quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất.

Bản chất của QHSX do chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định. QHSX gồm những quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất, trong sự trao đổi hoạt động lẫn nhau, trong hình thức phân phối sản phẩm và trong quá trình quản lí hoạt động kinh tế, từ sản xuất, phân phối, lưu thông (trao đổi), đến tiêu dùng. Tất cả các mối quan hệ đó được hình thành về cơ bản phụ thuộc vào chế độ sở hữu.

Mỗi phương thức sản xuất (PTSX) nhất định trong lịch sử có một tổng thể các QHSX riêng của nó, trong đó có một loại hình QHSX chủ đạo, có vai trò quyết định. Trong các hình thái kinh tế – xã hội có đối kháng giai cấp, đã nảy sinh quan hệ thống trị và bị trị, sản xuất phục tùng lợi ích của giai cấp bóc lột. QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một quy luật…” .

[tập 3, tr.576].

* Phương thức sản xuất (PTSX):

Là sự thống nhất của hai mặt chế ước lẫn nhau là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đặc trưng cho tính chất của nền sản xuất xã hội. LLSX là nội dung vật chất, còn QHSX là hình thức xã hội của sản xuất; do đó, LLSX quyết định QHSX, QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX.

Khi QHSX không còn phù hợp với LLSX và kìm hãm LLSX, thì nảy sinh sự cần thiết khách quan phải thay thế PTSX cũ, lạc hậu bằng PTSX mới, tiến bộ hơn. Quá trình này được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội mà giai cấp lãnh đạo cách mạng bao giờ cũng đấu tranh cho một PTSX mới, tiên tiến.

PTSX giữ vai trò quyết định trong hệ thống các điều kiện vật chất và tinh thần của đời sống xã hội. PTSX là biểu hiện đặc trưng cho lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất của con người, giữ vai trò quyết định trong các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Mọi quá trình hoạt động và phát triển xã hội đều cơ bản và xét cho cùng là phụ thuộc vào PTSX. Lịch sử phát triển của xã hội, trước hết là sự phát triển của PTSX, là sự thay thế các PTSX kế tiếp nhau từ thấp đến cao gắn liền với các hình thái kinh tế – xã hội: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.

Sự tác động qua lại giữa QHSX và LLSX là động lực bên trong của sự vận động, phát triển của PTSX, thường xuyên gây nên biến đổi trên từng mặt của PTSX, và cuối cùng đưa đến cách mạng xã hội, làm thay đổi cả PTSX của xã hội.

PTSX mới ra đời đánh dấu một giai đoạn mới, cao hơn. Những thay đổi về PTSX dẫn đến sự thay đổi toàn bộ chế độ xã hội, thay đổi từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, thay đổi cả những tư tưởng và thể chế xã hội.

[tập 3, tr.529].

* Phương pháp luận (PPL):

Là lí luận về các phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo hiện thực; là hệ thống các nguyên tắc, biện pháp vận dụng các nguyên lí lý luận vào việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong một ngành khoa học nào đó.

Có các loại nguyên lí lý luận sau:

1) Nguyên lí thế giới quan gắn liền với bản tính của khách thể nghiên cứu và có tác dụng định hướng trong quá trình tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp;

2) Các nguyên lí chung về các cách xem xét, nghiên cứu sự vật, hiện tượng, các nguyên tắc chung về việc vận dụng các phương pháp, về việc sử dụng tài liệu, sự kiện trong một khoa học nhất định, các nguyên lí và các nguyên tắc chung này gắn liền với đặc điểm của khách thể nghiên cứu, chúng không trực tiếp nằm trong nội dung của phương pháp;

3) Lý luận về bản thân các phương pháp (nội dung, phạm vi và mối quan hệ qua lại giữa các phương pháp) của một ngành khoa học nào đó.

PPL là một bộ phận không thể thiếu của mỗi bộ môn khoa học, là học thuyết về các phương pháp được sử dụng trong bộ môn khoa học ấy, nghĩa là mỗi khoa học đều có PPL riêng của mình.

Một số bộ môn khoa học có liên quan rất chặt chẽ với nhau, vì vậy tồn tại PPL chung của một số bộ môn khoa học. Nhưng PPL chung nhất, phổ biến nhất, áp dụng được cho mọi bộ môn khoa học là PPL triết học. Phương pháp biện chứng duy vật có những tính chất ưu việt, đáp ứng được đầy đủ nhất các yêu cầu của khoa học hiện đại, vì vậy nó là cơ sở để xây dựng PPL khoa học đúng đắn và đồng thời bản thân nó là PPL chung nhất, phổ biến nhất của mọi khoa học.

[tập 3, tr.521].

* Quan điểm lịch sử (QĐLS):

Phương pháp nhận thức các sự vật và hiện tượng theo quá trình phát sinh, phát triển của nó trong những điều kiện lịch sử nhất định, như là sản phẩm của sự phát triển lịch sử. QĐLS có những nét đặc trưng sau:

1) Nó xem xét không phải sự thay đổi đơn giản, mà là sự tự vận động, kết cấu nội tại, nguồn gốc của sự tự vận động;

2) Quá trình phát triển của sự vật và hiện tượng, những giai đoạn chủ yếu đã trải qua, thực trạng hiện nay, xu thế phát triển tương lai, khả năng tối ưu và những điều kiện khách quan, chủ quan cho sự thực hiện khả năng tối ưu ấy;

3) Tính kế thừa trong sự phát triển của mọi sự vật và hiện tượng.

[tập 3, tr.573].

Chúc các bạn thành công trong học tập!

Chào thân ái!

Hà Nội, 03-01-2020

Chuyện KHO BÁU

Ngày xửa ngày xưa, ở nước Ấn Độ cổ có một tên trộm đang chạy trốn lính gác thì nhìn thấy một người ăn mày ngủ trong một con hẻm tối.

Hắn bí mật bỏ món đồ trang sức nhỏ nhưng vô giá ăn trộm được vào túi của người ăn mày. Sau đó, hắn chạy đi với ý định sẽ lấy lại món đồ này sau khi đã thoát khỏi sự truy bắt của lính gác.

Đến đêm tên trộm quay lại thì bị lính gác đâm chết. Người ăn mày bỗng dưng vớ bở. Trong túi của ông ta có đủ tài sản để sống dư dả phần đời còn lại.

Nhưng điều đó đã không xẩy ra, bởi người ăn mày chưa bao giờ kiểm tra túi của mình, nên không biết bên trong có của quý. Ông ta tiếp tục cuộc sống của một kẻ ăn mày…!!!

CHUYỆN ĂN…

Ngày xưa ông bà ta dạy về chuyện “ăn”:

– Có thực mới vực được đạo

– Ăn vóc, học hay

Học ăn, học nói, học gói, học mở

– Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

– Vân vân và vân vân…

Càng ngẫm càng thấy người xưa sâu sắc, thâm thúy, đã để lại cho chúng ta những chỉ dẫn = “đạo” sống!

Nói rộng ra ta thấy, xưa người phương Đông quan niệm “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Đặc biệt hơn họ còn cho rằng: “Ăn uống phải tuân theo nguyên lý THIÊN – ĐỊA – NHÂN hợp nhất”.

Tiếp cận vấn đề theo hướng đó, nhà khoa học – lương y giàu kinh nghiệm Ngô Đức Vượng qua cuốn “Minh triết trong ăn uống của phương Đông” (2016) đã:

– Cung cấp kiến thức tổng quát, tư duy thông thái, giúp người đọc có tầm nhìn và sự đánh giá vấn đề sức khỏe một cách sáng suốt, sâu sắc;

– Cung cấp nhiều kinh nghiệm thực tiễn giúp cho việc áp dụng vào cuộc sống một cách cụ thể, tối ưu;

– Cung cấp nhiều tư liệu được hệ thống hóa nên có thể sử dụng như một thư viện tra cứu, khi cần cho độc giả…

“Chính vì những lẽ đó mà Minh triết trong Ăn uống phương Đông của ông là một đóng góp lớn, có giá trị trong lĩnh vực nâng cao sức khỏe và dân trí cho mọi người dân Việt Nam” (Lời giới thiệu lần tái bản thứ 6, 2016).

P/s: Nếu quan tâm đến chủ đề ăn uống như một triết lý sống để có sức khỏe tốt, bạn nên đọc cuốn sách này…

Hà Nội, ngày 31-12/2019

Bùi Tâm Văn

PHƯƠNG PHÁP ĐỐI THOẠI SOKRATES

Ở phần kết cuốn sách “Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục”, Tony Wager – tác giả cuốn sách có viết: “Gần 2.500 năm về trước, Sokrates đã được xem là một người thầy rất giỏi, và đến hôm nay có lẽ cũng vậy[1]”. Đúng, Sokrates là một trong những người được ngưỡng mộ nhất trong lịch nhân loại[2]. Cuộc đời, di sản mà Sokrates để lại đã gây kinh ngạc và gợi nhiều cảm hứng cho hậu thế.

Bài viết này sẽ đề cập đến một trong những di sản tinh thần đặc biệt của ông, đó là phương pháp (hay nghệ thuật) đối thoại của Sokrates.

1. Vài nét về cuộc đời Sokrates

Sokrates sinh năm 469[3] và mất năm 399 TCN. Cha ông là một nhà điêu khắc, còn mẹ làm hộ sinh. Sokrates là một người đàn ông xấu xí: vóc dáng thấp, béo, ục ịch, bụng phệ, cổ ngắn, đầu to hói, trán dô to, mũi dẹt và hếch cùng với lỗ mũi rộng, răng dày, mặt phù, mắt lồi. Đã thế ông còn có cái nhìn “lườm nguýt” nên không gây được thiện cảm với nhiều người khi tiếp xúc.

Sokrates luôn mặc quần áo cũ kỹ, bẩn và đi chân đất. Hầu như suốt ngày la cà cùng đám thanh niên (đệ tử của ông) ở những nơi công cộng ở thành thị Athens.

Sokrates kết hôn với người phụ nữ có tên Xanthippe vào năm ông 50 tuổi. Bà vợ đối xử với chồng không được tốt. Trong chuyện này, ông cũng có lỗi, ông hầu như không giúp được gì cho vợ con… Sokrates có một câu nói nổi tiếng về hôn nhân: “Nên lấy vợ! Gặp vợ hiền, bạn được hạnh phúc; gặp vợ dữ, bạn thành… triết gia; đằng nào cũng có lợi”[4]. Sokrates giỏi khiêu vũ và cho là khiêu vũ giúp cho cơ thể khỏe mạnh. Trong giao tiếp, ông thích chế nhạo, chọc ghẹo người khác.

Sokrates để lại nhiều danh ngôn:

“Sự giàu có và quyền quý không mang lại một phẩm chất nào”; “Chết dũng cảm còn hơn sống nhục nhã”; “Những người trẻ tuổi cần soi gương thường xuyên hơn: người đẹp thì soi để làm sao không làm hoen ố sắc đẹp của mình; người xấu soi để làm cho cái xấu của mình trở nên đẹp hơn nhờ giáo dục”; “Trở nên thấp kém hơn bản thân mình không phải là cái gì khác ngoài sự ngu dốt, trở nên cao cả hơn bản thân mình không phải là cái gì khác ngoài sự thông thái”; “Tôi ăn để sống, còn những người khác sống để ăn”; “Sự mở đầu tốt đẹp không phải là điều vặt vãnh, mặc dù mọi cái đều bắt đầu từ điều vặt vãnh”; “Tôi biết rõ là tôi không biết gì cả[5]; v.v…

Sokrates sống cuộc đời của một hiền nhân. Ông dành phần lớn thời gian cho các cuộc “tranh luận trên đường phố”… Sokrates là người có đầu óc sắc sảo, có khả năng nổi trội về phê bình, biện luận. Ông thường tiến hành các cuộc truy vấn đối với những người khác (tướng lĩnh, thương nhân, thợ thủ công, nhà chính trị, người dân, thanh niên). Sokrates chọc giận, gây khó chịu cho nhiều người trong những cuộc tiếp xúc, khiến nhiều người không ưa ông. Ông bị buộc tội “đầu độc thanh niên” và phải uống thuốc độc tự kết liễu cuộc đời vào năm 399 TCN.

Sokrates có nhiều môn đệ suất sắc, trong đó hai người xuất sắc nhất chính là Platon và Xénophon. Sokrates không để lại di sản tư tưởng của mình trong các văn bản. Tư trưởng triết học của ông được hậu thế biết đến đều qua các biểu văn của người khác, đặc biệt là qua các tác phẩm của Plato.

Sokrates là một cột mốc quan trọng trong lịch sử triết học phương Tây. Trong Sokrates hội tụ ba con người; đó là con người trí thức, con người triết gia và một nhà nhân quyền[6].

Mặc dù được xem là một hiền nhân, một người khôn ngoan nhất thời cổ Hy Lạp. Nhưng Sokrates vẫn tự cho mình là người không biết gì cả (thực ra đây chỉ là sự giễu nhại của ông). Khi nói đến Sokrates, người ta thường nhắc đến hai câu nổi tiếng của ông: “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả”, “Hãy biết chính mình!”[7].

Sokrates là người có học vấn uyên bác, ông đã từng là một chiến binh dũng cảm, nhưng chưa bao giờ tham gia vào một công việc nào của nhà nước ở Athens thời bấy giờ. Phần lớn thời gian trong cuộc đời mình Sokrates dành để thực hiện một sứ mệnh cao cả là “hộ sinh tinh thần” cho dân chúng Athens.

Không giống như nhiều học giả, triết gia khác, Sokrates không thực hành, hoạt động triết học trong tháp ngà. Hàng ngày ông cùng những môn đệ của mình lang thang trên đường phố, ở những nơi công cộng, giữa chợ Athens để trao đổi, tranh luận với nhiều người. Khác với các biện sĩ đương thời bán trí khôn kiếm tiền, Sokrates dạy học miễn phí cho đám thanh niên.

2. Phương pháp đối thoại của Sokrates

Khác thời nay, trong thời cổ đại, khi khoa học, kỹ thuật chưa phát triển các bậc đại sư như Đức Phật, Khổng Tử, Sokrates đều dạy học theo lối truyền khẩu, thông qua các cuộc đối thoại để truyền đạt tri thức hoặc làm rõ các vấn đề trong bài học.

Sokrates đặc biệt ưa dùng đối thoại trực tiếp trong dạy học. Giải thích về điều này, Sokrates nói: “Sáng tác thành văn không thể tái hiện cuộc đối thoại thực sự, thậm chí nó còn trở thành trở ngại đối với sự giao tiếp của con người. Người ta không thể hỏi một cuốn sách giống như hỏi một người sống… Văn viết tạo ra thói hay quên và dễ đem lại cho người ta cảm tưởng “biết nhiều”, kỳ thực thì vẫn ngu dối. Đối thoại là “lời nói đích thực, sống động và có hồn của người hiểu biết”.

Có thể nói, cống hiến lớn nhất của Sokrates là đã mang triết học từ trên trời xuống dưới mặt đất. Thay vì bàn chuyện vũ trụ cao xa như các bậc tiền bối, Sokrates quan tâm đến những vấn đề của cuộc sống con người. Ông tin rằng mọi người ai ai cũng biết lẽ phải, đều làm theo lẽ phải nếu được thức tỉnh.

Để thực hiện sứ mệnh “khai dân trí”, Sokrates đã dựa vào phương pháp hộ sinh của mẹ mình để xây dựng thuật/phương pháp đối thoại, giúp dân chúng thành Athens tự tìm lấy lẽ phải, chân lý.

Về sau phương pháp phát hiện ra chân lý nhờ hỏi – đáp[8] (đối thoại) của Sokrates trở thành một phương pháp, thủ thuật làm triết học và khoa học nổi tiếng, có giá trị của phương Tây.

Ta có thể hình dung về thuật (hay nghệ thuật) đối thoại hỏi – đáp để truy tầm chân lý của Sokrates bao gồm các nội dung và qua bốn bước sau đây:

 * Thứ nhất: Giả vờ không biết để nhờ người đối thoại giảng cho (có người gọi đây là “sự giả ngây mỉa mai của Sokrates”, Frédéric Lenoir).

Mỗi khi có ai đó nói chuyện với Sokrates, cho dù lúc đầu người đó nói về một chủ đề hoàn toàn khác thì Sokrates cũng tìm mọi cách đưa họ về câu chuyện nói đến chính người đó. Sau đó, bằng những câu hỏi hoặc là sự châm biếm, mỉa mai ông chứng minh cho người đó biết thật ra anh ta chẳng biết gì (!).

* Thứ hai: Sokrates dùng phương pháp quy nạp để xây dựng từng bước về cái biết một cách vững chắc. Đó là phân tích chính xác những ví dụ cụ thể trong đời thường; từ đó rút ra những kết luận và định nghĩa tạm thời.

* Thứ ba: Bằng phương pháp định nghĩa, làm cho những khẳng định tạm thời ấy ngày càng tinh vi và chính xác hơn.

* Thứ tư: Có được những định nghĩa rõ ràng, phổ quát về vấn đề đang bàn.

Có thể nói, phương pháp đối thoại của Sokrates trở thành cơ sở cho sự phát triển triết học và khoa học của nhiều thế hệ sau này.

Chúng ta có thể lấy nhiều đối thoại làm minh chứng và dựa vào đó để phân tích làm rõ thuật/phương pháp đối thoại đặc biệt của Sokrates. Sau đây là hai cuộc đối thoại[9] tiêu biểu cho phương pháp – thuật “hỏi – đáp” để đi đến chân lý của Sokrates:

  • Cuộc đối thoại thứ 1 (Sokrates đối thoại với Laches):

– Sokrates: Laches, hãy thử nói xem lòng can đảm là gì?

– Laches: Sokrates, theo tôi điều đó chẳng có gì khó. Nếu một người sẵn sàng đứng trong quân ngũ, đối mặt với kẻ thù và không chạy trốn thì người đó dũng cảm.

– Sokrates: Trong trận Plataea, người Sparta nổi dậy chống lại người Ba Tư, nhưng không sẵn sàng chiến đấu và đã rút lui. Khi quân Ba Tư đuổi theo, hàng ngũ của họ bị phá vỡ; sau đó người Sparta quay lại chiến đấu như thể sẵn sàng tử vì đạo và nhờ thế mà giành được thắng lợi.

Sokrates dẫn dắt cuộc đối thoại theo hướng buộc Laches phải nêu quan điểm thứ hai – lòng can đảm là một dạng của sự bền bỉ. Đến đây, Sokrates lại chỉ ra sự bền bỉ có thể bị hướng vào mục tiêu không chính đáng. Để phân biệt lòng can đảm thực sự với sự cuồng nhiệt điên rồ thì cần có một yếu tố khác. Lúc đó, bạn đồng hành của Laches là Nicias, theo sự dẫn dắt của Sokrates, đã đề xuất lòng can đảm sẽ phải đi kèm với tri thức, sự nhận thức cái thiện và cái ác và không phải lúc nào cũng gắn với chiến tranh.

Vậy là, chỉ qua một cuộc trò chuyện ngắn ngoài đường người ta cũng có thể phát hiện ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về định nghĩa chuẩn cho một đức tính rất được ngưỡng mộ của người Athens thời đó là lòng can đảm.

Họ đã không tính đến lòng can đảm bên ngoài chiến trường hay tầm quan trọng của tri thức đi kèm với sự bền bỉ. Vấn đề thảo luận tưởng tầm thường nhưng lại có ngụ ý vô cùng to lớn.

Nếu một vị tướng cho rằng việc ra lệnh cho quân đội của mình rút lui là hèn nhát, ngay cả khi đó là hành động hợp lý duy nhất, thì việc định nghĩa lại lòng can đảm sẽ mở rộng những lựa chọn và giúp ông ta đối phó với những lời chỉ trích của người khác.

  • Cuộc đối thoại thứ 2 (Sokrates đối thoại với Meno):

– Sokrates: Theo ngài những thứ tốt có nghĩa là sức khỏe và tài sản?

– Meno: Tôi nghĩ nó bao gồm cả vàng và bạc, cùng một vị trí cao và danh giá trong bộ máy nhà nước.

– Sokrates: Đó có phải là những thứ duy nhất mà ngài cho là tốt không?

– Meno: Đúng, ý tôi là tất cả những thứ kiểu như vậy.

– Sokrates:… Ngài cho rằng việc “có được” những thứ đó có cần phải “công bằng và chính đáng” không, hay điều đó với ngài không quan trọng?

Liệu ngài có coi một người là có phẩm hạnh ngay cả khi họ có được những thứ tốt một cách không công bằng hay không?

– Meno: Chắc chắn là không.

– Sokrates: Như vậy có vẻ là việc có được [vàng và bạc] phải gắn với sự công bằng, chừng mực, lòng hiếu thảo hoặc những yếu tố khác của phẩm hạnh…

Thực ra, việc không có vàng bạc, nếu xuất phát từ thất bại trong việc có được chúng… trong những trường hợp mà việc có được chúng là không chính đáng, thì bản thân nó lại là phẩm hạnh.

– Meno: Có vẻ như vậy.

– Sokrates: Như thế có nghĩa là việc có các thứ đó không hề làm cho một người trở nên tốt đẹp hơn là không có chúng, đúng vậy không?

– Meno: Kết luận của ngài có vẻ như là tất yếu.

Sau đó, Sokrates còn chỉ cho Meno thấy tiền bạc và ảnh hưởng của bản thân chúng không phải là những đặc điểm cần và đủ của phẩm hạnh. Người giàu có thể được ngưỡng mộ nhưng điều đó còn phụ thuộc vào việc tài sản của họ từ đâu mà có. Và sự nghèo khó bản thân nó không cho thấy điều gì về giá trị đạo đức của một cá nhân.

Không có lý do ràng buộc nào để một người giàu cho rằng tài sản của mình đảm bảo cho phẩm hạnh. Và cũng không có lý do ràng buộc nào để một người nghèo nghĩ rằng sự nghèo khó của mình là dấu hiệu của sự đồi bại.

3. Kết luận: Chúng ta học gì từ Sokrates?

Sokrates là một trong những triết gia vĩ đại của nhân loại. Sokrates là trung tâm của thời đại cổ điển. Theo một ý nghĩa nào đó, Sokrates là tâm điểm của của lịch sử tư tưởng cổ đại. Tư tưởng triết học của ông là sự hội tụ các con đường phát triển trước đó, rồi mở ra những khởi xướng mới, kéo dài trong suốt giai đoạn tiếp theo.

Mặc dù Sokrates không xây dựng một học thuyết toàn diện và hệ thống; song, ông vẫn được xem là người thực hiện một “cuộc cách mạng trong triết học”. Là vì trước ông, triết học phương Tây chỉ quan tâm đến vũ trụ, tự nhiên; đến ông triết học bắt đầu được kéo từ trên trời xuống dưới đất.

Chúng ta học gì từ Sokrates? Hậu thế học được nhiều điều có giá trị, ý nghĩa từ triết gia vĩ đại này. Xét từ giác độ tri thức – kinh nghiệm – học thuật, chúng ta có thể học Sokrates 5 điều sau đây[10]:

1) Biết nghe và biết hỏi là yếu tố cơ bản để thành công. Nhưng hỏi không phải để truy bức, để bắt bí mà để người được hỏi có dịp suy nghĩ và tự trả lời: câu trả lời và giải pháp là do chính họ tìm ra;

2) Kiểm tra có phê phán sự hiểu biết của bản thân;

3) Nền móng của đối thoại là sự trung thực, minh bạch, là sự tin cậy lẫn nhau…;

4) Tránh mọi sự cực đoan: “Sự cực đoan bao giờ cũng tạo ra sự cực đoan ngược lại. Thời tiết cũng thế, thân thể ta cũng thế, nhà nước, quốc gia đều thế cả”;

5) Không cần sống khổ hạnh (“ăn và uống mới làm cho xác và hồn gặp nhau”)…

Còn về nhân cách thì chúng ta học từ Sokrates tinh thần dũng cảm trong đấu tranh bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải và nhân phẩm của mình. Đúng như học giả Bùi Văn Nam Sơn đánh giá – ông là một “tượng đài lẫm liệt của nhân cách: nhân cách của người trí thức đích thực[11]”. Sokrates cũng là nhà triết học sống theo những gì mình cho là đúng. Tư tưởng triết học và cuộc đời ông hòa làm một.

Đặc biệt cần nhấn mạnh thêm về phương diện phương pháp, ông đã để lại cho nhân loại một phương pháp – nghệ thuật đối thoại tuyệt vời. Chúng ta có thể khai thác vận dụng phương pháp này trong dạy học.

Cho đến hôm nay, phương pháp Sokrates vẫn còn nguyên giá trị trong việc nêu câu hỏi truy vấn, dẫn dắt người học từng bước chiếm lĩnh tri thức và chân lý. Nếu được vận dụng tốt, phương pháp này sẽ góp phần tích cực vào phát triển năng lực cho người học về các kỹ năng: đặt câu hỏi, hành xử với các ý tưởng, biện luận… và truyền đạt thông tin rõ ràng. Đây là những kỹ năng tất cả các thành phần ưu tú của các xã hội hiện đại đều cần đến[12].

Tài liệu tham khảo

[01] Tony Wagner: Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục (The Global Achievenet Gap), Nxb. Thời đại, 2014.

[02] Frédéric Lenoir: Sokrates, Chúa Giêsu, Đức Phật – ba bậc thấy của cuộc sống, Đại học Hoa Sen, Nxb. Hồng Đức, 2017.

[03] Bùi Văn Nam Sơn: Trò chuyện triết học, Nxb. Tri thức, 2012.

[04] Bernard Morichère & nhóm giáo sư triết học các trường đại học Pháp: Triết học Tây Phương – Từ khởi thủy đến đương đại, Nxb. Văn hóa thông tin, 2010.

[05] P.S. Taranốp: 106 nhà thông thái (cuộc đời, số phận, học thuyết, tư tưởng), Nxb. Chính trị quốc gia, 2012.

[06] Đỗ Minh Hợp: Lịch sử triết học phương Tây, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, 2014.

[07] PGS.TS. Nguyễn Tấn Hùng: Lịch sử triết học phương Tây, từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức, Nxb. Chính trị quốc gia, 2012.

[08] Dagobert D. Runes: Lịch sử triết học, từ cổ đại đến cận hiện đại, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2009.

[09] Nguyễn Ước: Các chủ đề triết học, Nxb. Tri thức, 2009.

[10] Alain De Botton: Sự an ủi của triết học, Nxb. Thế giới, 2015.

(Đã đăng tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 1-12/2019)

TS. Bùi Hồng Vạn

Trường Đại học Thương mại (TMU)


[1] Tony Wagner: Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục (The Global Achievenet Gap), Nxb. Thời đại, DT Book, 2014, 331.

[2] Forrest E. Baird: Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đến Derrida, Nxb. Văn hóa thông tin, Công ty Minh Trí – NS Văn Lang, 2006, tr.9.

[3] Có tài liệu nói Sokrates sinh năm 470 TCN (Forrest E. Baird: Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đến Derrida, Nxb. Văn hóa thông tin, Công ty Minh Trí – NS Văn Lang, 2006, tr.9).

[4] Bùi Văn Nam Sơn: Trò chuyện triết học, Nxb. Tri thức, 2012, tr.22.

[5] P.S.Taranốp: 106 nhà thông thái (cuộc đời, số phận, học thuyết, tư tưởng), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.150.

[6] Bùi Văn Nam Sơn: Trò chuyện triết học, Nxb. Tri thức, 2012, tr.21

[7] Bùi Văn Nam Sơn: Trò chuyện triết học, Nxb. Tri thức, 2012, tr.23.

[8] P.S. Taranốp: 106 nhà thông thái, Nxb. Chính trị quốc gia, 2012, tr.146-147.

[9] Hai cuộc đối thoại này được trích từ sách Sự an ủi của triết học của Alain de Botton, Nxb. Thế giới xuất bản năm 2015, tr.26-29.

[10] Bùi Văn Nam Sơn: Trò chuyện triết học, Nxb. Tri thức, 2012, tr.25.

[11] Bùi Văn Nam Sơn: Trò chuyện triết học, Nxb. Tri thức, 2012, tr.21.

[12] Tony Wagner: Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục (The Global Achievenet Gap), Nxb. Thời đại, 2014, tr.331-332.

Ngẫm về một nét “văn hóa” kinh doanh

Tôi không thường xuyên đi mua sắm, và nếu có sopping thì chủ yếu là đến một số nhà/hiệu sách, shop bán hàng điện tử, điện thoại, laptop…

Chuyện tôi kể ra đây có thể nhiều người cũng gặp phải:

Đó là khi bước vào một cơ sở kinh doanh nào đó, khách hàng sẽ được nhân viên bán hàng gật đầu chào và cất tiếng hỏi: ông bà, chú, bác, anh, chị, bạn… có cần giúp gì không ạ?

Khách hàng dù không muốn cũng phải đáp lại. Sau giây phút đó nhân viên cứ bám riết lấy khách hàng không rời nửa bước…

Người khác nghĩ thế nào tôi không biết. Còn tôi thấy cứ “sao sao” ấy, chẳng thoải mái, dễ chịu chút nào với cách “chăm sóc” khách hàng quá kỹ như vậy…

Theo ý tôi, nhân viên bán hàng chỉ cần tỏ thái độ lịch sự chào hỏi chút ban đầu, sau đó để khách hàng tự do thoải mái đi xem hàng. Khi cần họ sẽ gọi hỏi thì tốt hơn…

Khi tới cửa hàng có khách tìm mua hàng ngay; cũng có người muốn vào xem hàng, chưa có ý định mua. Thậm chí họ muốn so sánh với những nơi bán khác rồi mới quyết định mua hàng hay không…

So với thời bao cấp, người đi mua thời nay sướng hơn rất nhiều. Họ được tôn trọng, được đối xử như “thượng đế”. Nhưng vì sự quan tâm, chăm sóc “quá kỹ”, các thượng đế lại cảm thấy khó chịu…

Vậy nên các cơ sở kinh doanh, các nhân viên bán hàng cần rút kinh nghiệm ứng xử cho phù hợp, giúp khách hàng vui vẻ, dễ chịu. Làm sao để cuối cùng cả hai (người bán lẫn người mua) đều cảm thấy win-win, happy…!!!

Sự tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp (Phan Ngọc)

BÌA TRƯỚC SÁCH

Tiếp xúc văn hóa Đông Tây diễn ra từ mấy trăm năm trước, thậm chí còn xa hơn…

Việt Nam trong tiến trình lịch sử thế giới đã có sự tiếp xúc ngày càng rõ nét với văn hóa phương Tây, trong đó có văn hóa Pháp.

Tiếp xúc văn hóa Đông Tây, cụ thể hơn là tiếp xúc văn hóa Việt – Pháp đã có nhiều nghiên cứu, chương trình giảng dạy cho sinh viên một số trường đại học.

Với chỉ 218 trang, khổ 14×20,5, cuốn sách của Phan Ngọc không chỉ đẹp về hình thức (cái đẹp dung dị, không màu mè) mà còn “nặng đồng cân” về nội dung khi viết về chủ đề này. Nghiên cứu của Phan Ngọc, như ông nói, thai nghén từ thập niên 1960 đến nay (2018) mới chính thức công bố.

Ngoài lời nói đầu, nội dung sách được chia thành 8 chương. Trong đó:

* Chương I: Sự tiếp xúc với phương Tây trước cuộc xâm lược;

* Chương II: Triều đình Việt Nam trước họa mất nước;

* Chương III: Nhận xét chung về sự tiếp xúc giữa đạo Gia Tô và văn hóa cũ;

* Chương IV: Quá trình diễn biến tư tưởng của Việt Nam trong gần một thế kỷ (1859-1945);

* Chương V: Sự đổi mới tư tưởng;

* Chương VI: Quá trình tiếp thu văn hóa Pháp;

* Chương VII: Sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa Việt Nam và Pháp;

* Chương VIII: Sự tiếp xúc văn học.

Diễn trình tiếp xúc văn hóa của hai dân tộc đã được tác giả nghiên cứu kỹ lưỡng và trình bày một cách cô đọng thông qua một số biểu hiện nổi bật liên quan về tôn giáo, hệ tư tưởng, ngôn ngữ và văn học…

Trong lời nói đầu, Phan Ngọc nói: “Nước Việt Nam là nước nhỏ. Chúng ta sẽ làm việc nhỏ để đổi mới cuộc sống của nhân dân lao động”. Tôi hiểu ý Phan Ngọc muốn diễn đạt việc nghiên cứu và công bố của ông là một việc nhỏ để góp phần công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Nhưng khi đọc công trình “nhỏ” này, tôi lại thấy nó không hề nhỏ chút nào, nó có giá trị lớn trong mắt tôi…!!!

Hà Nội, ngày 25-12-2019

Bùi Hồng Vạn

ĐIỀU ƯỚC 100

Khi đi ngang qua con đường giữa công viên, Ngang chợt thấy một ông già ngồi trên chiếc ghế dài, giữa một bầy chim đậu xung quanh.

Ông chủ bán thức ăn chim chỉ biết lắc đầu nhìn ông. “Ầy dà, đáng thương lắm. Ngày nào cũng ngồi đấy, cho mãi đến gần tối mới đi”.

Đi qua, Ngang lấy làm lạ, bèn đến ngồi bên cạnh ông già, tay vuốt ve mấy con chim bên cạnh. “Xem chúng kìa, chúng có vẻ quen anh đấy”.

Ông cười nhẹ, giơ lên túi kê còn một nửa. “Bác ngày nào cũng ngồi đây sao?”. “Đúng vậy”, ông già rất điềm đạm. “Sao bác không ở nhà?”. “Về đấy chỉ thêm khó chịu thôi!”, mặt ông thoáng nét buồn.

Trời tối dần, người trong công viên cũng dần về hết. Ngang chốc chốc lại quay lại, thấy ông già rất hiền lành, điềm đạm nhưng nét mặt lại đầy buồn bã. Anh không hiểu tại sao ông già nói về nhà chỉ thêm khó chịu!

“Ông ngoại, ông ngoại”, tiếng reo của đứa cháu gái khiến ông thêm chút bình an khi về nhà. Nhưng câu hỏi của đứa cháu lại khiến ông thêm run rẩy: “Ông ngoại ơi, bao giờ thì ông chết?”; “Ông ngoại ơi, mẹ cháu nói sau khi ông chết thì chị em cháu sẽ mỗi đứa một phòng”.

Lời nói ngây thơ của đứa cháu ngoại như mũi kim nhọn chọc thẳng vào tim ông. Ăn cơm tối xong, ngồi trong phòng của mình, ông nghe con gái, con rể nói chuyện, nét buồn càng hiện trên khuôn mặt già nua.

“Một chút tiền lương của anh khó khăn lắm mới chi dùng nổi cho bốn người, lại nuôi thêm một miệng ăn không ngồi rồi. Em cũng không biết phải làm thế nào nữa”. “Em ít lời đi một chút được không?”

Sau lần đó, ông chỉ muốn ngồi một mình; ông hay tâm sự với Ngang ở công viên, hai người đã trở thành bạn thân. Ông mời Ngang đến nhà chơi, anh biết ông họ Hạ.

Ông cầm một tấm ảnh, nói với Ngang: “Tôi đã hứa với bà vợ quá cố sẽ làm cho con gái 100 điều hạnh phúc, khi chưa làm xong việc đó, tôi chưa muốn chết”. Ông thở nhẹ: “Chỉ còn hai việc nữa thôi”. 

“Đúng vậy, những việc mà cha mẹ làm cho con cái bao giờ cũng nhiều hơn sự hiếu kính của chúng”, Ngang nói và nhìn lên bức hình chụp một gia đình hạnh phúc.

Ngày hôm sau, ông già không đến công viên, Ngang cũng bận việc nên không đến. Ông già không đến vì con gái ốm, ông phải giúp con… Ban ngày, con gái gắng gượng làm một số việc trong nhà, đêm đến lại sốt 40 độ… Con rể mời bác sĩ đến khám.

Ông rất muốn giúp con một việc gì đó, để con gái ông có thể vui lên. Ông nhớ hồi nhỏ, con ông thích nhất ăn chuối, bèn khoác áo đi mua.

Nghe tiếng mở cửa, con gái cố chống tay trên giường nói: “Cha, tối thế này còn ra ngoài làm gì, chả lẽ cha chỉ thích làm phiền người nhà hay sao?”.

Ông không để ý đến lời con gái, vội đi đến cửa hàng hoa quả vì ông biết khi mang chuối về con ông sẽ rất thích.

Cùng thời gian đó, Ngang cũng đang trên đường. “Tai nạn xe rồi! Có người bị thương rồi!” Nhiều người lao qua mặt Ngang.

Anh cũng chạy theo mọi người đến chỗ tai nạn. “Đâm phải một ông già, đáng thương quá!” Mọi người lao xao…

Xin lỗi, xin lỗi tôi nhờ một chút. Ngang chen lên và anh thấy rõ người bị đâm. Kinh ngạc tột độ, anh hét lên: “Bác Hạ! Bác Hạ!”

Ông già hấp háy đôi mắt, đưa tận tay Ngang túi chuối đang cầm: “Hãy đưa túi chuối này cho con gái tôi… Nó bị ốm… khi nó ốm… nó thích ăn nhất là chuối… Còn chuyện này nữa… nhờ anh nói với nó… chuối là… điều hạnh phúc thứ 99… tôi làm thay bà ấy… Cái chết của tôi là điều hạnh phúc cuối cùng… tôi làm cho nó”.

Nói xong, ông già đau đớn nhắm nghiền đôi mắt… “Bác Hạ! Bác Hạ!”, tay Ngang nắm chặt túi chuối còn đẫm máu hét lên. Tiếng hét của anh vang đi rất xa, rất xa…!!!

(Trương Tuấn)

TƯ DUY LÀ GÌ?

Bạn chuẩn bị tham gia một cuộc thi chạy mà cái đích bạn cần đến nằm ở bờ hồ đối diện. Có hai con đường để cho bạn đến đích, một là chạy men theo bờ hồ và một là chạy qua cây cầu bắc qua hồ chỉ bằng một thân cây.

Bạn sẽ phải lựa chọn một trong hai con đường đó. Chạy men theo bờ hồ sẽ an toàn hơn nhưng thời gian sẽ lâu hơn, còn đi qua cầu có thể sẽ không mất nhiều thời gian nhưng bạn sẽ rất dễ rơi xuống hồ và cuộc thi với bạn sẽ kết thúc. Sự suy nghĩ để lựa chọn cách đến đích như vậy gọi là tư duy.

Một cầu thủ bóng đá phải lựa chọn giữa chuyền bóng cho đồng đội ghi bàn hay tự mình ghi bàn khi tỉ lệ thành công là 51% và 49%. Nhưng anh ta sẽ không có cách lựa chọn nào khác ngoài việc sử dụng đầu để ghi bàn khi nhận được đường bóng ở tầm cao hơn chiều cao của anh ta.

Trường hợp thứ nhất đòi hỏi phải có sự chọn lựa hay phải có tư duy, còn trường hợp thứ hai thì anh ta hành động gần như bản năng, hay đúng hơn là hành động đó được hình thành sau một quá trình dài luyện tập đến mức anh ta không cần phải suy nghĩ gì khi hành động. Cảm xúc trào dâng khiến bạn nảy ra một ý thơ nào đó và bạn muốn làm một bài thơ. Để có thể làm được bài thơ diễn tả ý thơ đó, bạn phải lựa chọn thể loại, chọn lựa cấu trúc, chọn cách gieo vần. Nói tóm lại là bạn phải tiêu tốn thời gian để suy nghĩ, tìm tòi. Có nghĩa là bạn tư duy.

Khi bạn phải làm một bài tập toán, bạn phải đọc kỹ để tìm hiểu đề bài, phải đánh giá về dạng toán, các dữ kiện đã cho, các yêu cầu bạn phải giải đáp, sau đó bạn phải tìm phương pháp giải, các công thức, các định lý cần áp dụng… Bạn cần phải tư duy trước khi làm bài.

Những quá trình tư duy trên đây, dù nhanh hay chậm, dù nhiều hay ít, dù nông cạn hay sâu sắc đều diễn ra trong bộ não hay thần kinh trung ương. Chúng không diễn ra trong mắt hay trong tim. Chúng là một hoạt động của hệ thần kinh. Hay tư duy là một hoạt động của hệ thần kinh.

Khi bạn vô tình chạm tay vào cốc nước nóng, bạn sẽ rụt tay lại. Đây là phản xạ không điều kiện do hệ thần kinh chỉ đạo các cơ bắp thực hiện. Để học thuộc một bài thơ, bạn phải đọc đi đọc lại nhiều lần và cố nhớ bài thơ khi không có bản ghi trước mắt.

Bạn thực hiện một loạt các công việc theo quy trình bạn được học để tạo ra một sản phẩm… Có nghĩa là hệ thần kinh của bạn không chỉ có một loại hình hoạt động là tư duy mà còn có nhiều hoạt động khác.

Không chỉ có vậy, hoạt động tư duy không phải là thường xuyên và hệ thần kinh nào cũng có. Hoạt động điều khiển sự vận động của cơ thể là hoạt động nhiều nhất và là hoạt động chính của tất cả các hệ thần kinh.

Vậy tư duy là gì và nó khác với các loại hình hoạt động thần kinh khác như thế nào? Nó bắt đầu từ đâu?

Hoạt động thần kinh như thế nào thì được gọi là tư duy? Điều kiện để có hoạt động tư duy là gì. Tư duy có các dạng khác nhau hay không và có thì có bao nhiêu dạng? Tư duy giữ vai trò gì trong hoạt động thần kinh?

Những câu hỏi trên đây quả thực là rất khó trả lời mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy.

Một thực tế hiện nay là chưa có một định nghĩa về tư duy mang tính khái quát thể hiện đầy đủ tính chất, đặc điểm, vai trò của tư duy. 

Ăng-ghen là người nghiên cứu rất sâu sắc về tư duy nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về tư duy. Những điều này làm hạn chế năng lực tư duy (bởi chưa hiểu về tư duy) mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát huy năng lực tư duy.

Như một số ví dụ trên đã nêu, trước hết cần khẳng định rằng tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh. Khẳng định điều này để giới hạn việc nghiên cứu về tư duy.

Tư duy không có trong các loài thực vật, không có ở ngọn núi, mỏm đá hay dòng sông, cũng không ở ngoài hệ thần kinh và có thể chỉ trong một số hệ thần kinh và chỉ ở trung ương thần kinh.

Hệ thần kinh hoạt động theo nguyên lý các tế bào thần kinh của nó tiếp nhận kích thích và phát ra một kích thích thần kinh.

Các kích thích tác động lên các tế bào thần kinh để kích hoạt các tế bào này hoạt động gọi là các kích thích sơ cấp, còn các kích thích do các tế bào thần kinh phát ra gọi là kích thích thứ cấp.

Các kích thích thứ cấp có thể kích thích các tế bào thần kinh khác hoạt động và như vậy nó cũng mang tính chất của kích thích sơ cấp. Điều này có nghĩa là với tế bào thần kinh này thì kích thích là thứ cấp, nhưng tế bào khác là sơ cấp.

Các kích thích thần kinh có nhiều loại như mùi vị, âm thanh, ánh sáng, xung điện… Các tế bào thần kinh có thể tiếp nhận những kích thích này mà không tiếp nhận những kích thích khác, tập hợp những kích thích có thể kích hoạt được tế bào thần kinh tạo nên phổ tiếp nhận kích thích của tế bào thần kinh.

Phổ tiếp nhận kích thích có thể rộng hay hẹp. Phổ tiếp nhận rộng khiến tế bào thần kinh dễ bị kích hoạt bởi các kích thích đến từ nhiều nguồn khác nhau, còn phổ hẹp làm cho tế bào thần kinh chỉ được kích hoạt bởi một số kích thích nhất định.

Khi các tế bào thần kinh hoạt động cũng là lúc chúng thực hiện một chức năng nào đó trong hệ thần kinh. Để có thể thực hiện chức năng, trong các tế bào thần kinh phải có một cấu trúc chức năng tương ứng với chức năng mà tế bào thần kinh đảm nhận.

Chức năng của các tế bào thần kinh có thể được hình thành ngay từ khi ra đời hoặc chỉ được hình thành trong quá trình sinh trưởng.

Các tế bào thần kinh chức năng được hình thành ngay từ khi ra đời là các tế bào thực hiện các chức năng mang tính bản năng, còn các tế bào hình thành chức năng trong quá trình sinh trưởng giúp cho sự hoạt động phù hợp hay thích nghi với môi trường sống, chúng là các tế bào thần kinh không bản năng, chúng là các tế bào ghi nhớ mới.

Để có thể giúp cho sự hoạt động phù hợp với môi trường sống, các tế bào này phải ghi nhớ được các tác động của môi trường lên cơ thể. Đây là sự ghi nhớ mới.

Như vậy sự hình thành chức năng của các tế bào thần kinh không bản năng đồng nghĩa với sự ghi nhớ của chúng về các yếu tố môi trường tác động lên cơ thể (quá trình này gọi là tái chuyển hoá).

Khi các tế bào này hoạt động, chúng tái hiện lại các yếu tố đã làm cho chúng ghi nhớ, đồng thời có thể phát ra kích thích thần kinh thứ cấp để kích hoạt sự hoạt động của các tế bào khác (bao gồm các tế bào thần kinh và các bộ phận khác trong cơ thể).

Để các tế bào ghi nhớ mới thực hiện việc ghi nhớ, chúng phải nhận được kích thích sơ cấp từ các tế bào thần kinh cảm giác hoặc các tế bào thần kinh khác đang hoạt động.

Thông thường, các kích thích từ các tế bào thần kinh cảm giác giúp cho sự ghi nhớ các yếu tố của môi trường tác động lên cơ thể, còn các kích thích đến từ các tế bào thần kinh đã ghi nhớ có tác dụng làm rõ nét hơn sự ghi nhớ bằng hình thức gia tăng số lượng các tế bào ghi nhớ về cùng một yếu tố, chúng là các nhóm tế bào cùng ghi nhớ và tập hợp với các tế bào ghi nhớ riêng lẻ gọi là các phần tử ghi nhớ.

Có nhiều vấn đề về sự ghi nhớ mới nhưng do chủ đề của bài là về tư duy nên chúng không được trình bày kỹ ở đây. Độc giả có thể tìm đọc các bài về sự ghi nhớ. Như vậy sự ghi nhớ cũng là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh.

Có hai phương pháp chính để hệ thần kinh ghi nhớ được là cho đối tượng tác động lặp lại nhiều lần và bổ xung các phần còn thiếu của đối tượng bằng cách tìm trong sự ghi nhớ của hệ thần kinh các bộ phận thuộc các đối tượng khác nhưng có các điểm tương tự với các bộ phận của đối tượng (phương pháp so sánh, chọn lựa).

Phương pháp thứ hai áp dụng khi không có cơ hội để đối tượng tác động nhiều lần. Để thực hiện phương pháp này, hệ thần kinh phải tìm trong trí nhớ, phải thực hiện nhiều các thao tác như phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp, có nghĩa là hệ thần kinh phải tư duy. Những phân tích này cho chúng ta thấy sự khác nhau giữa hoạt động ghi nhớ và hoạt động tư duy.

Ghi nhớ bằng phương pháp tác động lặp lại nhiều lần không đòi hỏi hệ thần kinh phải tư duy và áp dụng được cho nhiều dạng hệ thần kinh khác nhau.

Còn ghi nhớ đòi hỏi phải tư duy chỉ có một số hệ thần kinh thực hiện được. Phương pháp ghi nhớ trước gọi là ghi nhớ không tư duy, phương pháp ghi nhớ sau gọi là phương pháp nhớ có tư duy.

Tư duy trong ghi nhớ sẽ kết thúc khi sự ghi nhớ đã được thực hiện. Có nhiều hệ tế bào khác trong cơ thể cũng tiếp nhận được kích thích thần kinh thứ cấp và thực hiện hoạt động, trong đó dễ nhận thấy nhất là các hệ tế bào vận động.

Khi các tế bào thần kinh phát ra kích thích thần kinh để kích thích các hệ thế bào khác trong cơ thể hoạt động là chúng thực hiện chức năng điều khiển cơ thể, chúng cũng hoạt động, hay điều khiển cơ thể cũng là một hoạt động của hệ thần kinh.

Trong hoạt động này cũng có thể có hoặc không có tư duy. Cánh tay co lại khi ngón tay vô tình chạm vào cốc nước nóng là phản xạ không điều kiện, nó không đòi hỏi phải tư duy và tư duy còn có thể có phản tác dụng trong trường hợp này (làm chậm sự phản xạ).

Việc chọn lựa giữa sút bóng thẳng vào cầu môn hay chuyển cho đồng đội như ví dụ trên đây đã quyết định cách thức hành động của cầu thủ, có nghĩa là cần có tư duy, tư duy trước khi hành động.

Người thợ thực hiện một loạt các thao tác theo quy trình công nghệ đã được ghi nhớ trong quá trình sản xuất cũng không cần phải tư duy.

Có những hoạt động điều khiển đơn giản cũng yêu cầu phải có tư duy, có những hoạt động điều khiển phức tạp không cần phải tư duy khi sự điều khiển đó đã trở nên thuần thục. Tư duy định hướng cho hành động.

Sự xuất hiện của tư duy trong hai phân tích trên đây cho thấy tư duy chỉ xuất hiện khi giữa các phần tử ghi nhớ chưa tạo được liên kết ghi nhớ hoặc đã có liên kết nhưng với mức độ phức tạp nào đó (liên kết phức hợp).

Hệ thần kinh phải tìm trong các điểm ghi nhớ đã có trong nó các phần tử ghi nhớ có thể liên kết với nhau theo một trình tự, một lôgic nào đó. Điều này đã tự nó nói lên rằng hệ thần kinh phải có năng lực tư duy mới có thể thực hiện được việc tư duy.

Để có thể thấy rõ hơn về điều này, chúng ta xét thêm một hoạt động nữa của hệ thần kinh là mơ. Nhịp điệu ngày đêm của trái đất đã tạo nên nhịp điệu sinh học thức và ngủ cho các cơ thể sống.

Thức là trạng thái cơ thể thực hiện nhiều hoạt động nhất, còn ngủ là trạng thái các bộ phận cơ thể thực hiện sự nghỉ ngơi để phục hồi khả năng làm việc. Hệ thần kinh cũng có hai trạng thái này. Nhưng không phải là triệt để mà trong trạng thái ngủ, có những tế bào hoặc nhóm tế bào thần kinh vẫn hoạt động và tạo nên các giấc mơ.

Giấc mơ có nhiều dạng, có dạng chỉ là sự tái hiện lại những hình ảnh tạo ấn tượng mạnh mà người mơ tiếp xúc khi thức, có những giấc mơ là sự tiếp tục quá trình tư duy mà người mơ dang thực hiện dang dở lúc thức (và có thể có kết quả kỳ diệu như Men-đê-lê-ép), có những giấc mơ chỉ là sự ghép nối từ rất nhiều chi tiết hình ảnh của nhiều hiện tượng, sự vật, sự việc khác nhau mà người mơ đã từng tiếp xúc, đã từng ghi nhớ và thậm trí đã từng tưởng tượng.

Có nhiều sự ghép nối phức tạp đến mức người mơ cảm thấy giấc mơ rất kỳ lạ và khó nhận ra các chi tiết đó mình đã từng thấy.

Những giấc mơ dạng này có một điểm giống với tư duy, đó là sự liên kết giữa các phần tử ghi nhớ không thuộc cùng một sự vật, một sự việc, một đối tượng, nhưng sự khác nhau căn bản là tư duy thực hiện sự chọn lọc, còn giấc mơ là không.

Giấc mơ tiếp tục quá trình tư duy nói trên đây cũng thực hiện sự chọn lọc như tư duy, hay tư duy cũng có thể xuất hiện trong một số giấc mơ. Sự xuất hiện hay không xuất hiện, có sự giống và khác nhau giữa tư duy và mơ cho thấy tư duy và mơ không phải là một.

Tư duy không phải là sự ghi nhớ mặc dù nó có thể giúp cho sự hoàn thiện ghi nhớ. Tư duy không phải là hoạt động điều khiển cơ thể mà chỉ giúp cho sự định hướng điều khiển hay định hướng hành vi.

Tư duy cũng không phải là giấc mơ mặc dù nó có thể xuất hiện trong một số giấc mơ và có những điểm giống với giấc mơ. Tư duy không có ở ngoài hệ thần kinh.

Tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, định hướng cho hành vi phù hợp với môi trường sống.

Tư duy là sự hoạt động, là sự vận động của vật chất, do đó tư duy không phải là vật chất. Tư duy cũng không phải là ý thức bởi ý thức là kết quả của quá trình vận động của vật chất.

Vai trò ca tư duy

Định nghĩa trên đây có thể còn chưa trọn vẹn nhưng đã hàm chứa được hai vai trò quan trọng nhất của tư duy và một yêu cầu không thể thiếu đó là sự ghi nhớ.

Sự ghi nhớ này là kinh nghiệm, là tri thức. Sự ghi nhớ có thể được thực hiện bằng cách lặp lại sự tác động của đối tượng cần ghi nhớ lên hệ thần kinh. Nhưng điều này không thể thực hiện được với mọi đối tượng.

Hơn thế có nhiều đối tượng phức tạp với nhiều thành phần, các thành phần có thể không tác động đồng thời, có thành phần ẩn và còn có thể xuất hiện sự tác động của các đối tượng khác có hoặc không liên quan đến đối tượng đang ghi nhớ. Điều này làm cho sự ghi nhớ về đối tượng là không đầy đủ hoặc lẫn với các đối tượng khác.

Tư duy trong ghi nhớ là trả về cho đối tượng trong sự ghi nhớ các thành phần đúng của nó, bổ xung các thành phần còn thiếu, phân biệt nó với các đối tượng ghi nhớ khác, tìm ra các mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại của đối tượng với các sự vật, sự việc, đối tượng khác. Đây là quá trình nhận thức lý tính, nhận thức bằng tư duy. Nó phân biệt với nhận thức cảm tính là nhận thức không có tư duy.

Nhận thức lý tính giúp cho sự hiểu biết và ghi nhớ về đối tượng nhiều hơn những cái mà đối tượng cung cấp cho sự ghi nhớ của hệ thần kinh, đối tượng được hiểu sâu hơn, được xem xét, đánh giá toàn diện hơn và kỹ càng hơn, được nhận thức đúng đắn hơn.

Tư duy bổ sung những cái còn thiếu trong quá trình hệ thần kinh ghi nhớ về đối tượng. Sau khi giúp hệ thần kinh nhận thức đúng về đối tượng, tư duy tiếp tục giúp hệ thần kinh định hướng điều khiển hành vi đáp ứng sự tác động của đối tượng nếu cần thiết hoặc có yêu cầu.

Tư duy thực hiện việc này bằng cách kết hợp giữa nhận thức về đối tượng với hoàn cảnh hiện tại để đề ra phương thức phản ứng hoặc hành vi. Việc này bao hàm cả sự vận dụng tri thức vào điều kiện thực tế.

Sự định hướng của tư duy không phân biệt tính đơn giản hay phức tạp của đối tượng. Có việc đơn giản cũng đòi hỏi phải tư duy như ví dụ về chọn lựa giữa sút và chuyền bóng trên đây. Nhưng cũng có những việc rất phức tạp như quản lý tài chính của một đơn vị kinh tế, mặc dù người thực hiện phải hao tổn trí óc nhưng cũng không được coi là có tư duy khi mọi công việc đều thực hiện theo những thủ tục, những quy trình, những văn bản pháp quy, những mẫu biểu, công thức, những quy định cho trước.

Yêu cầu của những công việc phức tạp này là người thực hiện phải rèn luyện được kỹ năng làm việc thành thạo. Và để có được kỹ năng này thì họ phải học thuộc lòng và rèn luyện chu đáo và có thể họ phải sử dụng tư duy để nắm chắc được các yêu cầu thực hiện công việc.

Khi kỹ năng làm việc chưa thành thục thì có thể phải có tư duy, nhưng khi kỹ năng làm việc đã thành thục thì không cần tư duy nữa. Tư duy định hướng đến sự thành thục. Khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc.

Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chưa có thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc.

Các loi hình tư duy

Nhân loại đã đặt cho tư duy rất nhiều loại hình tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo, tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận, tư duy khoa học, tư duy triết học v.v…

Về bản chất, tư duy chỉ có một, đó là sự việc hình thành mới hoặc tái tạo lại các liên kết giữa các phần tử ghi nhớ.

Sự phân chia ra các loại hình tư duy nhằm mục đích hiểu sâu và vận dụng tốt tư duy trong hoạt động của hệ thần kinh. Có thể phân loại tư duy theo các loại dưới đây:

Phân loi theo cách th hin

Phân loại theo cách thể hiện được chia ra thành tư duy bằng hình tượng và tư duy bằng ngôn ngữ. Tư duy bằng hình tượng gồm có sự tư duy hình ảnh, âm thanh.

Tư duy hình tượng còn được gọi bằng cái tên khác là tưởng tượng. Tư duy bằng ngôn ngữ là tư duy bằng hệ thống tiếng nói. Tư duy bằng ngôn ngữ còn được gọi là suy nghĩ, nhiều khi tư duy ngôn ngữ cũng được gọi là tưởng tượng.

Trong tư duy hình tượng, các phần tử xuất hiện trong quá trình tư duy là các hình ảnh, còn tư duy ngôn ngữ là các lời văn. Các hoạ sỹ tưởng tượng về bố cục, các hình ảnh, màu sắc cho một bức tranh sẽ vẽ.

Nhà văn tưởng tượng về các khung cảnh mà nhân vật hoạt động, suy nghĩ (hay tưởng tượng) về lời thoại của nhân vật, nhà hiền triết suy nghĩ về những điều mình sẽ nói.

Tư duy hình tượng có tính phổ biến cao hơn tư duy ngôn ngữ. Các con chó hoang nhìn hành vi của con đầu đàn là biết được con đầu đàn chọn con mồi nào trong đàn linh dương. Tư duy ngôn ngữ chỉ có ở loài người bởi chỉ có loài người có tiếng nói (và chữ viết).

Phân loại theo cách vận hành

* Tư duy kinh nghiệm:

Kinh nghiệm bao hàm toàn bộ mọi sự hiểu biết, mọi cách ứng xử mà một cá nhân tiếp thu được trong cuộc đời. Kinh nghiệm có thể do cá nhân tự rút ra được trong quá trình hoạt động của mình hoặc do tiếp thu từ người khác.

Mọi tri thức của nhân loại cũng là kinh nghiệm bởi chúng được rút ra từ quá trình phát triển của loài người với mức độ cô đọng, sâu sắc. Tư duy kinh nghiệm là sự vận dụng kinh nghiệm vào một quá trình nhận thức mới hay thực hiện một công việc mới, thực hiện một công việc cũ trong điều kiện hoặc hoặc hoàn cảnh mới.

Tư duy kinh nghiệm xem xét, đánh giá các sự vật, sự việc mới theo những cách thức có sẵn, cố gắng đưa sự nhận thức những sự vật, sự việc đó về những cái đã biết và do đó thường gặp khó khăn khi tiếp xúc với những sự vật, sự việc, vấn đề có nhiều sự khác lạ.

Tư duy kinh nghiệm dễ tạo nên các đường mòn tư duy và tạo thành các thói quen trong tư duy. Tư duy kinh nghiệm có thể làm thay đổi sự vật, sự việc, vấn đề về quy mô, hình dạng, địa điểm, thời gian nhưng không làm thay đổi tính chất của chúng, nói cách khác nếu tư duy có thể làm thay đổi được cái gì đó thì sự thay đổi chỉ có về mặt lượng chứ không thay đổi về chất.

Tư duy kinh nghiệm là sự giải quyết các vấn đề hiện tại theo những khuôn mẫu, cách thức đã biết với một vài biến đổi nào đó cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.

Tư duy kinh nghiệm vận hành trên cơ sở các liên kết thần kinh được tạo do tác động từ bên ngoài dó đó năng lực tư duy phụ thuộc vào lượng kinh nghiệm tích luỹ và phương pháp tác động tạo liên kết ghi nhớ.

Khi lượng kinh nghiệm còn ít, các liên kết ghi nhớ chỉ được thực hiện trong từng vấn đề, sự vật, sự việc, đối tượng thì tư duy kinh nghiệm mang tính máy móc, giáo điều, lặp lại mọi cái đã được ghi nhớ, thực tế trường hợp này có thể coi là chưa có tư duy mặc dù hệ thần kinh thực hiện hoạt động tái hiện lại những cái đã ghi nhớ.

Sự tích luỹ nhiều kinh nghiệm giúp cho việc tìm ra cách giải quyết các vấn đề hiện tại nhanh hơn và giải quyết được nhiều vấn đề hơn.

Trong một số trường hợp sự phản ứng nhanh của hệ thần kinh tích luỹ nhiều kinh nghiệm dễ bị nhầm với sự thông minh hay thông thái. Trường hợp này xảy ra khi tại địa điểm và thời gian đó không còn ai ngoài người giải quyết được vấn đề có đủ kinh nghiệm. Tư duy kinh nghiệm chỉ là sự chấp nhận và sử dụng các kinh nghiệm đã có.

* Tư duy sáng tạo:

Tư duy sáng tạo cũng có yêu cầu về sự tích luỹ kinh nghiệm hay tích luỹ tri thức. Nhưng tư duy sáng tạo vận hành không hoàn toàn dựa trên các liên kết ghi nhớđược hình thành do các tác động từ bên ngoài mà có nhiều liên kết do hệ thần kinh tự tạo ra giữa các vấn đề, các sự vật, sự việc tác động riêng rẽ lên hệ thần kinh.

Tư duy sáng tạo tìm ra cách giải quyết vấn đề không theo khuôn mẫu, cách thức định sẵn. Trong tư duy kinh nghiệm, để giải quyết được vấn đề đòi hỏi người giải quyết phải có đủ kinh nghiệm về vấn đề đó, còn trong tư duy sáng tạo chỉ yêu cầu người giải quyết có một số kinh nghiệm tối thiểu hoặc có kinh nghiệm giải quyết những vấn đề khác.

Tư duy sáng tạo là sự vận dụng các kinh nghiệm giải quyết vấn đề này cho những vấn đề khác. Người chỉ có tư duy kinh nghiệm sẽ lúng túng khi gặp phải những vấn đề nằm ngoài kinh nghiệm, còn người có tư duy sáng tạo có thể giải quyết được những vấn đề ngoài kinh nghiệm mà họ có.

Tư duy sáng tạo tạo nên các kinh nghiệm mới trên các kinh nghiệm cũ và do đó làm phong phú thêm kinh nghiệm, nó tạo nên sự thay đổi về chất cho các vấn đề, sự vật, sự việc mà nó giải quyết. Biểu hiện của tư duy sáng tạo là sự thông minh, dám thay đổi kinh nghiệm. Tư duy sáng tạo góp phần tạo nên kinh nghiệm.

* Tư duy trí tuệ:

Tư duy trí tuệ cũng vận hành giống tư duy sáng tạo nhưng ở mức độ cao hơn…Tư duy trí tuệ được vận hành trên cơ sở các liên kết ghi nhớ là không bền và các phần tử ghi nhớ có phổ tiếp nhận kích thích thần kinh rộng.

Liên kết ghi nhớ không bền khiến cho các con đường tư duy cũ dễ bị xoá, phổ tiếp nhận kích thích thần kinh rộng khiến cho các phần tử ghi nhớ có thể được kích hoạt bởi các kích thích thần kinh từ các phần tử không nằm trong cùng liên kết ghi nhớ trước đó và vì vậy hình thành nên các con đường tư duy mới.

Nếu như tư duy kinh nghiệm đi theo những con đường cho cho trước, quá trình tư duy chi mang tính chỉnh sửa, uốn nắn con đường đó cho phù hợp với hoàn cảnh mới thì tư duy sáng tạo có nhiều con đường để đi hơn và tư duy trí tuệ hoặc không thể đi được do các con đường cũ bị xoá, hoặc tạo nên các con đường mới cho tư duy.

Tư duy kinh nghiệm chỉ tìm ra được một cách giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo có nhiều cách giả quyết và chọn lấy cách giải quyết tốt nhất, còn tư duy trí tuệ tạo ra con đường mới. Tư duy kinh nghiệm giải quyết vấn đề mới bằng kinh nghiệm cũ, tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề cũ bằng kinh nghiệm mới hoặc kết hợp giữa cũ và mới, tư duy trí tuệ giải quyết mọi vấn đề bằng các cách thức mới do tư duy tìm ra.

Tư duy kinh nghiệm tương ứng với phương thức hoạt động phản ứng của hệ thần kinh, tư duy sáng tạo xuất hiện trong phương thức hoạt động sáng tạo, còn tư duy trí tuệ xuất hiện trong phương thức hoạt động trí tuệ.

Tư duy trí tuệ không đi theo kinh nghiệm đã có mà phát triển theo những con đường mới và do đó nó sẽ tìm thấy nhiều vấn đề mới. Lượng kinh nghiệm, tri thức tích luỹ được là lớn nhưng nếu chỉ có tư duy kinh nghiệm thì kết quả của quá trình tư duy cũng chỉ quẩn quanh trong những điều đã biết.

Sự thông thái trong tư duy kinh nghiệm chỉ là sự học thuộc sự thông thái của người khác. Tư duy kinh nghiệm không tạo nên bản sắc riêng cho tư duy. Trong nhiều trường hợp, tư duy kinh nghiệm mang tính chất của sự bảo thủ, giáo điều và khó hoặc không chấp nhận sự đổi thay, sự sáng tạo, các ý kiến khác hoặc ý kiến trái ngược.

Một điều tệ hại hơn đó là có những người mà hệ thần kinh của họ có khả năng ghi nhớ tốt, họ đã tiếp nhận được rất nhiều kinh nghiệm, tri thức và họ tự cho mình đã ở đỉnh cao của tri thức nhân loại trong khi họ chỉ có năng lực tư duy kinh nghiệm, họ không thừa nhận sự đổi mới trong tư duy và lấy lượng tri thức mà họ tích luỹ được làm quyền lực để phủ định những kinh nghiệm, những tri thức mới, họ làm chậm sự phát triển.

Tư duy trí tuệ vẫn dựa trên nền tảng các kinh nghiệm, các tri thức đã được bộ não ghi nhớ, nhưng với việc thiết lập các liên kết mới, tư duy trí tuệ thực hiện sự tổ chức lại tri thức, tạo nên những nhận thức mới vượt ra ngoài những kinh nghiệm, tri thức được tiếp nhận và đây là cái được gọi là tự ý thức.

Khi những nhận thức xuất hiện từ quá trình tự ý thức vượt lên trên những kinh nghiệm, những tri thức đã có và phù hợp với thực tiễn thì chúng trở thành tri thức mới.

Tư duy trí tuệ tạo ra tri thức. Nhưng tư duy trí tuệ không dựa trên cơ sở các quy luật tự nhiên thì cũng có thể dẫn đến các sai lầm nghiêm trọng và biểu hiện rõ nhất là các lập luận hoang tưởng.

* Tư duy phân tích:

Phân tích là sự chia nhỏ sự vật, sự việc, vấn đề, sự kiện…, gọi chung là các đối tượng, thành các thành phần để xem xét, đánh giá về các mặt cấu trúc, tổ chức, mối liên hệ giữa các thành phần, vai trò và ảnh hưởng của từng thành phần trong các đối tượng và trên cơ sở các phân tích, đánh giá đó xác định mối quan hệ và ảnh hưởng của đối tường được phân tích tới các đối tượng khác.

Tư duy phân tích là tư duy về một đối tượng, tìm các thành phần tham gia vào đối tượng, các mối liên kết, quan hệ giữa các đối tượng, xác định các đặc điểm, tính chất, đặc trưng, vai trò của đối tượng trong mối quan hệ với các đối tượng khác (gọi chung là các yếu tố).

Với việc xác định các yếu tố của một đối tượng, tư duy phân tích mang tính tư duy theo chiều sâu. Mức độ sâu sắc của tư duy được đánh giá qua số lượng các yếu tố mà tư duy phân tích tìm được.

* Tư duy tổng hợp:

Ngược với sự chia nhỏ đối tượng, tư duy tổng hợp tập hợp các yếu tố cùng loại, các yếu tố có liên quan với nhau cho đối tượng.

Sự phân tích cho thấy tất cả hay phần lớn các yếu tố của đối tượng, nhưng vai trò của từng yếu tố trong những hoàn cảnh, những thời điểm khác nhau có thể thay đổi, có yếu tố chủ yếu và không thể thiếu, có yếu tố hỗ trợ, có yếu tố cần cho hoàn cảnh này nhưng không cần cho hoàn cảnh khác.

Tư duy tổng hợp giúp đánh giá được các tính chất đó của từng yếu tố thuộc đối tượng và xác định thành phần, đặc điểm, tính chất của đối tượng phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.

Tư duy tổng hợp được thực hiện khi xem xét một đối tượng xuất hiện nhiều lần tại những địa điểm và thời gian khác nhau, các đối tượng cùng dạng hoặc các đối tượng khác nhau nhau. Vì vậy tư duy tổng hợp cũng có thể được chia thành nhiều dạng và dẫn đến những kết quả khác nhau.

Tư duy tổng hợp thực hiện trên một đối tượng xuất hiện nhiều lần tại nhiều địa điểm khác nhau nhằm đánh giá được các yếu tố xuất hiện thường xuyên nhất và có vai trò chính của đối tượng.

Tư duy tổng hợp xem xét đánh giá sự giống và khác nhau giữa các đối tượng cùng dạng và qua đó xác định xem giữa chúng có mối liên hệ hay không và nếu có là những mối liên hệ như thế nào.

Một đối tượng xuất hiện nhiều lần tại các địa điểm khác nhau nhiều khi cũng được xem xét như các đối tượng cùng dạng. Tư duy tổng hợp thực hiện trên các đối tượng khác nhau là tư duy tìm kiếm các mối quan hệ giữa các đối tượng đó hặc tìm kiếm các yếu tố trong các đối tượng đó có thể hợp thành một đối tượng mới.

Tìm kiếm các mối quan hệ nhằm đánh giá sự ảnh hưởng, sự tương tác lẫn nhau giữa các đối tượng. Tìm kiếm các yếu tố có thể và liên kết chúng lại với nhau trong những mối quan hệ nào đó tạo nên một nhận thức mới về thế giới hoặc một phương thức hành động mới.

Sự liên kết lôgic mang đến sự nhận thức đúng đắn về thế giới hoặc một phương thức hành động có kết quả đúng đắn. Sự liên kết không lôgic sẽ đem đến sự vô nghĩa, sự nhận thức sai lầm hoặc phương thức hành động mang đến kết quả tiêu cực.

Tư duy tổng hợp phát triển đến trình độ cao sẽ có khả năng tóm tắt, khái quát hoá. Khái quát hoá là sự tóm lược đến mức cô đọng nhất các yếu tố cơ bản, các mối quan hệ chính của đối tượng nhưng không làm mất đi các tính chất của đối tượng, đối tượng không bị hiểu sai.

Khái quát hoá có vai trò quan trọng khi các đối tượng có rất nhiều yếu tố cấu thành, có mối quan hệ phức tạp, lượng trí thức là quá lớn so với khả năng ghi nhớ của bộ não.

Bộ não cần biết về sự tồn tại, vai trò và một số đặc điểm, tính chất của đối tượng, nếu ghi nhớ đầy đủ các yếu tố của một đối tượng thì bộ nhớ của não sẽ không còn đủ chỗ cho việc ghi nhớ về các đối tượng khác và do đó sẽ hạn chế một số khả năng tư duy.

Sử dụng thêm các phương pháp ghi nhớ ngoài để ghi nhớ đầy đủ các yếu tố của đối tượng là sự hỗ trợ tốt cho tư duy.

Trong các loại tư duy trên đây thì ba loại nêu trước mang tính cá thể, chúng thể hiện cho năng lực cá nhân và mang tính bẩm sinh. Chúng không lệ thuộc vào kinh nghiệm hay lượng tri thức được tích luỹ.

Kinh nghiệm và tri thức mà hệ thần kinh tích luỹ được chỉ là cơ hội cho chúng được thực hiện.. Hai loại tư duy sau vừa chứa đựng yếu tố thuộc về cá nhân, vừa chứa đựng các yếu tố thuộc về môi trường sống (và chủ yếu là môi trường văn hoá giáo dục).

Yếu tố thuộc về cá nhân mang tính sinh học giống như ba loại tư duy trên nhưng thể hiện chủ yếu trên phương diện liên kết các phần tử ghi nhớ các yếu tố của các đối tượng với hệ thống giác quan.

Khi các phần tử nhớ có liên hệ trực tiếp với các giác quan thì chúng dễ được kích hoạt bởi kích thích đến từ các giác quan. Nếu chúng thuộc nhiều đối tượng khác nhau thì chúng sẽ được kích hoạt đồng thời.

Sự hoạt động này dễ tạo ra các mối liên hệ giữa các đối tượng khác nhau và quá trình tư duy dựa trên các liên kết này sẽ trải qua nhiều đối tượng, xem xét trên nhiều đối tượng và tư duy tổng hợp hình thành.

Nếu các yếu tố của đối tượng không có liên hệ trực tiếp với các giác quan và chúng chỉ được kích hoạt bởi các phần tử ghi nhớ mới khác thì khi có một yếu tố của đối tượng được kích hoạt, các yếu tố khác trong cùng đối tượng hoặc các yếu tố có quan hệ trong các đối tượng khác được kích hoạt.

Đây là quá trình tư duy phân tích bởi nó được thực hiện chủ yếu trên một đối tượng. Ảnh hưởng của môi trường thể hiện qua phương thức thức tích luỹ kinh nghiệm, tích lũy tri thức trong hệ thần kinh, nếu phương thức tích luỹ tạo ra liên kết giữa các yếu tố của cùng đối tượng hoặc các yếu tố khác có liên quan thì dẫn đến khả năng tư duy phân tích, còn nếu phương thức tích luỹ tạo ra các liên kết giữa các đối tượng khác nhau thì dẫn đến khả năng tư duy tổng hợp.

Phân loại theo tính chất

* Tư duy rộng hay hẹp:

Tư duy rộng hay hẹp (còn gọi là tư duy theo chiều rộng hay tư duy theo diện) được đánh giá qua số lượng các đối tượng, các vấn đề, các sự vật, sự việc khác nhau được đề cập trong một quá trình tư duy.

Tính chất rộng hẹp của tư duy cho thấy mức độ xem xét đối tượng tư duy trong mối quan hệ với các đối tượng khác, trong các môi trường khác là nhiều hay ít.

Đối tượng được xem xét kỹ càng hơn, đánh giá đúng đắn hơn về sự cân đối, hài hoà với các đối tượng khác, với môi trường khi tư duy tìm được càng nhiều các đối tượng có quan hệ tương hỗ với nó.

Tư duy rộng cũng làm cho việc tiếp nhận những tri thức, kinh nghiệm mới, những sự thay đổi trong tư duy trở nên dễ dàng, tính sáng tạo dễ được thực hiện.

Điều kiện để có tư duy rộng là hệ thần kinh phải được tiếp nhận tri thức về rất nhiều đối tượng khác nhau và phải tạo được những mối liên hệ giữa các đối tượng đó.

Một đối tượng có thể phát huy hay hạn chế một số đặc điểm, tính chất, vai trò nào đó trong một số mối quan hệ với các đối tượng khác.

Vì vậy khi cần phát huy hay hạn chế một số yếu tố nào đó của đối tượng, có thể đặt đối tượng vào những mối quan hệ tượng ứng.

Nếu tư duy chỉ xác định được một số mối quan hệ nào đó (tư duy hẹp) thì đối tượng chỉ có thể phát huy hoặc bị hạn chế một số yếu tố tương ứng.

* Tư duy sâu hay nông:

Loại tư duy này được đánh giá qua số lượng các yếu tố của một hay một nhóm đối tượng có liên quan trực tiếp được đề cập đến trong quá trình tư duy. Tư duy càng sâu khi các yếu tố của đối tượng được đề cập đến càng nhiều và khi đó đối tượng sẽ trở nên rõ ràng hơn, đầy đủ hơn trong nhận thức và ý thức, đối tượng được hiểu rõ hơn và đúng hơn.

Tính chất tư duy sâu hay nông được thực hiện trên một hoặc một nhóm đối tượng, vì vậy tính chất này cũng được gọi là tư duy theo chiều sâu và có các khái niệm tư duy nông cạn hay sâu sắc và vai trò của tư duy cũng được thể hiện trong từng trường hợp cụ thể.

Tư duy theo chiều sâu chịu ảnh hưởng của phương pháp thiết lập các mối liên kết thần kinh và . Nếu liên kết thực hiện chủ yếu giữa các yếu tố của đối tượng thì tư duy càng sâu khi có nhiều yếu tố được liên kết với nhau.

Kích thích thần kinh được di chuyển từ các phần từ ghi nhớ này đến phần tử ghi nhớ khác trong não mà không cần có nhiều kích thích đến từ hệ thống cảm giác. Tư duy theo chiều sâu tạo nên sự tập trung trong tư duy.

* Tư duy lôgic:

Tư duy lôgic là tư duy về mối quan hệ nhân quả mang tính tất yếu, tính quy luật. Vì vậy các yếu tố, đối tượng (gọi chung là các yếu tố) trong tư duy lôgic bắt buộc phải có quan hệ với nhau, trong đó có yếu tố là nguyên nhân, là tiền đề, yếu tố còn lại là kết quả, là kết luận.

* Tư duy phi lôgic:

Tư duy phi lôgic là tư duy không dựa trên các mối quan hệ giữa các yếu tố của đối tượng hoặc giữa các đối tượng. Các yếu tố không thuộc đối tượng nhưng được gán cho đối tượng, các đối tượng không có quan hệ với nhau bị buộc cho những quan hệ nào đó và ngược lại những yếu tố thuộc đối tượng lại bị tách khỏi đối tượng, một số mối quan hệ tất yếu giữa các đôi stượng bị cắt bỏ.

Tư duy phi lôgic có nguồn gốc từ sự lôgic của tư duy. Lôgic của tư duy là sự kết nối có những biểu hiện của lôgic. Lôgic của tư duy xuất hiện khi sự trùng lặp xuất hiện nhiều lần. Nếu sự trùng lặp mang tính quy luật thì TD theo sự trùng lặp này là tư duy lôgic. Nhưng nếu sự trùng lặp là kết quả của những quá trình riêng rẽ và không ảnh hưởng đến nhau thì TD sẽ là phi lôgic nếu tư duy gán cho các quá trình này những mối quan hệ.

Đây là hậu quả của sự xuất hiện các liên kết thần kinh giữa các phần từ nhớ cùng được hình thành tại một thời điểm hoặc đang cùng được kích hoạt hoặc có những yếu tố để chúng dễ dàng liên kết với nhau. TD phi lôgic xét trong một số giới hạn hay trường hợp cụ thể cũng biểu hiện đầy đủ tính chất của tư duy lôgic, do đó chúng tạo khó khăn khi phân biệt chúng với TD lôgic.

* Tư duy đơn giản hay phức tạp:

Tính đơn giản hay phức tạp biểu hiện ở số lượng các yếu tố, các đối tượng, các mối quan hệ, các mối liên kết xuất hiện trong một quá trình tư duy. Số lượng càng lớn thì quá trinhg tư duy càng phức tạp.

Tính chất này biểu hiện cho khả năng tư duy của cá nhân và phụ thuộc vào hai yếu tố: Phương thức hoạt động thần kinh và số lượng các yếu tố, các đối tượng, kinh nghiệm, tri thức mà bộ não ghi nhớ được.

Với cùng một lượng tri thức được ghi nhớ, hệ thần kinh hoạt động trí tuệ sẽ có tư duy phức tạp hơn bới nó có thể tạo ra nhiều liên kết thần kinh hơn so với hệ thần kinh có phương thức phản ứng thần kinh.

Nhưng nếu lượng tri thức thấp thì tư duy trí tuệ cũng không thể có được tư duy tốt. Tính phức tạp nói chung là biểu hiện của tư duy tốt, nhưng nếu phức tạp dẫn đến tình trạng không thể trình bày hay thể hiện ra được thì cũng không hay gì bởi sẽ không có ai hiểu và tiếp nhận được quá trình tư duy đó.

* Tư duy lý luận:

Nếu tư duy lôgic xem xét các đối tượng trong mối quan hệ nhân quả, một chiều từ nguyên nhân tới kết quả thì tư duy lý luận xem xét mọi nguyên nhân dẫn đến cùng một kết quả và ngược lại, từ kết quả tìm đến các nguyên nhân, xem xét ảnh hưởng của sự kết hợp các nguyên nhân tới kết quả.

Tư duy lý luận chỉ ra mọi yếu tố đã có và có thể có của đối tượng, chỉ ra các mối quan hệ đã có và có thể có giữa các đối tượng. Tư duy lý luận xem xét đối tượng trên mọi góc độ, mọi khía cạnh và theo chiều sâu của đối tượng.

Tư duy lôgic có thể được thể hiện bằng hình ảnh hoặc bằng lời văn, còn tư duy lí luận chỉ được thể hiện bằng lời văn, điều này có nghĩa là tư duy lý luận chỉ có thể được thực hiện bằng lời văn. Tư duy lý luận là sự phát triển cao nhất của các quá trình tư duy.

Phân loi theo ni dung

Phân loại theo nội dung là phân loại dựa trên các nội dung, phương pháp, phạm vi TD và các điều kiện về TD. Theo cách phân loại này, TD có rất nhiều loại và cũng không khó cho việc đặt tên. dưới đây là một số loại:

* Tư duy khoa học:

Tư duy khoa học là tư duy có mục đích đảm bảo sự chính xác, hợp với các quy luật tư nhiên và dựa trên các chứng cứ xác thực. Vì vậy tư duy khoa học là tư duy lôgic biện chứng duy vật.

Yêu cầu đối với tư duy khoa học là các kết luận của tư duy khoa học phải kiểm chứng được và được kiểm chứng. Khoa học nghiên cứu sâu về từng hiện tượng, sự vật và các mối quan hệ trực tiếp, vì vậy tính chất chủ yếu của tư duy khoa học là phân tích, hay đặc trưng của tư duy khoa học là tư duy phân tích.

* Tư duy nghệ thuật:

Tư duy nghệ thuật là tư duy tìm kiếm mọi hình thức thể hiện của nội dung các sự vật, sự việc, các vấn đề, nói chung là nội dung của các đối tượng tư duy và tìm những cách thể hiện rõ nhất, đặc trưng nhất, đầy đủ nhất, ấn tượng nhất của các nội dung đó.

Nếu nói chức năng của khoa học là tìm kiếm các yếu tố, các mối quan hệ của đối tượng thì có thể nói khoa học đi tìm nội dung của các đối tượng đó, còn nghệ thuật lại tìm kiếm các hình thức thể hiện của các đối tượng đó.

Sự tiến triển của lịch sử đã làm cho nghệ thuật chỉ tập chung vào chức năng tìm kiếm cách thể hiện ấn tượng nhất, nghĩa là thể hiện cái đẹp. Hai thủ pháp chính để nghệ thuật thể hiện cái đẹp là đặt cái đẹp lên vị trí cao nhất và đặt cái đẹp vào vị trí tương phản với cái xấu. Tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ.

Nếu không tìm được nội dung thì nghệ thuật chẳng có gì để thể hiện, ngược lại nếu khoa học không biết cách để thể hiện những cái mà khoa học tìm ra thì chẳng ai có thể biết hoặc hiểu đó là cái gì và nó như thế nào. Tư duy nghệ thuật cũng còn liên quan đến nhiều loại hình tư duy khác.

* Tư duy triết học:

Tư duy xem xét các yếu tố, các đối tượng trên mọi mối quan hệ, cả trực tiếp và gián tiếp. Đặc trưng của tư duy triết học là tư duy tổng hợp.

Yêu cầu đặt ra cho quá trình tư duy triết học là phải đặt các đối tượng tư duy trong môi trường thực vận động của nó xem xét đồng thời nhiều đối tượng hoặc một đối tượng trong nhiều môi trường khác nhau để tìm ra cái chung nhất, mối quan hệ phổ biến nhất giữa các đối tượng hoặc cái đặc trưng nhất của đối tượng.

Với đặc trưng của tư duy khoa học là phân tích và của tư duy triết học là tổng hợp, khoa học và triết học ngày nay có mối quan hệ khăng khít và bổ xung cho nhau trong quá trình nhận thức thế giới (quan niệm này trước đây chưa có).

* Tư duy tín ngưỡng:

Tư duy tín ngưỡng là tư duy dựa trên niềm tin không dựa trên các cơ sở khoa học. Niềm tin xuất hiện trên cơ sở những giải thích hợp lý trong một phạm vi nào đó về các hiện tượng. Có các niềm tin dựa trên các giải thích của khoa học và có các niềm tin không cần các cơ sở khoa học mà chỉ cần tạo nên một chỗ dựa tinh thần.

Loại niềm tin thứ hai này tạo nên tín ngưỡng. Tìm chỗ dựa cho tư duy là nhu cầu của con người trước các nguy cơ đe dọa đến sự sinh tồn. Khi khoa học chưa đủ sức hoặc chưa thâm nhập sâu vào đời sống của từng cá nhân thì tất yếu tư duy phải tìm đến chỗ dưa tinh thần là tín ngưỡng.

Tư duy tín ngưỡng chủ yếu nhằm đạt đến sự cân bằng trong đời sống tinh thần, giảm căng thẳng cho hoạt động thần kinh và không sử dụng được trong nghiên cứu khoa học. Nhưng nếu tư duy tín ngưỡng chuyển thành tư duy mê tín tìn kết quả có thể làm cho hoạt động thần kinh trở nên căng thẳng. Định hướng tư duy tín ngưỡng cũng là một việc quan trọng.

Cần phân biệt giữa các loại tư duy theo phân loại này với các lĩnh vực mà chúng thực hiện. Tư duy theo phân loại này, ngoài sự liên quan đến nội dung, nó còn có ý nghĩa về phương pháp.

Vì vậy có thể áp dụng loại hình tư duy này vào các lĩnh vực khác, ví dụ có thể áp dụng tư duy triết học trong nghiên cứu khoa học và ngược lại.

Không bắt buộc loại tư duy nào thì chỉ thực hiện trong lĩnh vực đó. Có thể kết hợp nhiều loại hình tư duy để tìm được kết quả tốt nhất và nhanh nhất.

Điu kin ca tư duy

Tư duy là hoạt động cao cấp của hệ thần kinh và để thực hiện được tư duy cần có những điều kiện. Có các điều kiện cơ bản và điều kiện riêng cho từng loại hình tư duy.

* Điều kiện cơ bản:

Hệ thần kinh phải có năng lực tư duy. Đây là điều kiện tiên quyết, điều kiện về bản thể. Thiếu điều kiện này thì không có tư duy nào được thực hiện. Năng lực tư duy thể hiện ở ba loại hình tư duy là kinh nghiệm, sáng tạo và trí tuệ.

Ba loại hình tư duy này mang tính bẩm sinh nhưng có thể bị biến đổi trong quá trình sinh trưởng theo xu hướng giảm dần từ trí tuệ xuống kinh nghiệm, nhưng sự bộc lộ của chúng lại theo chiều hướng ngược lại. đây là biểu hiện của mối quan hệ giữa năng lực bẩm sinh với môi trường sống và trực tiếp là môi trường kinh nghiệm.

Hệ thần kinh đã được tiếp nhận kinh nghiệm, tiếp nhận tri thức. Đây là điều kiện qua trọng. Không có kinh nghiệm, không có tri thức thì các quá trình tư duy không có cơ sở để vận hành.

Kinh nghiệm, tri thức là tài nguyên cho các quá trình tư duy khai thác, chế biến. Để tư duy tốt hơn thì nguồn tài nguyên này cũng cần nhiều hơn. Học hỏi không ngừng sẽ giúp tư duy phát triển.

* Điều kiện riêng:

Điều kiện riêng được đặt ra nhằm giúp cho mỗi loại hình tư duy thực hiện được và thực hiện tốt nhất. Ví dụ muốn có tư duy về lĩnh vực vật lý thì hệ thần kinh phải có các kiến thức về vật lý.

Muốn tư duy về lĩnh vực nào thì phải có kinh nghiệm, tri thức về lĩnh vực đó. Muốn có tư duy lý luận thì phải có sự kết hợp giữa năng lực tư duy trí tuệ với tư duy triết học và tri thức về triết học…

* Ngoài các điều kiện trên đây còn có các điều kiện yêu cầu buộc phải tư duy và có phương pháp tư duy thích hợp. Không ai muốn tư duy khi tư duy là gánh nặng cho hoạt động thần kinh trừ trường hợp tư duy là niềm vui, là khát khao sống của họ. Vì vậy để có tư duy cũng cần phải giao trách nhiệm thực hiện công việc cần tư duy.

Phương pháp tư duy kích thích sự hính thành quá trình tư duy và nâng cao hiệu quả tư duy. Tư duy là một vấn đề phức tạp, nghiên cứu về tư duy cần nhiều thời gian và công sức. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy nhưng các ý kiến vẫn còn chưa có sự thống nhất.

Bạn đọc có thể dễ dàng tìm kiếm các bài viết, các công trình nghiên cứu về tư duy trên mạng bằng việc gõ từ khóa vào các công cụ tìm kiếm. Các vấn đề nêu trong bài viết mới chỉ là những mảng tường thô đầu tiên xem xét tư duy mang tính toàn diện trên cả hai mặt bản thể luận và nhận thức luận (trước đây chỉ có mặt nhận thức luận). Nó còn cần nhiều nghiên cứu hơn, cần nhiều bàn luận hơn để nó trở nên sáng tỏ hơn.

(https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/T%C6%B0_duy_l%C3%A0_g%C3%AC)

Hà Nội, ngày 25-12-2016

THƠ “CHÂM NGÔN” CỦA THÁI BÁ TÂN

Cả đời Thái Bá Tân “chỉ làm thơ – dịch và viết”, sống gắn bó văn chương (đặc biệt là thơ). Như ông bộc bạch, “chỉ viết thơ để nói lòng mình”. Nhưng khi đọc thơ ông, ta thấy bóng dáng của người khác trong đó…

01. Không phải ai cũng biết

Cái nghịch lí thế này:

Muốn giữ chặt hạnh phúc

Thì cần phải nới tay.

02. Ai không muốn mất bạn,

Xin hãy nhớ điều này:

Cứ cho, nếu có thể,

Hỏi vay, không cho vay.

03. Con người, về bản chất

Là tham và vô ơn

Nhờ học hỏi, từng trải,

Chuyện ấy mới đỡ hơn.

04. Không ai được phép chọn

Bố mẹ và nơi sinh.

Bố mẹ càng nghèo khổ,

Càng yêu bố mẹ mình.

05. Nếu tất cả đều giàu,

Thì coi như nghèo hết.

Nếu tất cả giống nhau,

Xã hội coi như chết.

06. Giàu cũng chẳng làm gì.

Danh cũng chẳng làm gì.

Vậy sống để làm gì?

Thực ra, chẳng làm gì.

07. Về già con mới biết

Một chân lý hiển nhiên:

Bố mẹ nhận bão tố

Cho con cháu bình yên.

08. Đúng, tuy nghe nhàm chán:

Ta cho đời cái gì

Sẽ nhận lại cái ấy.

Lại tin không thì tùy.

09. Người uyên thâm không biết

Hết mọi thứ trên đời.

Chỉ thằng ngu mới biết

Hết mọi thứ trên đời.

10. Bản chất của phụ nữ

Là hễ ta cho gì

Là họ nhân cái ấy

Lên nhiều lần, tin đi…

11. Cuộc đời như bữa tiệc,

Bạn mời rất nhiều người.

Một số luôn đến dự,

Một số không nhận lời.

Một số rất vui vẻ,

Một số buồn ủ ê.

Một số nán ở lại.

Một số vội ra về.

Nhưng bao giờ cũng vậy,

Khi cuối cùng tiệc tan,

Chỉ một số rất ít

Ở lại giúp dọn bàn.

Thêm một sự thật nữa,

Là số ít người này

Khiêm tốn khi ăn, nói.

Đời vẫn thế xưa nay.

12. Sự cô đơn, tôi nghĩ,

Rất bổ ích cho người.

Nó giúp ta yên tĩnh

Suy ngẫm về sự đời.

Người muốn làm việc lớn,

Cô đơn lại càng cần.

Nhiều người chỉ chật chỗ

Và càng thêm vướng chân.

13. Xã hội sẽ tốt đẹp

Khi người già như tôi

Trồng cây non, dù biết

Bóng nó người khác ngồi.

14. Muốn đánh giá ai đó

Xấu hoặc tốt ra sao,

Hãy xem cách con chó

Yêu anh ta thế nào.

15. Đến ngày tuyệt chủng hết

Mọi loài trong thiên nhiên,

Ta, con người, mới biết

Mình không ăn được tiền.

16. Mục đích là kiếm tiền

Mà suốt ngày đếm tiền,

Thì đó là dấu hiệu

Không kiếm được nhiều tiền.

17. Rồi sẽ thành nô lệ

Những người vốn không giàu,

Lại đua đòi phóng khoáng.

Rồi xem, không lâu đâu.

18. Người ngu tìm hạnh phúc

Ở đâu đó xa xôi.

Người khôn tìm hạnh phúc

Ngay ở chỗ mình ngồi.

19. Bước đầu tiên cần có

Để đạt một cái gì

Là anh ta phải rõ

Anh muốn đạt cái gì.

20. Con người như tấm kính

Lấp lánh dưới mặt trời.

Khi hết nắng, cũng hết

Vẻ đẹp của con người.

Nhưng con người vẫn đẹp

Trong bóng tối mùa đông,

Nếu có những tia sáng

Phát ra từ bên trong.

Vì sao nước ta chưa trở thành nước CN theo hướng hiện đại?

1. Trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, từ năm 1960 với Đường lối Đại hội III, vấn đề công nghiệp hoá (CNH) đã được Đảng ta đặt ra.

Từ đó đến nay, qua nhiều kỳ Đại hội, CNH vẫn được xác định là một trong những vấn đề quan trọng, cốt lõi, hàng đầu mà Đảng ta quan tâm trong cương lĩnh, đường lối của mình.

Từ Đại hội VII (1991), CNH gắn với hiện đại hoá (HĐH). Trong nội hàm của khái niệm HĐH, CNH giữ vai trò nền tảng, then chốt.

Trong văn kiện của Đại hội VIII, Đảng ta đã nêu mục tiêu, phương hướng phát triển trong 10 năm đầu thế kỷ XXI (2001–2010) là:

“Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”[1].

Sau đó trong các văn kiện của Đại hội lần thứ IX, X, XI mục tiêu này tiếp tục được tái lập.

Tính từ đó đến trước khi diễn ra Đại hội lần thứ XII, tức là sau khoảng 15 năm phấn đấu thực hiện, mục tiêu trên vẫn chưa đạt được.

Điều này đã được Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành trung ương khoá XI trình Đại hội lần thứ XII nói rõ: “Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được[2].

2. Vậy đâu là những nguyên nhân/lý do khiến nước ta chưa trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020?

Khi nói về những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của tình hình, trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khoá XI đã nêu ra nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan của 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI.

Trong đó về nguyên nhân khách quan, văn kiện xác định do nước ta chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái KT toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh; những diễn biến mới phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, căng thẳng do tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông; sự chống phá của các thế lực thù địch.

Còn về chủ quan Báo cáo chỉ rõ: Trực tiếp và quyết định nhất là do ảnh hưởng của các nguyên nhân thuộc về chủ quan. Cụ thể:

– Vào cuối nhiệm kỳ khoá X, kinh tế vẫn trên đà tăng trưởng, song một số khó khăn, hạn chế và những yếu kém vốn có của nền kinh tế đã bộc lộ, nhưng do chưa đánh giá và dự báo đầy đủ, nên trong Đại hội XI đã đề ra một số chỉ tiêu, nhiệm vụ khá cao không sát với thực tế.

– Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa giải đáp được kịp thời một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới.

Nhiều hạn chế, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp uỷ, chính quyền các cấp, của đội ngũ cán bộ, đảng viên chậm được khắc phục.

– Chưa chú trọng đúng mức tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp khi tập trung thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Năng lực dự báo còn hạn chế, cho nên một số chủ trương, chính sách, giải pháp đề ra chưa phù hợp.

– Chưa quyết liệt trong việc chỉ đạo thực hiện một số chủ trương, quan điểm phát triển đã được nêu trong Nghị quyết Đại hội XI về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và các đột phá chiến lược, chưa tạo được cơ chế, chính sách có tính đột phá để huy động mọi nguồn lực cho phát triển.

Như vậy, Báo cáo Chính trị của BCH Trung ương khoá XI trình Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra nhiều yếu tố khách quan, chủ quan có tác động tiêu cực gây ảnh hưởng đến đất nước trong 5 năm qua.

Những ảnh hưởng, tác động tiêu cực này kết thành rào cản làm cho nhiều chỉ tiêu, mục tiêu kinh tế – xã hội trong tiến trình phát triển không đạt được như mong muốn.

Sự nhìn nhận trên đây của Đảng ta là đúng đắn. Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu, học giả, khi quan sát ở những góc nhìn khác sẽ thấy có một số khía cạnh trong Văn kiện chưa đề cập hết hoặc chưa phân tích sâu, cụ thể.

3. Trong một bài viết in trong sách Tình thế và đối thoại (2015), học giả Nguyễn Trần Bạt đã nêu và phân tích hai khía cạnh liên quan đến mục tiêu chưa đạt được về CNH của nước ta. Đó là sự tác động của thế giới và nước ta chưa có nền văn hoá công nghiệp.

3.1. Về tác động của thế giới

Ông Bạt cho rằng, khi nêu mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta chưa nhận thức, lường hết được các yếu tố chủ quan, khách quan tác động vào đất nước khoảng 5 năm 2010-2015.

Đặc biệt, về tình hình thế giới chúng ta quên mất một điều: “Thế giới là một chuỗi các biến động, thế giới hiện đại dần lên nhưng cũng biến động dần lên, Việt Nam không yên tĩnh để làm điều mình muốn, mà bị dắt vào những rắc rối của sự va chạm quốc tế ở Biển Đông”[3].

Biển Đông không đơn thuần chỉ là vấn đề đối ngoại, hơn thế nó là vấn đề có liên quan đến hầu như tất cả các lĩnh vực của đời sống đất nước ta.

Trong những năm qua, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, song vấn đề Biển Đông là nóng nhất, phức tạp nhất. Để xử lý vấn đề phức tạp này, trong những năm qua, nội bộ đất nước ta cũng chưa thống nhất được ý chí và hành động, chưa nói đến các nhân tố quốc tế.

Xử lý các sự việc liên quan đến Trung Quốc là một trong những vấn đề lớn liên quan đến sự phát triển của đất nước và của cả thế giới. Các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ… cũng phải xử lý các quan hệ với Trung Quốc.

Việt Nam là một nền kinh tế bé, kinh tế “vệ tinh” bên cạnh Trung Quốc; nên cũng phải xử lý quan hệ với Trung Quốc. Vì thế, nước ta chưa có điều kiện để phát triển thành một nước công nghiệp được”[4].

3.2. Về nền văn hoá công nghiệp

Ông Bạt còn cho rằng, chúng ta đã quan niệm sai về nền công nghiệp. Theo ông, để biến Việt Nam thành một nước công nghiệp thì không phải chỉ phấn đấu để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, mà quan trọng không kém là phải phấn đấu xây dựng được cả một nền văn hoá công nghiệp.

Trong nền văn hoá này, các đòi hỏi của công nghiệp phải trở thành các yêu cầu văn hoá chỉ đạo sự phát triển trong ý thức của người lao động cho đến nhà lãnh đạo cao nhất. Đa số chúng ta đi họp lúc đi sớm, lúc đi muộn, thảo luận phát biểu theo bản năng, không dựa vào các tiêu chuẩn thực tế.

Chúng ta cũng không xem công ty là sản phẩm của khoa học kinh tế vi mô. Có nhà lãnh đạo, quản lý ngồi hàng giờ trên trường quay truyền hình chỉ để thảo luận khái niệm hợp tác xã kiểu mới. Chúng ta lãng phí rất nhiều thời giờ cho những việc không nằm trong nội hàm của cái gọi là một nền công nghiệp.

Phải chú trọng xây dựng một nền văn hoá công nghiệp thật sự để cả những người bình thường lẫn những nhà chính trị khi thảo luận không ra khỏi nhận thức chung về công nghiệp.

Như vậy mới khuyến khích người dân rèn luyện học tập theo tác phong, nếp sống công nghiệp. Chúng ta vẫn nặng tâm lý thích bằng cấp, thích tiến sĩ, kỹ sư (chẳng hạn nêu chỉ tiêu đào tạo 20 ngàn tiến sỹ…).

Làm sao có thể xây dựng một nước công nghiệp bằng tiến sỹ? Trên thế giới, không ở đâu xây dựng một nền công nghiệp quốc gia bằng lực lượng tiến sĩ. Không thể tạo ra một nền công nghiệp cơ khí bằng các ông tiến sĩ về kinh tế được.

Thực tế, người ta xây dựng nền công nghiệp cơ khí bằng những nhà đầu tư về công nghiệp và những công nhân kỹ thuật công nghiệp. Dường như chúng ta không để ý đến những điều này.

Vì thế, để xây dựng một nền công nghiệp trên thực tế chứ không phải trên lời nói thì phải tổ chức các chương trình giáo dục để chuẩn bị cho xã hội một lực lượng lao động có năng lực công nghiệp và những nhà chính trị có năng lực yêu công nghiệp.

Chúng ta chưa làm được điều đó. Chúng ta chưa yêu công nghiệp mà đã yêu ngay khía cạnh hiện đại của công nghiệp.

Khi mô tả xây dựng, phát triển công nghiệp “theo hướng hiện đại”, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng phải nghiên cứu cẩn thận. Nếu không cẩn thận sự mô tả về nó như một thứ thời thượng sẽ định hướng sai cho xã hội.

Phải biến thành văn hoá để chi phối toàn bộ nhận thức của xã hội về khái niệm công nghiệp và tính hiện đại của nó, nếu không người ta sẽ bỏ qua “công nghiệp” để tiến ngay lên “hiện đại”.

Từ đó, vô tình tài chính hoá toàn bộ nền kinh tế và nó trở thành thị trường chứng khoán bằng mọi giá. Điều đó vô cùng nguy hiểm, nó đẩy người lao động ra khỏi thị trường và không có tương lai.

Nếu không cẩn thận, ngay cả chuyện làm trễ lại mục tiêu biến Việt Nam thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại với các điều kiện cơ bản cũng vẫn là một trạng thái có thể không đạt được kết quả.

Nếu không xây dựng được các tiêu chuẩn văn hoá trong việc phát ngôn, trong việc nghĩ, trong việc xây dựng các chính sách công nghiệp thật sự, chúng ta sẽ không có công nghiệp. Mà không có công nghiệp có nghĩa là người Việt Nam ở dưới tiêu chuẩn của nhân loại về phát triển.

Công nghiệp là chuẩn của sự phát triển, nó sinh ra văn hoá, sinh ra kỷ luật xã hội, sinh ra các yêu cầu của thị trường, yêu cầu của chất lượng; sinh ra tất cả các tiêu chuẩn hành vi của toàn xã hội trong quá trình phát triển kinh tế[5].

4. Như vậy, việc nước ta chưa trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như trong văn kiện của các Đại hội Đảng nêu ra là có nhiều nguyên nhân về khách quan, chủ quan. Báo cáo Chính trị và các văn kiện khác của Đảng đã đề cập đến những nguyên nhân chủ quan, khách quan này; nhưng chúng ta biết, văn kiện thường viết ở dạng cô đọng, khái quát, không thể phân tích sâu và đầy đủ các nội dung.

Trong tình hình như vậy, việc tìm đọc và tiếp thu thêm những thông tin, kiến thức của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trình bày rải rác ở những nguồn tài liệu khác nhau như sách, báo chí, mạng xã hội… đối với người giảng viên là cần thiết.

Những thông tin, tri thức thu thập được sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ, đa chiều và cụ thể hơn đối với nhiều vấn đề được trình bày trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Từ đó có thể suy ngẫm, chắt lọc phục vụ cho hoạt động chuyên môn của mình…

Tài liệu trích dẫn:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 500.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trên http://daihoi12.dangcongsan.vn/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340728&cn_id=400849

[3] Nguyễn Trần Bạt: Tình thế và giải pháp (Đối thoại), Nxb Hội Nhà văn, 2015, tr. 442.

[4] Có thể do khuôn khổ bài viết, ông Bạt không triển khai rõ hơn ý mình đối với luận điểm này.

[5] Nguyễn Trần Bạt: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ và liên tục”, trong sách Tình thế và giải pháp, Nxb Hội nhà văn, 2015, tr. 442-445.

Hà Nội, ngày 15/03/2016

TS Bùi Hồng Vạn

(TTKH bộ môn, 3-2016)

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA DÂN CHỦ

1. Dân chủ là mục tiêu và động lực của phát triển xã hội.

Trong quan niệm của mình, Hồ Chí Minh xem xét dân chủ là một thiết chế chính trị, là ph­ương thức tồn tại của nhân dân và là sản phẩm của tiến bộ xã hội. Với những ý nghĩa đó, dân chủ có vai trò rất to lớn: dân chủ vừa là mục đích, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.

Từ chế độ dân chủ chủ nô tới chế độ dân chủ t­ư sản là những bư­ớc tiến vĩ đại của các thiết chế xã hội, của những ph­ương thức tồn tại của nhân dân và nó biểu thị sự tiến bộ của xã hội loài ngư­ời.

Tuy nhiên, nhân loại vẫn phải tiếp tục tranh đấu cho một thiết chế xã hội mới, một phư­ơng thức tồn tại với một trình độ văn minh mới: dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Rõ ràng, trong lịch sử nhân loại, dân chủ là mục tiêu tranh đấu của nhân loại, là cuộc đấu tranh giải phóng chính bản thân con ng­ười, cuộc đấu tranh để v­ơn tới một xã hội triệu lần dân chủ hơn nền dân chủ tư­ sản với áp bức giai cấp, áp bức dân tộc và chiến tranh.

Hồ Chí Minh khẳng định nư­ớc ta là một n­ước dân chủ và là dân chủ mới để tiến đến chủ nghĩa xã hội. Tư­ tư­ởng đó của Ng­ười đã đ­ược ghi thành tiêu chí của đất nư­ớc ở thời kỳ tồn tại và phát triển của nư­ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà và hiện nay cũng là tiêu chí của n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xây dựng nhà nư­ớc dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để tiến đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thực chất là để đạt tới mục tiêu xây dựng nư­ớc ta là n­ước dân chủ theo t­ư tưởng Hồ Chí Minh.

Từ mục tiêu phấn đấu xây dựng n­ước Viêt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cư­ờng mà Hồ Chí Minh nêu lên từ Đại hội II của Đảng (năm 1951) đến mục tiêu Viêt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh đ­ược Ngư­ời chỉ rõ sau năm 1954 và đ­ược ghi nhận như­ điều mong muốn cuối cùng để lại cho Đảng và nhân dân ta trong Di chúc, dân chủ luôn là mục tiêu phấn đấu không ngừng của cách mạng nư­ớc ta.[1]

Hồ Chí Minh khẳng định công việc đổi mới, xây dựng, kháng chiến, kiến quốc, tổ chức xã hội là trách nhiệm, công việc của dân, do dân và quyền hành, lực l­ượng đều ở nơi dân… Thực hiện dân chủ tức là sử dụng tất cả quyền hành và lực lư­ợng to lớn của nhân dân để hoàn thành các nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân.

Đất n­ước ta thoát ra từ chế độ thực dân, nửa phong kiến tồn tại nhiều thành phần kinh tế gắn với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau tất yếu hình thành trong xã hội các động lực bộ phận.

Để phát huy đầy đủ khả năng của các động lực bộ phận tạo nên tổng hợp lực mạnh mẽ của đất n­ước phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ về lợi ích của tất cả các thành phần trong xã hội, làm cho động lực của các bộ phận cư­ dân trong xã hội sắp xếp theo một h­ướng nhất định.

Dân chủ là giải pháp hữu hiệu để tạo nên sự nhất trí căn bản về lợi ích của các thành phần kinh tế, các giai tầng và các cộng đồng dân tộc trong xã hội n­ước ta. Sự nhất trí đó tổng hợp thành sức mạnh của dân tộc, tạo nên nội lực mạnh mẽ đ­ưa đất nư­ớc vượt qua tất cả khó khăn, thử thách.

Hồ Chí Minh viết: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên đư­ợc tất cả lực l­ượng của nhân dân đ­ưa cách mạng tiến lên”[2] và “Chế độ của chúng ta thực hiện dân chủ đồng thời thực hiện sự đoàn kết toàn dân”[3] .

Do đó, Ng­ười cho rằng phải “vận động tất cả lực l­ượng của mỗi một ng­ười dân không để sót một ng­ười nào, góp thành lực lư­ợng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể giao cho”[4] .

Nh­ư vậy, là mục tiêu nh­ưng dân chủ đồng thời là động lực của sự phát triển xã hội. Vai trò động lực của dân chủ đã đ­ược thể hiện rất rõ rệt trong toàn bộ tiến trình cách mạng n­ước ta.

Cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đư­a nhân dân ta từ địa vị bị áp bức lên địa vị làm chủ đất n­ước, làm chủ xã hội và hoạt động với t­ư cách là các chủ thể tự giác xây dựng xã hội mới đã tập hợp đ­ược toàn dân tộc và khối đoàn kết đó đã đảm bảo cho tính hợp pháp của chế độ dân chủ cộng hoà mới đ­ược sáng lập sau cách mạng tháng Tám bằng Tổng tuyển cử dân chủ.

Trong điều kiện cam go của đất n­ước sau cách mạng tháng Tám, quyền làm chủ của nhân dân đ­ược thực hiện thông qua bầu cử là vũ khí hữu hiệu duy nhất đư­ợc sử dụng vào thời điểm đó để bảo vệ thành quả của cách mạng là chế độ dân chủ non trẻ ở tình thế ngàn cân treo đầu sợi tóc, với thù trong, giặc ngoài.

Dân chủ trong lĩnh vực chính trị còn đư­ợc khẳng định bằng việc thực hiện từng b­ước dân chủ trong các chính sách về kinh tế, văn hoá, xã hội.

Điều này thu hút ngày càng đông nhân dân tham gia vào thực hiện các nhiệm vụ của đất n­ước, hình thành những điều kiện làm sâu rộng thêm nền tảng dân chủ, tạo ra những tiền đề mạnh mẽ trên các lĩnh vực đ­a xã hội tiến lên một trạng thái mới.

Cũng chính nhờ các phong trào dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa (nh­ư phong trào chống giặc đói – với thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm; phong trào chống giặc dốt – với phong trào bình dân học vụ, và việc hiện thực hoá nền dân chủ đất n­ước bằng phát động phong trào xây dựng đời sống mới…).

Hồ Chí Minh đã tạo nên động lực mạnh mẽ của toàn dân tộc, đoàn kết toàn dân, làm hậu thuẫn vững chắc cho các hoạt động chính trị – ngoại giao của Nhà nư­ớc ta sau cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Như­ vậy, dân chủ đã tạo ra địa bàn để phát huy mọi tiềm lực, tập hợp các xu h­ướng lành mạnh trong dân tộc làm gia tăng và phát huy Thế và Lực của đất n­ước và cũng vì thế vai trò động lực của dân chủ có giá trị to lớn và lâu bền.

Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do nhân dân tiến hành đem lại độc lập cho Tổ quốc và đáp ứng mơ ­ước ngàn đời của đa số cư­ dân Việt Nam là nông dân về ruộng đất, đ­ưa tới sự tự do cho con ng­ười và vị trí của ng­ười làm chủ khi tham gia vào các hoạt động chính trị của đất nư­ớc đã đem lại nguồn nội lực cực kỳ vĩ đại cho hai cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện oanh liệt.

Thắng lợi của dân tộc qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc là minh chứng sáng tỏ nhất vai trò động lực của dân chủ theo t­ư t­ưởng Hồ Chí Minh.

Vai trò ấy đã đ­ược Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam phát huy và nó đã thể hiện bằng thắng lợi thực tế của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.

Thành công của công cuộc đổi mới ngày nay, xét tới cội nguồn, cũng được khởi đầu bằng quá trình dân chủ hoá trong các lĩnh vực đã tạo nên động lực mạnh mẽ đ­ưa đất n­ước ta v­ợt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế – xã hội  trong thập kỷ 80.

Đây lại là một hiện thực sinh động nữa minh chứng về tầm quan trong và sự vững bền của động lực dân chủ đối với sự phát triển xã hội, đối với sự tiến hoá của dân tộc ta.

Tất cả các vấn đề trên làm sáng tỏ hơn nữa khái niệm dân chủ của Hồ Chí Minh khi Người coi nguồn gốc của quyền hành và lực l­ượng đều ở nơi dân. 

2- Thực hành dân chủ là chìa khoá của sự phát triển.

Xuất phát từ quan niệm về quyền hành, lực l­ượng cũng như lợi ích đều thuộc về nhân dân, Hồ Chí Minh coi thực hành dân chủ là sự huy động và sử dụng đ­ược tối đa quyền hạn, lực l­ượng của toàn dân để thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng vì lợi ích của nhân dân ở tất cả các thời kỳ phát triển.

Vai trò quan trọng đó đ­ược Hồ Chí Minh thực hiện rất thành công trong thực tiễn cách mạng n­ước ta.

Thực hành dân chủ trong lĩnh vực chính trị bằng cách tổ chức cho nhân dân tham gia xây dựng nhà n­ước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí Minh đã khơi dậy và nâng cao động lực tinh thần làm chủ đất n­ước của mỗi ng­ười và cả dân tộc, trong đó mỗi ngư­ời dân sử dụng lá phiếu của mình như một bảo đảm cao nhất để giữ nền độc lập dân tộc mới giành đ­ược.

Nền dân chủ mới ngay sau khi đ­ợc thiết lập đã lập tức thể hiện bản chất, vai trò của mình: phát động toàn dân tham gia thực hiện thành công các nhiệm vụ chống giặc đói, chống giặc dốt và chống giặc ngoại xâm, đư­a đất n­ước và chế độ mới v­ượt qua bước hiểm nghèo của lịch sử.

Chính phong trào do nhân dân thực hiện trên các lĩnh vực đã khẳng định vị trí là chủ và làm chủ của mỗi ng­ười dân trong một quốc gia độc lập và điều đó tạo ra sức mạnh tổng hợp vô cùng lớn lao đư­a cách mạng Việt Nam v­ượt qua thác ghềnh hiểm nghèo để tiến lên.

Đó cũng là sự thành công đầu tiên của tiến trình dân chủ hoá ở n­ước ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.

Điều đó cho thấy, mỗi b­ước tiến của dân chủ đem lại cho con ngư­ời, cho xã hội một sức sáng tạo mới, một khởi động lực mới cho sự phát triển của con ngư­ời và xã hội.

Thành công của Hồ Chí Minh là ở chỗ, tất cả các nhiệm vụ của dân tộc đều đ­ược xây dựng thành các phong trào quần chúng, phong trào của cả dân tộc thông qua việc phát động toàn dân thi đua vì lợi ích của chính nhân dân: phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; hũ gạo cứu đói; tuần lễ vàng; phong trào bổ túc văn hoá xoá nạn mù chữ; phong trào đời sống mới; phong trào thi đua ái quốc, phong trào thi đua giết giặc, phong trào trồng cây, phong trào rèn luyện sức khoẻ, phong trào thi đua lao động, sản xuất mỗi ng­ười làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt…

Đó thực sự là các phong trào dân chủ đ­ược phát triển rộng rãi trên mọi lĩnh vực đã đoàn kết và động viên đ­ược tất cả các lực l­ượng, trí tuệ, sáng kiến của nhân dân để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng nư­ớc ta.

Theo Hồ Chí Minh “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó đ­ược khen ngợi thì những ng­ười đó càng hăng hái và ng­ười khác cũng học theo.

Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc thì những khuyết điểm lặt vặt cũng tự sửa chữa đư­ợc nhiều”[5] .

Nh­ư thế, thực hành dân chủ đ­a lại tác dụng giải phóng tiềm năng sáng tạo của nhân dân và trở thành động lực của sự tiến bộ và phát triển không chỉ đối với toàn xã hội mà đến với từng tập thể và mỗi con ng­ười.

Trái lại, Ng­ười cho rằng, nếu trong cán bộ, nhân dân “ít sáng kiến, ít hăng hái là vì nhiều lẽ. Mà tr­ước hết là vì: cách lãnh đạo của ta không được dân chủ”[6].

Như­ vậy, thực hành dân chủ, một mặt khẳng định hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động, mặt khác tạo ra điều kiện khắc phục những hạn chế của sự vi phạm dân chủ, phát huy sáng tạo cá nhân và tập trung đ­ược trí tuệ của toàn dân.

Đây chính là quá trình tạo ra những tiền đề chính trị đ­ưa xã hội tiến lên trạng thái mới phát triển hơn nữa nền dân chủ xã hội.

Quan điểm và sự chỉ đạo thực tiễn trên đây của Hồ Chí Minh cho thấy: Ng­ười không chỉ phát huy tác dụng của thực hành dân chủ mà còn đ­ưa nó trở thành các phong trào nhân dân, sử dụng quyền hành, lực lượng và phát huy trí tuệ của nhân dân để đạt tới mục tiêu ai cũng đ­ược h­ưởng quyền tự do, dân chủ, vì lợi ích của nhân dân.

Nhờ thực hành dân chủ mà việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng đ­ược tổ chức thành các phong trào nhân dân rộng rãi, Hồ Chí Minh đã phát huy tối đa nội lực của dân tộc để thành công trong cả quá trình vận động và thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng.

Đ­ưa nhân dân trở thành chủ thể tự giác tham gia vào các hoạt động cách mạng và xây dựng xã hội mới thông qua các phong trào dân chủ là tư­ t­ưởng chính trị HCM, Ng­ười nói:

“Có phát huy dân chủ cao độ thì mới động viên đ­ược tất cả lực l­ượng nhân dân đ­a cách mạng tiến lên”[7]  và “Chỉ có d­ưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dư­ới chế độ mà nhân dân lao động làm chủ nư­ớc nhà, thì mới có phong trào thi đua”[8].

Khi trở thành phong trào thi đua của nhân dân, xã hội tự nó đã tiến lên một điểm xuất phát mới với trạng thái mới, do đó, quá trình dân chủ hoá mở ra sự phát triển mới cho xã hội.

  Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tới vấn đề phát triển và thực hành dân chủ trong xây dựng chế độ dân chủ mới, xây dựng nhà nư­ớc, xây dựng Đảng, cũng như­ các tổ chức quần chúng xã hội, xây dựng khối đoàn kết toàn dân…

Theo Ng­ười, “phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”[9].

   Những vấn đề này cho thấy, HCM đã hiểu rõ trình độ của một nền dân chủ chính là thể hiện ở mức độ tham gia của nhân dân vào các hoạt động của xã hội, của đất n­ước.

Và như­ thế, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy các mục tiêu dân chủ được chính nhân dân thực hiện bằng những phong trào dân chủ sẽ liên tục xây đắp đ­ược những nấc thang trình độ dân chủ mới với sự nỗ lực và phát triển ngày càng cao của khối đoàn kết toàn dân.

Do đó, với dân chủ, nhân dân có thể thực hiện đ­ược bất cứ nhiệm vụ nào vì sự nghiệp giải phóng của chính bản thân nhân dân.

  Vì vậy, Hồ Chí Minh tổng kết: “Thực hành dân chủ là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”[10].

 Chú thích

[1] Cụm từ Dân chủ và Giàu mạnh đ­ược Hồ Chí Minh dùng đầu tiên ở Lời kêu gọi trong buổi lễ mừng quốc khánh vào ngày 2 – 9 – 1955 và lần cuối xuất hiện trong Di chúc. Cụm từ này xuất hiện 82 lần trong Hồ Chí Minh Toàn tập.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, đ d , tr 593.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, đ d, tr 591

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, đ d, tr. 698.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, đ d, tr. 244.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, đ d, tr. 243.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H, 1996, tr. 592.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, đ d, tr. 198.

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, đ d, tr. 495.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H, 1996,  tr. 249. – See more at: file:///C:/Users/admin/Desktop/BLOGGER/TLIEU…

TS PHẠM HỒNG CHƯƠNG

(VIỆN HỒ CHÍ MINH, HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH)

Tư tưởng Hồ Chí Minh – không thể phủ nhận

Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lỗi lạc, có nhiều cống hiến kiệt xuất vào kho tàng tư tưởng – lý luận của dân tộc và nhân loại. Nhận thức được những giá trị và tầm vóc thời đại trong tư tưởng của Người là cả một quá trình.

Song cho đến nay vẫn còn những ý kiến hồ nghi, thậm chí là phủ nhận, xuyên tạc, cho rằng, không thể có tư tưởng Hồ Chí Minh, vì ở Người “không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và bản thân Người cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng”.

Sự thật là thế nào?

Ngay sau khi Người qua đời, nhiều chính khách, nhà nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng Hồ Chí Minh là một nhà tư­ tư­ởng, nhà mácxít sáng tạo, đầy bản lĩnh.

Khái niệm “nhà tư tư­ởng” ở đây được hiểu đúng với tinh thần của V.I.Lênin: Một người xứng đáng là “nhà tư t­ưởng” khi nào giải quyết trư­ớc ngư­ời khác tất cả những vấn chính trị – sách lược, các vấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát.

Năm 1970, nhà triết học Nhật Bản Singô Sibata đã viết cuốn sách có tiêu đề  Hồ Chí Minh, nhà tư tưởngvà cho rằng:

“Nguồn gốc thắng lợi của Việt Nam, trong một mức độ lớn, bắt nguồn từ trình độ cao của triết học và lý luận mà nhân dân Việt Nam đạt được”. Báo chí Cuba coi “Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời đại chúng ta”.

Cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ Gớt Hôn thì cho rằng:

“Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và là một nhà tư tưởng mácxít – lêninnít vĩ đại của thế giới…Cả loài người sẽ đời đời trân trọng giữ gìn những cống hiến của Người vào kho tàng của chủ nghĩa Mác”.

Còn UNESCO thì khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”.

Như vậy, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, thế giới đều thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhà lý luận vĩ đại của thời đại chúng ta.

Ở Việt Nam, tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh được nói đến chính thức trong hơn 15 năm trở lại đây. Đại hội VII của Đảng (6-1991) đã chính thức sử dụng thuật ngữ, nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nghị quyết 09/NQ/TW ngày 18-2-1995 của Bộ Chính trị (khoá VII) về một số định h­ướng lớn trong công tác t­ư tư­ởng, khẳng định:

“Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nư­ớc thuộc địa và phụ thuộc”.

Văn kiện Đại hội IX (4-2001), Đại hội XI (1-2011) đều viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nư­ớc ta…”

Vì thế, khi nói đến Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng, nhà mácxít sáng tạo cần được hiểu ở Người vừa có những tư­ tư­ởng, cách làm mới, chưa hề có trong học thuyết Mác – Lênin, vừa có những quan điểm dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, không rập khuôn, mà có những cách nhận thức, giải quyết mới.

Theo cách hiểu đó, rõ ràng Hồ Chí Minh có nhiều sáng tạo lý luận có giá trị về cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, vạch ra con đư­ờng cách mạng đầy sáng tạo của Việt Nam.

Hồ Chí Minh một mặt khẳng định tính chất thật sự cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, cho đó là “Chủ nghĩa chắc chắn nhất, chân chính nhất, cách mệnh nhất” và “Chủ nghĩa Mác – Lênin là kim chỉ nam cho hành động” của toàn Đảng, toàn dân ta.

Nh­ưng mặt khác, trong khi tìm hiểu và vận dụng những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra ở phư­ơng Đông có những đặc điểm khác với các nước phư­ơng Tây mà thời Mác chư­a có điều kiện nghiên cứu.

Khác với nhiều trí thức t­ư sản phư­ơng Tây đến với chủ nghĩa Mác – Lênin chủ yếu như đến với một học thuyết, nhằm giải quyết những vấn đề về t­ư duy hơn là hành động, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin là để tìm kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nư­ớc, giải phóng dân tộc, tức là từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

Ngư­ời đã tiếp thu lý luận Mác – Lênin theo phư­ơng pháp nhận thức mácxít, đồng thời theo lối “đắc ý, vong ngôn” của phương Đông, cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất chứ không chịu trói buộc trong cái vỏ ngôn từ.

Hồ Chí Minh vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để tìm ra những chủ trương, giải pháp, đối sách phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở kinh điển.

Từ ph­ương pháp tiếp cận đúng đắn, mạnh dạn, khoa học trong kế thừa và phát triển học thuyết Mác – Lênin, đồng thời bám sát thực tiễn Việt Nam và thế giới, trên bình diện nhà tư t­ưởng, Hồ Chí Minh có những sáng tạo lớn trên nhiều lĩnh vực, ở mỗi lĩnh vực, Ng­ười đều có những chỉ dẫn có giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao.

Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã có những luận điểm sáng tạo góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác – Lênin trong vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ mới và con đ­ường quá độ lên CNXH ở một nước phương Đông, thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu.

Những luận điểm ấy của Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, bao quát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Đó cũng chính là những giá trị tiềm ẩn trong t­ư tư­ởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu sâu hơn nữa ở mức độ học thuyết.

Một là, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh trở thành ngư­ời cộng sản Việt Nam đầu tiên, tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn cho dân tộc: Đó là Làm t­ư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.

Bởi lẽ, Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới c­ứu nhân loại, đem lại cho mọi ng­ười không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên trái đất…. Người đi đến một nhận thức có tính chân lý: Muốn cứu nư­ớc và giải phóng dân tộc, không có con đư­ờng nào khác con đư­ờng cách mạng vô sản.

Con đ­ường cách mạng vô sản là sự lựa chọn của Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là sự lựa chọn của bản thân lịch sử dân tộc.

Xét về thực chất, đây là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vừa đáp ứng được các nhu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay.

Tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh đã dẫn dắt dân tộc ta vững b­ước tiến về phía trước.

Ở đây, Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, dân tộc và quốc tế.

Người khẳng định:

“Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của sự phát triển đất nước”; gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới, nghĩa là Ngư­ời đã quốc tế hoá những vấn đề của cách mạng nư­ớc ta.

Hai là, Hồ Chí Minh là ng­ười dân thuộc địa và là người cộng sản đầu tiên có cống hiến to lớn về nghiên cứu chủ nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Người đã chỉ rõ bản chất, quy luật vận động, địa vị lịch sử của chủ nghĩa thực dân và sự diệt vong tất yếu của nó trong quá trình vận động, phát triển của nhân loại tiến bộ; vạch ra cho nhân loại con đường thoát khỏi chế độ thực dân.

Hồ Chí Minh đã nêu một luận điểm đặc biệt sáng tạo: cách mạng ở các nư­ớc thuộc địa cần được tiến hành một cách độc lập, chủ động, sáng tạo, có khả năng giành đư­ợc thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc và tác động trở lại, thúc đẩy cách mạng chính quốc.

Luận điểm mới mẻ, sáng tạo này có căn cứ khoa học, dựa trên sự nghiên cứu thấu đáo vị trí, vai trò của thuộc địa trong hệ thống chủ nghĩa tư bản thế giới, tiềm năng cách mạng của nhân dân thuộc địa và được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Ba là, Hồ Chí Minh có những sáng tạo trong nhận thức về CNXH và con đ­ường quá độ lên CNXH ở một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư­ bản chủ nghĩa, thể hiện tập trung ở các nội dung:

Chủ nghĩa cộng sản thích ứng ở châu Á, dễ hơn ở châu Âu; tiếp cận tổng hợp các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, văn hóa về tính tất yếu và bản chất đặc tr­ưng của CNXH; quan điểm xác định mục tiêu, động lực, các lực cản trong quá trình phát triển của CNXH; xác định loại hình quá độ, nội dung, bước đi và hệ thống các biện pháp tiến hành xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Bốn là, Hồ Chí Minh đã nêu những luận điểm mới mẻ, đầy sáng tạo về Đảng và xây dựng Đảng, thể hiện tập trung ở ba nội dung quan trọng nhất:

Quy luật hình thành Đảng Cộng sản; bản chất của Đảng trong điều kiện một n­ước nông nghiệp lạc hậu; xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền.

Ở mỗi nội dung, Hồ Chí Minh đều có các phát kiến lý luận, làm phong phú và phát triển học thuyết Mác – Lênin về Đảng vô sản, hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, có giá trị sâu sắc cho công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Năm là, trong tổ chức, tập hợp lực l­ượng, Hồ Chí Minh đã có các quan điểm sáng tạo về chiến lược đại đoàn kết dân tộc theo phư­ơng châm:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.

Với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc đã đ­ược nâng lên một tầm cao mới về chất: Đại đoàn kết có tổ chức, có lãnh đạo. Chiến l­ược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một cống hiến to lớn vào kho tàng kinh nghiệm của cách mạng thế giới.

Sáu là, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến sáng tạo về t­ư tư­ởng quân sự, đặt nền móng cho sự hình thành học thuyết quân sự cách mạng Việt Nam hiện đại.

Đó là tư­ tư­ởng dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng; về khởi nghĩa vũ trang toàn dân; về xây dựng lực lư­ợng vũ trang nhân dân; về kháng chiến toàn dân, toàn diện, trư­ờng kỳ, dựa vào sức mình là chính; về quốc phòng toàn dân và chiến lược bảo vệ Tổ quốc; về nghệ thuật quân sự chủ động tiến công, kết hợp chặt chẽ lực, thế, thời, mưu, đánh địch bằng mọi lực lượng, mọi quy mô, mọi cách, mọi địa hình, đánh vào lòng ngư­ời, kết hợp tác chiến với binh vận, địch vận.

Bảy là, ở Hồ Chí Minh hình thành và phát triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo về Nhà n­ước kiểu mới ở Việt Nam.

Đó là quan niệm về Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về sự thống nhất bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; về Nhà nước pháp quyền, kết hợp cả “đứ­c trị” và “pháp trị” trong quản lý xã hội, lãnh đạo đất nước.

Tám là, Hồ Chí Minh có những luận điểm mới, đầy sáng tạo về vai trò, sức mạnh của văn hoá, đạo đức, coi đạo đức, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng; đặc biệt chú ý đến vấn đề con người, tất cả vì con người, do con người.

Luôn luôn coi trọng vai trò của nhân tố con ngư­ời, coi sự nghiệp “trồng người” là nhiệm vụ chiến lư­ợc, vấn đề có tính quy luật, quyết định sự thành bại của cách mạng…

Những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh nêu trên là những sáng tạo nổi bật và là những đóng góp không những đối với lý luận cách mạng Việt Nam mà còn đóng góp vào kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Vì thế, không chỉ dựa vào chủ nghĩa Mác – Lênin mà còn phải dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh mới có khả năng tìm thấy câu trả lời cho nhiều vấn đề phát triển có tính quy luật của cách mạng Việt Nam.

Đây chính là cơ sở khoa học, cắt nghĩa một cách không thể chối cãi kết luận của Đảng Cộng sản Việt Nam:

Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc Việt Nam, tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Sự thật này đã được lịch sử kiểm chứng, không một ai, cho dù cố tình bóp méo và xuyên tạc, cũng không thể phủ nhận được!

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2013

PGS, TS Phạm Ngọc Anh, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế và đoàn kết Việt Nam – Lào – Campuchia

Đoàn kết quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng trong tư tưởng HCM, có giá trị bền vững đối với sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, đoàn kết quốc tế nói chung và sự nghiệp củng cố, tăng cường đoàn kết Việt Nam – Lào – Campuchia nói riêng.

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, tiếp tục nghiên cứu, phát huy tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế,  Việt Nam – Lào – Campuchia càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển, thịnh vượng của mỗi nước và khu vực.

Với khát vọng giải phóng dân tộc, Chủ tịch HCM đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Tiếp xúc với bản Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Chủ tịch HCM đã nhìn ra con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và ở Việt Nam.

Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.127)

 Với bước chuyển biến cơ bản này, Chủ tịch HCM đã có cơ sở khoa học cho hình thành phát triển những tư tưởng khác về con đường cách mạng Việt Nam, trong đó nổi bật và trước hết là tư tưởng về đoàn kết quốc tế, nền tảng chung cho các vấn đề đoàn kết khác.

Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, HCM đã hội tụ được các giá trị của truyền thống đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam trong lịch sử dựng nước, giữ nước với tinh hoa đoàn kết quốc tế vô sản trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại.

Tư tưởng về đoàn kết quốc tế của HCM từng bước hình thành, phát triển, từ truyền thống đoàn kết toàn dân tộc đến đoàn kết quốc tế.

Trước khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch HCM đã sớm có nhận thức và thái độ đúng đắn về đoàn kết giữa các giai cấp cách mạng trên thế giới với các dân tộc thuộc địa, dân tộc bị áp bức.

Người chỉ rõ: “… trong cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề mà tôi quan tâm hơn hết và do đó mà tôi đã tìm ra được con đường đúng” (Sđd, t.12, tr.470-471).

Đồng thời Người còn viết: “Khi tôi nêu câu hỏi: “Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức?” thì người ta trả lời: Quốc tế thứ ba” (Sđd, t.12, tr.471).

Quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và hoạt động cách mạng, Chủ tịch HCM đã từng bước hoàn thiện tư tưởng đoàn kết quốc tế của mình.

Người đã phát hiện ra lực lượng cần và phải đoàn kết để tạo sức mạnh chống lại kẻ thù là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. HCM khẳng định: “…dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” (Sđd, t.1, tr.266).

Có thể thấy, chủ nghĩa Mác – Lênin là nhân tố có ý nghĩa quyết định bước phát triển tư tưởng HCM về đoàn kết – đoàn kết quốc tế trên lập trường vô sản.

Những nội dung trong tư tưởng của Người về đoàn kết với các lực lượng, các giai cấp cách mạng trên thế giới trong sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và nhân loại khác hoàn toàn với các loại tư tưởng như của giai cấp tư sản, của chủ nghĩa cơ hội, xét lại hay của những tư tưởng dân tộc hẹp hòi khác.

“Chủ nghĩa Lênin và đường lối Quốc tế Cộng sản là nhân tố quan trọng nhất, nhân tố quyết định hình thành chiến lược đoàn kết quốc tế của Nguyễn Ái Quốc”(1).

Tuy nhiên, để bảo vệ, phát triển tư tưởng về đoàn kết quốc tế trên lập trường chủ nghĩa Mác – Lênin, HCM đã phải không ngừng đấu tranh với những quan điểm sai trái. Người phê phán “Tình trạng thờ ơ của giai cấp vô sản chính quốc đối với các thuộc địa” (Sđd, t.1, tr.63).

Bởi vì, một số chiến sĩ cộng sản ở chính quốc cho rằng: “… một thuộc địa chẳng qua chỉ là một xứ dưới đầy cát và trên là mặt trời, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi” (Sđd, t.1, tr.63).

Đồng thời, Người phê phán quan điểm cho rằng: “…người bản xứ là hạng người thấp kém, không đáng kể, không có khả năng để hiểu biết được và lại càng không có khả năng hoạt động” (Sđd, t.1, tr.64).

Người yêu cầu các nhà cách mạng, các tổ chức cách mạng thế giới không chỉ có nhận thức, có thái độ đúng, mà còn phải có hành động đúng trong ủng hộ, giúp đỡ cách mạng thuộc địa.

Đồng thời, các đảng trong các nước mà giai cấp tư sản có thuộc địa và áp bức các dân tộc khác phải có một đường lối đặc biệt rõ ràng, minh bạch đối với vấn đề này.

Người viết: “Về vấn đề giải phóng dân tộc, Điều 8 của văn kiện ghi rõ: “Đảng nào muốn ở trong Quốc tế thứ ba đều buộc phải thẳng tay vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của bọn đế quốc “nước mình” trong các thuộc địa, ủng hộ trên thực tế chứ không phải bằng lời nói mọi phong trào giải phóng ở thuộc địa” (Sđd, t.1, tr.490).

Luận chứng cho vấn đề đoàn kết quốc tế của mình, HCM còn chỉ rõ cho các tổ chức cách mạng thế giới rằng, sự đoàn kết đó có cơ sở từ sự thống nhất về lợi ích, thống nhất về sứ mệnh lịch sử trong sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại.

HCM viết: “Hỡi các bạn bị áp bức ở chính quốc! Giai cấp tư sản trong nước các bạn đã lừa dối các bạn, dùng các bạn làm công cụ đi xâm lược đất nước chúng tôi. Ngày nay, vẫn dùng cái chính sách quỷ quyệt ấy, giai cấp tư sản nước các bạn lại định dùng chúng tôi để đàn áp mọi cố gắng tự giải phóng của các bạn. Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất, các bạn hãy nhớ lời kêu gọi của Các Mác: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại”” (Sđd, t.2, tr.128).

Từ vấn đề về bản chất của chủ nghĩa đế quốc được Người ví như “con đỉa hai vòi” và “cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa như hai cánh của một con chim”, HCM đã vượt lên trên các nhà cách mạng, các tổ chức cách mạng thế giới trong đánh giá vai trò to lớn của cách mạng thuộc địa đối với cách mạng vô sản thế giới, làm cơ sở khoa học cho tư tưởng đoàn kết quốc tế trên lập trường quốc tế vô sản.

Người chỉ rõ: “… trước hết nảy ra khả năng và sự cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung. Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình…

Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản” (Sđd, t.8, tr.567).

Với nhãn quan khoa học, tầm nhìn vĩ mô của đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh đã chú trọng hơn đến sức mạnh đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức ở châu Á trong sự nghiệp cách mạng chung.

Người chỉ rõ: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” (Sđd, t.1, tr.36).

Tư tưởng trên của Người thể hiện sự vận dụng sáng tạo, và sự phát triển mới về lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng như của các lãnh tụ Quốc tế III lúc đó.

Tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có thể giành thắng lợi trước và giúp cách mạng vô sản ở chính quốc giành thắng lợi đã nâng tư tưởng về đoàn kết quốc tế của Người lên tầm cao mới, có giá trị to lớn đối với cách mạng thế giới. 

Tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế không đơn thuần là những khẩu hiệu chung chung, mà mỗi bước phát triển, hoàn thiện đều gắn với hoạt động tuyên truyền vào các tổ chức cách mạng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước Đông Nam Á.

Chủ tịch HCM đã có mặt ở Thái Lan, Campuchia, Lào… Người đi đến đâu là vận động và tổ chức các tổ chức cách mạng đến đó.

Tài liệu mật thám của Pháp cũng ghi rõ: đã có đủ chứng cứ để khẳng định rằng, Nguyễn Ái Quốc có trách nhiệm trong việc tuyên truyền cộng sản ở Mã Lai, ở Xiêm và Đông Dương, mà sau này là nhiệm vụ của Cục phương Nam, trong đó ông ở ban lãnh đạo(2). Nhờ hoạt động tuyền truyền, tổ chức của HCM, ở Campuchia đã có chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Trường trung học Xixôvát năm 1928. 

Tư tưởng về đoàn kết quốc tế của HCM không hề có một biểu hiện nhỏ nào về sự ỷ lại bên ngoài. Ngược lại, Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính.

Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng HCM luôn là sự kết hợp biện chứng giữa sức mạnh bên ngoài với sức mạnh bên trong, trong đó sức mạnh từ đoàn kết bên trong có vai trò quyết định. Người đứng ra thành lập nhiều tổ chức cách mạng của các nước thuộc địa với tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản.

Trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức 1925, Người chỉ rõ: “… muốn xua tan những đau khổ đó cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới lại để làm cách mạng. Bọn đế quốc ở tất cả các nước đã liên minh lại để áp bức chúng ta. Còn chúng ta, những người dân thuộc địa và toàn thể công nhân trên thế giới, chúng ta phải hợp lực lại để chống lại chúng” (Sđd, t.2, tr.437).

Và, “Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức mạnh. Nó đủ để đánh tan bọn đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể cậy vào sức của mình mà thôi. Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công, hãy kết đoàn với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng” (Sđd, t.2, tr.438).

Theo HCM, con đường duy nhất để xoá bỏ sự áp bức chính là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức với giai cấp vô sản toàn thế giới, dùng những thủ đoạn cách mạng lật đổ về căn bản bọn tư bản đế quốc cực kỳ hung ác.

Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức do Người thành lập là biểu hiện sáng ngời về đoàn kết quốc tế vô sản, có ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, làm rung động cả hệ thống thực dân, đế quốc.

Trong bức thư tuyệt mật của Toàn quyền Đông Dương gửi Môngghiô (Montghillot) Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp thời đó đã thừa nhận: “Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành việc thành lập “Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức” với một cuộc vận động vô cùng khôn khéo”(3).

Như vậy, tư tưởng về đoàn kết quốc tế của HCM đã trở thành một lực lượng, một sức mạnh trên thực tế và đe dọa trực tiếp chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa.

Tư tưởng đoàn kết quốc tế của HCM đã được vận dụng một cách sáng tạo, sâu sắc và điển hình vào thực hiện đoàn kết ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Người sớm nhận ra nét tương đồng về truyền thống lịch sử và nhận thức rõ kẻ thù chung của cả ba dân tộc là thực dân Pháp. Cách mạng giải phóng dân tộc ở mỗi nước trên bán đảo Đông Dương chỉ có thể thành công khi thực hiện được đoàn kết. Theo HCM, giúp bạn tức là tự giúp mình, Việt Nam kháng chiến có thành công thì Lào, Miên mới thắng lợi, và Lào, Miên có thắng lợi thì Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi.

Người chỉ rõ: “Vì mọi quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v.. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn. Cho nên nhiệm vụ của ta lại phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực, thiết thực hơn” (Sđd, t.6, tr.452).

Người cũng đã phát hiện ra sức mạnh to lớn tiềm ẩn bên trong các dân tộc Việt Nam – Lào và Campuchia. Người chỉ rõ: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”(Sđd, t.1, tr.28).

Có thể thấy, HCM đã phát hiện ra đoàn kết là quy luật sống còn và phát triển của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương.

Với bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng về đoàn kết quốc tế, đoàn kết ba dân tộc Việt Nam – Lào – Campuchia, HCM luôn vững tin vào tất thắng của cách mạng giải phóng dân tộc ở mỗi nước.

Người khẳng định: “Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, chúng ta nhất định làm cho ba nước độc lập và thống nhất thật sự” (Sđd, t.6, tr.181).

Tư tưởng cũng như niềm tin tất thắng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc ở ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia từng bước đi vào các tổ chức yêu nước và phong trào quần chúng ở mỗi nước.

Nhận thấy sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở mỗi nước và sự chín muồi của tình thế cách mạng, Người đã cùng Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhân dân nắm chắc thời cơ và phát động chiến tranh cách mạng đánh đổ sự thống trị của chủ nghĩa phát xít Nhật giành độc lập dân tộc ở mỗi nước.

Người kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! Bốn năm trước đây, tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được ĐỘC LẬP, TỰ DO. Hiện nay quân Nhật đã tan giã, phong trào cứu quốc lan tràn khắp nước… Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng  dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!” (Sđd, t.3, tr.553-554).

Với tinh thần đoàn kết quốc tế, nhưng dựa vào sức mình là chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, Lào và Campuchia đã giành được những thắng lợi to lớn.

Ngay sau khi chính quyền cách mạng được thành lập ở miền Bắc Việt Nam, HCM tiếp tục phát triển, bổ sung, cụ thể hoá tư tưởng đoàn kết quốc tế, đoàn kết ba dân tộc ở Đông Dương phù hợp với thực tiễn mới.

Người khẳng định: “Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới” (Sđd, t.6, tr.8).

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, cả ba dân tộc không ngừng chủ động củng cố, tăng cường đoàn kết theo tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế. Đây là một trong những tiền đề tư tưởng cơ bản bảo đảm cho phát huy sức mạnh tổng hợp của cả ba dân tộc  Việt Nam, Lào và Campuchia.

Nhờ sức mạnh đoàn kết của ba dân tộc cùng sức mạnh đoàn kết với các dân tộc khác, các phong trào cách mạng trên thế giới, sự nghiệp chống Mỹ, giải phóng dân tộc của ba nước đã đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Ngày nay, đoàn kết giữa ba dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển theo tinh thần đổi mới. Đánh giá về tầm vóc và giá trị to lớn của tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Cuộc đời HCM làm sáng tỏ sự đoàn kết quốc tế là một tư tưởng lớn của người cách mạng, vừa là đạo đức, vừa là văn hoá. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, càng cần nêu cao tư tưởng biết bao cao quý và cần thiết đó”(4).

Trong bối cảnh thế giới và khu vực hiện nay, sự tồn tại, phát triển của mỗi dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia càng phải dựa trên nền tảng và phát huy tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế, đoàn kết ba dân tộc.

Ý thức rõ điều này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ:

“Không ngừng củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết và hữu nghị đặc biệt giữa Đảng và nhân dân ta với Đảng và nhân dân Lào, Đảng và nhân dân Cămpuchia anh em. Đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Phấn đấu góp phần sớm đạt được một giải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Căm-pu-chia, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của Căm-pu-chia và Hiến chương Liên hợp quốc”(5).

Với định hướng trên, những năm gần đây quan hệ giữa Việt Nam, Lào và Campuchia ngày càng được củng cố, tăng cường vững chắc. Một số vấn đề chưa thống nhất về nhận thức đã được thảo luận và giải quyết phù hợp với tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế, đoàn kết giữa ba dân tộc.

Các chương trình về hợp tác kinh tế, chính trị, giao lưu về văn hoá, xã hội được mở rộng và có hiệu quả thiết thực.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hoá:

“Tăng cường hiểu biết, tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Phấn đấu cùng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển phồn vinh”(6).

Hàng loạt các ký kết hợp tác giải quyết quan hệ như hoạch định biên giới trên không, trên biển, trên bộ và về kinh tế, quân sự v.v. giữa Việt Nam, Lào và Campuchia trên tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, các bên cùng có lợi đã hoàn tất. Campuchia cũng vận dụng tư tưởng đoàn kết quốc tế của HCM giải quyết tốt quan hệ với các nước khác trong khu vực, khắc phục có hiệu quả sự chống phá của các thế lực thù địch.

Hiện nay, tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế trong tăng cường đoàn kết Việt Nam, Lào và Campuchia cần tiếp tục quán triệt, hiện thực hoá một cách khoa học.

Bên cạnh mở rộng quy mô, mức độ hợp tác toàn diện, cần đoàn kết trong đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, xuyên tạc, gây chia rẽ của các thế lực thù địch. Tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế, đoàn kết ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương có giá trị bền vững cùng với lịch sử phát triển, thịnh vượng ở khu vực cũng như ở ba nước Đông Dương.

__________________________

[Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2011 của hai tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng và Saysovin, Thiếu tướng – Tùy viên quân sự Đại sứ quán Vương quốc Campuchia tại Việt Nam]

(1) Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.30.

(2) Tài liệu của mật thám Pháp, bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh, tr.16.

(3) Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, NXB Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985.

(4) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh – quá khứ, hiện tại và tương lai, NXB, Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.53.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.88.

(6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr, 84.

HỒ CHÍ MINH VIẾT DI CHÚC

1. Trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh (HCM) có nhiều việc làm thuộc diện đặc biệt quan trọng. Viết Di chúc là một việc làm như thế.

Vũ Kỳ (thư ký riêng của HCM) nhớ lại sự kiện HCM khởi thảo Di chúc: Đó là buổi sáng thứ hai, mồng 10-5-1965 không thể nào quên. Khắp nơi trong cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi.

Bác Hồ vẫn ung dung như thường lệ. Từ 7 giờ sáng, tại phòng khách cạnh nhà ăn phía bên này hồ, Bác ngồi nghe đồng chí Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải báo cáo về con đường chiến lược qua đất Lào…

Đúng 9 giờ, Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau.

Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp ngày sinh của mình; chọn đúng vào lúc 9 giờ, giờ đẹp nhất của một ngày; chọn đúng vào lúc sức khoẻ tốt nhất trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình, sao mà Bác thanh thảnh, ung dung đến thế?[1].

Mở đầu tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (về sau được gọi là Di chúc), HCM viết:

“Năm nay tôi đã tuổi 75. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khoẻ. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”. Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm, mấy tháng nữa. Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi…”.

Đúng 10 giờ, HCM gấp những tờ giấy “Tuyệt đối bí mật” lại, cẩn thận cho vào phong bì rồi để vào ngăn trên giá sách. Người bình thản trở lại công việc hàng ngày của vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng.

Sáng hôm sau, 11-5-1965, đúng 9 giờ, Người lấy chiếc phong bì xuống, ngồi vào bàn, chăm chú viết… Người viết về Đảng, về đoàn kết, về đạo đức cách mạng.

Trước hết nói về Đảng, Người viết:

“Nhờ đoàn kết chặt chẽ một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”;

“Đoàn kết là một truyền thống cự kỳ quí báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các Chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình…”;

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân ta”.

Trong hai ngày 12, 13, HCM viết tiếp các phần khác. Sáng thứ sáu ngày 14, trong bộ quần áo quen thuộc, Người đi thăm bà con nông dân ở xã Xuân Phương (Từ Liêm) đang làm việc trên đồng ruộng, 10 giờ mới về nhà.

Chiều hôm ấy, Người dành thời gian gấp đôi, từ 14 giờ đến 16 giờ để viết đoạn này: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng…”.

Và kết thúc bản Di chúc, Người hạ bút:

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Đúng hẹn, đồng chí Lê Duẩn sang gặp, cũng là lúc HCM đánh máy xong “Tài liệu tuyệt mật” vào hồi 16 giờ ngày 14-5-1965[2].

Bản Di chúc đã hình thành gồm ba trang, do tự Người đánh máy. Sang năm 1966, khi xem lại, HCM bổ sung một câu vào phần nói về Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Năm 1967, Người xem lại tài liệu nhưng không bổ sung gì. Năm 1968, Người bổ sung 6 trang viết tay, gồm một số đoạn nói về việc riêng và những việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta giành thắng lợi.

Ngày 10-5-1969, HCM xem và viết lại toàn bộ phần mở đầu của Di chúc, gồm 1 trang viết tay.

Như vậy, sau khi khởi thảo từ tháng 5 năm 1965, bản Di chúc đã được HCM chỉnh sửa, bổ sung và chính thức hoàn thành vào tháng 5-1969, thời gian kéo dài trong vòng 4 năm (10/5/1965 – 10/5/1969).

2. Tài liệu “Tuyệt đối bí mật”(hay Di chúc) của HCM chỉ hơn 1000 chữ nhưng nội dungđề cập đến nhiều vấn đề cốt lõi, quan trọng và có giá trị đặc biệt.

Đó là các vấn đề nói về Đảng, về thanh thiếu niên, về nhân dân lao động, nói đến việc xây dựng lại đất nước và về việc – khi Người “ra đi” thì nên xử lý theo hướng nào…

HCM đã đúc kết những bài học quý giá nhất cho cách mạng Việt Nam, trong đó, quan trọng hàng đầu là xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân.

Về vấn đề này, Người nhất mạnh ba điều cốt tử:

Thứ nhất: Đảng phải đoàn kết chặt chẽ, thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trên cơ sở tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; phải một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.

Thứ hai: Khi đã trở thành đảng cầm quyền, Đảng phải thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mỗi CB, ĐV phải thật sự thấm nhuần đạo đức CM, thật sự cần kiệm liên chính, chí công vô tư.

Thứ ba: Đảng phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Có thể xem ba điều cốt tử trên là ba trụ cột của mối quan hệ sống còn giữa ĐẢNG và NHÂN DÂN. Nếu có được ba trụ cột này thì “dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[3].

Khi nói về thế hệ trẻ, Người căn dặn Đảng ta phải chăm lo giáo dục đào tạo họ với quan điểm: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.

Người dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài, đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều người, nhiều của, nhưng “Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Còn non, còn nước, còn người. Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”.

Cuối cùng, Người mong muốn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước VN hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Chúng ta dễ dàng nhất trí với nhau rằng, Di chúc là kết tinh tư tưởng, đạo đức, tâm hồn của bậc vĩ nhân, là kết tụ tinh hoa của thời đại, linh hồn của dân tộc, khí phách tinh thần lạc quan của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, đại chúng.

Mỗi câu mỗi chữ trong Di chúc đều toát lên nhân cách của một con người suốt đời phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

Di chúc như một bài thơ hay của HCM. Mỗi chữ được dồn nén từ sâu lắng của tâm hồn, cảm xúc yêu thương đồng bào, yêu quý thiên nhiên. Di chúc toát lên vẻ đẹp của văn phong Việt Nam. Sức cuốn hút của nghệ thuật ngôn từ rất giản dị, dễ hiểu mà chứa đựng những thông tin hàm súc.

Mỗi chữ đều được đặt đúng vị trí của nó, tưởng chừng không thể thay thế được. Một mẫu mực văn phong độc đáo, sâu lắng, đậm đà bản sắc tự sự, thân thiết với cái vĩ đại ở nội hàm tư tưởng, hoà quyện giữa bác học và đời thường, sáng chói một áng văn tuyệt bút[4].

3. Sau khi Di chúc được công bố, ở Việt Nam và trên thế giới có rất nhiều bài viết luận bàn về nó.

Nhìn chung, mọi người đều nhìn nhận đây là một văn kiện có giá trị tư tưởng, giá trị lịch sử đặc biệt của HCM.

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh, con người của sự sống”, Mạch Quang Thắng có nhắc đến ba cái chết của con người.

Trong đó, cái chết thứ nhất là cái chết sinh học. Cái chết này được xác định khi con người đã đi vào cõi vĩnh hằng. Cái chết thứ hai là cái chết chính trị, đạo đức. Nghĩa là người đó còn sống đấy, sống về sinh học, nhưng coi như đã chết, thậm chí bị người đời nguyền rủa, hoặc chẳng ai còn biết người đó còn ở trên đời này nữa.

Cái chết thứ ba là người đó đã chết sinh học rồi nhưng vẫn còn sống mãi, sống đẹp trong tâm hồn của những người chân chính, bởi người đó để lại tiếng thơm cho đời, để lại di sản tinh thần lớn lao cho nhân dân, cho dân tộc và cho nhân loại nhiều thế hệ. HCM là người thuộc cái chết thứ ba ấy[5].

Trong Điếu văn của BCH Trung ương Đảng lao động Việt Nam do cố TBT Lê Duẩn trình bày ngày lễ tang HCM (9-9-1969) có đoạn viết:

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đánh giá rất cao bản Di chúc:

“Bản Di chúc tuy rất ngắn gọn song nó chứa đựng biết bao tư tưởng và tình cảm, là sự kết tinh một đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đem lại sự đổi đời của dân tộc Việt Nam ta, đồng thời để lại những di sản bất hủ đối với những thế hệ mai sau”[6].

Nguyễn Phú Trọng – Bí thư Thành uỷ Hà Nội, trong bài “Thủ đô Hà Nội 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch HCM” đã phát biểu cảm nghĩ của mình về bản Di chúc:

“Bản Di chúc được Người chuẩn bị một cách công phu, kỹ lưỡng, trí tuệ và tâm huyết…

Suốt 4 năm trời, vào những ngày đẹp nhất, những giờ đẹp nhất, tìm từng ý, chọn từng câu, sửa từng chữ, nêu rõ những việc phải làm, những điều cần nghĩ, từ lớn đến nhỏ, từ chung đến riêng…; để lại cho đời một tình cảm chan chứa yêu thương vì Dân, vì Đảng; một trí tuệ anh minh, mẫn tiệp; một tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách làm việc… cả lúc lâm chung!

Mỗi lần đọc lại Di chúc của Bác, chúng ta lại thổn thức, nghẹn ngào, càng yêu thương, kính trọng Bác, càng tâm niệm phải làm gì cho xứng đáng với Bác”[7].

Trong một cuộc hội thảo bàn về HCM tổ chức tại Ấn Độ (14-1-1991), nhiều nhà khoa học quốc tế đã nhất trí nhận định:

“Thế giới đã và sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong kho tàng văn hoá của nhân loại”[8].

4. Di chúc ra đời cách nay gần 50 năm nhưng tính thời sự của nó vẫn rất cao. Đây là tài tinh thần vô giá mà HCM đã để lại cho dân tộc ta.

Di chúc không chỉ tổng kết những bài học quý báu của cách mạng Việt Nam mà còn là “Những phác thảo có tính cương lĩnh cho sự phát triển và đổi mới đất nước”[9].

Vì những lẽ đó Di chúc sẽ trường tồn cùng dân tộc, nó là kim chỉ nam cho chúng ta trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước theo định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hiện nay.

Tài liệu tham khảo

[1] GS Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh – Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 15, 1966-1969, Nxb Chính trị quốc gia, 2011.

[3] Đại tưỡng Võ Nguyên Giáp: Nghiên cứu, học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Công an nhân dân, 2006.

[4] GS Song Thành: Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá kiệt xuất, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[5] Bá Ngọc: 79 mùa xuân Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, 2007.

[6] GS.TS Phùng Hữu Phú: Bí quyết thành công Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[7] Vũ Kỳ: Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

[8] 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.

[9] Phạm Văn Đồng, Tuyển tập (1976-2000), III, Nxb Chính trị quốc gia, 2009.

[10] Thế giới còn đổi thay, nhưng Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008.


[1] Vũ Kỳ: Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 487-488.

[2] Vũ Kỳ cho biết: Ngày 14-5-1969, HCM viết xong bản Di chúc, nhưng Người lại đánh máy ở dưới văn bản này là: “Hà Nội, ngày 15-5-1965 trước chữ ký Hồ Chí Minh”(?).

[3] GS.TS Phùng Hữu Phú: Bí quyết thành công Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr. 187.

[4] Bá Ngọc: 79 mùa xuân Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, 2007, tr. 114.

[5] GS, TS Mạch Quang Thắng: Hồ Chí Minh – con người của sự sống, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 9-10.

[6]Phạm Văn Đồng, Tuyển tập (1976-2000), III, Nxb Chính trị quốc gia, 2009, tr. 999.

[7] 35 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.

[8] Thế giới còn đổi thay, nhưng Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, tr. 912.

[9] GS Song Thành: Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá kiệt xuất, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr. 302.

PHONG CÁCH TƯ DUY HỒ CHÍ MINH

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh (HCM) là sự kết tinh từ tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, là tài sản tinh thần quý báu của nhân dân ta, giá trị hợp thành nền văn hóa Việt Nam. Mặc dù thể hiện cái riêng, nhưng phong cách tư duy của Người không xa lạ mà mang tính lan tỏa, tác động tích cực tới hành động của các thế hệ người dân Việt Nam yêu nước nói riêng, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới nói chung.

Được hình thành từ con người có đức dày, tâm trong, trí sáng, tầm cao trí tuệ, nhân cách, ý chí lớn lao, hoạt động phong phú, đa dạng trên không gian, thời gian rộng lớn, với nhiều lĩnh vực, vị trí công việc khác nhau, nhưng phong cách tư duy HCM là biểu hiện đặc sắc của sự độc lập, tự chủ, sáng tạo.

Độc lập, tự chủ, có nghĩa là HCM không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào một luồng ý kiến nào, không bắt chước, “theo đuôi” ai, kể cả “theo đuôi quần chúng”.

Trên cơ sở tiếp thu nhiều luồng tư tưởng tiến bộ của Việt Nam và thế giới, trong từng thời kỳ, Người đúc kết, tổng hòa thành cái riêng mà không sao chép, giáo điều, máy móc. 

Đối với chủ nghĩa Mác-Lênin – lý luận chính trị nền tảng rất quan trọng hình thành nên tư tưởng của mình – thì HCM coi là “mặt trời soi sáng”, “trí khôn”, “cái cẩm nang thần kỳ” có tính chất phương pháp luận chỉ dẫn hành động của con người, là “bàn chỉ nam” cho con tàu đi.

Đồng thời, coi việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí đối với việc, với người và với mình.

Vì vậy, Người tiếp nhận điều bản chất nhất, mục tiêu cuối cùng của lý luận Mác-Lênin là đấu tranh giải phóng con người, là chủ nghĩa nhân đạo mác xít, và cho rằng:

“hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”1.

HCM tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin bằng toàn bộ cái tâm trong sáng, sự khát vọng giải phóng: dân tộc, xã hội – giai cấp và con người, thông qua hoạt động trong phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, chứ không theo kiểu kinh viện, tầm chương trích cú.

Chúng ta thấy rất hiếm khi viết, Người trích dẫn nguyên văn những quan điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin cũng như của những nhà tư tưởng khác.

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Người viết và sau đó đọc vào ngày 02-9-1945, khi dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, Người không trích nguyên văn, chỉ lấy ý và biến nghĩa một số chữ cho phù hợp với tư duy của mình và tình hình thực tại2.

HCM là người tiếp thu những tư tưởng tiến bộ ở trong nước và thế giới, kết hợp nhân tố chủ quan rồi tạo thành tư tưởng của mình, nhưng tư tưởng của Người không phải là con số cộng của nhiều luồng tư tưởng, học thuyết, mà là sự kết tinh luồng ánh sáng trí tuệ của dân tộc và nhân loại.

Được như thế là bởi HCM có tư duy độc lập, tự chủ, biết kế thừa có chọn lọc những tư tưởng, nguyên lý của các nhà lý luận, nhà tư tưởng của dân tộc Việt Nam và thế giới.

Nhiều người nước ngoài cảm nhận, trong phong cách HCM có dáng dấp của V.I. Lê-nin, Găng-đi, của Oa-sinh-tơn,… thậm chí còn thấy có một số nét của chính mình.

Phong cách HCM là riêng biệt, đặc sắc, điều mà không ít người khát khao muốn học tập. Nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-sơ-tam, vào cuối năm 1923, sau khi gặp gỡ, trò chuyện với Nguyễn Ái Quốc, đã viết một bài đăng báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ), có đoạn:

“Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai,… Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”3.

HCM có tư duy độc lập, tự chủ từ sớm và được rèn giũa qua bao nhiêu năm tháng hoạt động cách mạng.

Năm 1923, Người kể lại với một người bạn nước ngoài: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái,… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”4.

Vì có tư duy độc lập, tự chủ, nên Người chọn con đường sang Pháp, các nước châu Âu, châu Mỹ và đi hầu khắp các châu lục khác để nghiên cứu, khảo sát, tìm mục tiêu, con đường cứu nước mới, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và xu thế của thời đại.

Từ người tìm đường, HCM trở thành người mở đường, người dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển.

HCM có phong cách tư duy sáng tạo. Sáng tạo, sáng tạo và sáng tạo là tư duy của Người trong cuộc sống. Từ rất sớm, HCM đã khẳng định: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.

Người cho rằng: “Lý luận do kinh nghiệm cách mạng ở các nước và trong nước ta, do kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện nay gom góp phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó thành ra lý luận. Nhưng phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chước làm theo thế ấy.

Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”5.

Một số người cho rằng sự sáng tạo trong tư duy HCM là sự “vượt gộp”, tức là gộp tất cả những gì là tốt đẹp, tinh túy đã có để vượt lên phía trước, nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

“Vượt gộp” không phải là việc dễ dàng trong tư duy, phải biết gộp những gì và làm thế nào để gộp đã khó, nhưng biết vượt thì lại càng khó hơn.

Con đường phát triển tư tưởng, tri thức của cá nhân hay một dân tộc và toàn nhân loại luôn là sự “vượt gộp” như vậy.

Điều này, nhiều nhà tư tưởng nêu lên từ lâu: thế hệ sau phải biết đứng lên vai những người khổng lồ đi trước thì xã hội mới phát triển được6.

Là một thành viên của tổ chức chính trị, HCM phải có trách nhiệm chấp hành những quyết định của tổ chức. Nhưng với Người, chấp hành không có nghĩa là máy móc, mà là vận dụng những quyết định, nghị quyết của tổ chức cho phù hợp với điều kiện cụ thể.

Thực tiễn cho thấy, Quốc tế Cộng sản đã có những quyết định đúng đắn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng thế giới và phong trào giải phóng dân tộc do đảng cộng sản lãnh đạo ở các nước thuộc địa, phụ thuộc.

Nhưng, Quốc tế Cộng sản có lúc không tránh khỏi những hạn chế trong nhận định, đưa ra chủ trương chưa hẳn phù hợp đối với cách mạng ở các nước thuộc địa.

Vì thế, HCM đã căn cứ vào tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam để vận dụng nghị quyết, quyết định của Quốc tế Cộng sản cho sát hợp, mặc dù có lúc bị hiểu sai.

Quá trình xây dựng xã hội mới, trên cơ sở nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, Người đã có quan điểm thực tiễn để vận dụng cho phù hợp với một nước nông nghiệp sản xuất nhỏ, tiểu nông lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề và trong điều kiện vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Tư duy sáng tạo của HCM biểu hiện rõ ở chỗ, khi cho rằng, Việt Nam “không thể giống Liên Xô” và “có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Đó là con đường tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không phải tiến hành ngay cuộc cách mạng vô sản và đi ngay vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như ở nhiều nước khác.

Như vậy, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo được thể hiện rõ ở việc HCM rất chú ý xuất phát từ thực tế Việt Nam.

Yêu cầu phát triển của Việt Nam là: dân tộc độc lập, đất nước giàu mạnh, mọi người được tự do, dân chủ, hạnh phúc. Điều này được HCM thể hiện ngay trong tiêu đề văn bản hành chính của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” và trong nhiều lần phát biểu khác.

Đặc biệt, trong Di chúc, Người nêu: “điều mong muốn cuối cùng” là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”7.

Hoàn cảnh thực tế Việt Nam trong từng giai đoạn, mỗi thời kỳ là một tiêu điểm làm cơ sở cho mọi suy nghĩ của HCM.

Những điều diễn ra trong thực tế luôn hiển hiện trước mắt mọi người, nhưng không phải ai cũng nhận thức được như nhau. Nhận thức chính xác tình hình thực tế phụ thuộc rất lớn vào tầm nhìn, bản lĩnh của con người.

Với tầm cao trí tuệ, HCM đã nhận thức rõ, chính xác tình hình thực tế Việt Nam, đưa ra quan điểm sát hợp. Trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh đã làm nên phong cách tư duy độc đáo, đúng đắn, sáng tạo HCM.

Người là điển hình trong phong trào cộng sản quốc tế đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận Mác-Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến những thành công của cách mạng Việt Nam.

Đồng thời, đóng góp phát triển và làm phong phú lý luận Mác-Lênin theo đúng yêu cầu của “học thuyết mở” luôn cần được nạp thêm năng lượng mới từ cuộc sống của mỗi dân tộc khi áp dụng.

Cũng do thế, nên có lúc HCM có một số quan điểm khác với quan điểm tập hợp lực lượng cách mạng ở các nước thuộc địa – phong kiến của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (năm 1928), nhưng lại hoàn toàn đúng với Việt Nam – một nước thuộc địa – phong kiến – khi mọi giai cấp, tầng lớp trong cộng đồng người Việt Nam yêu nước đều có một “mẫu số chung”, một “véc-tơ lực”: giải phóng dân tộc.

Trên thực tế, HCM luôn chú ý hướng Đảng ta đưa ra đường lối, chủ trương sát hợp với từng giai đoạn, thời kỳ cách mạng và khi thấy nó chưa sát hợp với thực tế thì cùng Trung ương Đảng sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện.

Thực tế cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ hai điều:

1. Quan điểm của HCM là đúng về mục tiêu và con đường cách mạng Việt Nam;

2. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ đường lối, chủ trương đúng đắn, phù hợp với tình hình cụ thể Việt Nam của Đảng; tư duy giáo điều, tả khuynh, hữu khuynh, chủ quan, duy ý chí tất yếu dẫn đến thất bại.

HCM là một điển hình của tư duy lấy điều kiện thực tế Việt Nam làm điểm xuất phát cho mọi quan điểm, đường lối, chi phối hành động của Đảng.

Không chỉ vậy, Người chủ động tiếp thu các luồng tư tưởng tiến bộ trên thế giới; phân tích chính xác tình hình thế giới để hành động phù hợp.

Thực tế cho thấy, HCM có ưu thế so với nhiều nhà yêu nước, cách mạng Việt Nam cùng thời là sống và hoạt động ở nước ngoài 30 năm (1911-1941).

Thời gian này, Người nghiên cứu, học tập, hoạt động yêu nước và cách mạng, nên đã trực tiếp kiểm nghiệm nhiều quan điểm. Người đã trải qua nhiều thăng trầm, thử thách, sóng gió trong nhiều môi trường sống khác nhau.

Sự tự nguyện dấn thân vào cuộc sống lao động, thậm chí làm những công việc rất nặng nhọc và do vậy, bằng cảm nhận trực tiếp mà Người đã thấu hiểu tình cảnh và khả năng cách mạng của các giai cấp, tầng lớp lao động.

HCM hoạt động trong tổ chức cộng sản ở Pháp và ở Quốc tế Cộng sản, nơi mà Người tiếp thu dần dần lý luận cách mạng Mác-Lênin và rèn luyện tư duy biện chứng duy vật; hoạt động trong một môi trường rộng rãi, đi đến khoảng trên 30 lượt nước trên thế giới, đã hai lần bị đế quốc, thực dân giam cầm, tù đày, thậm chí chỉ vì luôn nhiệt thành với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, có lúc bị những người cùng chí hướng hiểu sai.

HCM có 19 năm làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam và 24 năm làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Là con người lăn lộn với thực tiễn và quảng giao quốc tế, từ thuở hàn vi cho đến cả khi làm Chủ tịch nước và Chủ tịch Đảng, Người không ngừng học tập, rèn luyện, tiếp nhận những tri thức mới trên cái nền bản thể của mình, không bị hòa tan, bắt chước, mà tiếp thu một cách chọn lọc, có phê phán, không phủ định giản đơn.

Trên cơ sở đó, để thu nhận, tiếp biến tư tưởng của mình. Người cho rằng:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.

Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”.

Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”8.

HCM đem bốn vị rất khác nhau về lập trường, quan điểm và lại càng khác nhau về thời đại ghép vào với nhau, giả định “cho” các vị ấy “họp lại một chỗ” được là vì Người nhìn thấy ở họ một điểm chung là đều “mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”.

HCM cũng nằm trong điểm chung ấy và cố gắng làm người học trò nhỏ của họ. Sự đặc sắc tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của HCM là kết quả từ phẩm chất, năng lực với hai điểm chủ yếu: bản lĩnh cao cường và trí tuệ mẫn tiệp.

Kết quả đó là do một quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện của cả cuộc đời, ở mọi lúc, mọi nơi của Người.

Vì thế, Người luôn tự làm chủ cuộc sống và chú trọng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, nên vững vàng trong xử lý mối quan hệ đối với người chung quanh, công việc và làm chủ bản thân.

Thế giới hiện nay là thế giới của tri thức sáng tạo, trong đó phong cách tư duy HCM là điểm nhấn đáng chú ý.

Học tập phong cách tư duy HCM là học tập tinh thần sáng tạo để hành động cho phù hợp với mục tiêu cách mạng đã đề ra.

Sáng tạo là trên cơ sở nắm vững những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HCM rồi đưa vào thực tiễn phù hợp hoàn cảnh cụ thể. HCM là người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam thế kỷ XX – thế kỷ bi hùng của các cuộc đấu tranh kiên cường giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Lớp lớp thế hệ người Việt Nam trong thế kỷ XXI, nhất là những cán bộ, đảng viên càng cần sự kiên định mục tiêu và sáng tạo theo phong cách HCM để xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu trong một thế giới toàn cầu hóa.

GS, TS. MẠCH QUANG THẮNG

______________

1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 668.

2 – Hồ Chí Minh dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ như sau:

“Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Người dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 như sau: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (HCM: Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr.01).

Bà Lady Borton, một nhà hoạt động xã hội Mỹ, sống nhiều năm ở Việt Nam, có rất nhiều tác phẩm viết về HCM, trong bài viết của mình nhan đề HCM đã biết điều đó như thế nào? trình bày tại Hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 19 đến ngày 21-9-2000 với chủ đề “Việt Nam trong thế kỷ XX” cho biết:

Bà đã trao đổi ý kiến với Sáclơ Phen – người mà năm 1945 là trung úy, thành viên của Cơ quan Chiến lược Mỹ (OSS), tiền thân của CIA sau này, người đã giới thiệu cho Hồ Chí Minh lúc ấy có mặt tại Côn Minh (Trung Quốc) để đưa một phi công Mỹ được Việt Minh cứu trao cho tướng Chennault, Sở chỉ huy Không lực 14 tại Côn Minh (ngày 29-3-1945).

Bà Lady Borton nói lại ý của Sáclơ Phen rằng:

“Đây chính là điều mà các nhà sử học Mỹ sai lầm ở chỗ họ nghĩ rằng HCM đã trực tiếp trích dẫn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Mỹ. Ông không hề trích dẫn. Trái lại, HCM đã sửa đổi tài liệu đó để khẳng định cách nhìn của ông”. Cũng theo bà Lady Borton, HCM sửa đổi ở chỗ: bản của Mỹ, chữ “con người” là “men”, còn bản Tuyên ngôn Độc lập của HCM viết là “tất cả mọi người”.

Điều đó thì không để chỉ “men”, tức là không bao gồm phụ nữ, tầng lớp mà ở Mỹ, những người da màu được quyền đi bầu cử vào năm 1870, còn phụ nữ thì muộn hơn – mãi sau năm 1920. Bà Lady Borton viết tiếp: “HCM thông thạo tiếng Anh. Hẳn ông biết rõ sự khác nhau giữa “con người” (men) với “người” (people)”. (Theo Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Đại học quốc gia Hà Nội: Việt Nam trong thế kỷ XX, Nxb CTQG, H. 2002, Tập 4, tr. 258-259).

3 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 462 – 463.

4 – Sđd, Tập 1, tr. 461.

5 – Sđd, Tập 5, tr. 312.

6 – Những diễn giải về “vượt gộp” trên đây là viết theo ý trong cuốn sách của Giáo sư Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H. 1997, tr. 163.

7 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 624.

8 – Đoạn trích này là từ cuốn sách Hồ Chí Minh truyện, bản dịch Trung văn của Trương Niệm Thức, Bát nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, 6-1949. Tôi trích lại từ cuốn sách của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, H. 1997, tr. 43.

Hà Nội, ngày 26-12-2016

(Nguồn: Tài liệu trên mạng – http://tapchiqptd.vn/vi/theo-guong-bac/phong-cach-tu-duy-ho-chi-minh/9640.html)

MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ

GDĐH Mỹ so với lịch sử GDĐH ở nhiều quốc gia phương Đông và châu Âu thì hãy còn non trẻ, mới hơn bốn trăm năm. Nhưng hệ thống giáo dục này lại có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với phần còn lại của thế giới trong khoảng hai thế kỷ nay.

Điều gì đã tạo nên sức hấp dẫn của GDĐH Mỹ? Bài viết giới thiệu một số đặc trưng quan trọng góp phần tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ của hệ thống GDĐH này trong thời gian qua.

1. Quản lý, quy mô và cơ cấu hệ thống giáo dục đại học

1.1. Việc quản lý đối với hệ thống GDĐH ở Mỹ có sự khác biệt so với nhiều nơi trên thế giới. Trên cùng, nước Mỹ có Bộ Giáo dục Liên bang (Federal Department of Education) thành lập năm 1979, nhưng chỉ làm hai việc:

1) Hỗ trợ về tài chính cho sinh viên (phần lớn thông qua hình thức cho vay)

2) Duy trì một hệ thống cơ sở dữ liệu bao gồm các cuộc điều tra hàng năm về tình hình tài chính, số sinh viên nhập học, các chương trình đào tạo có cấp bằng của các trường, các nghiên cứu về những mối quan tâm của sinh viên và các hoạt động ứng xử của các trường đại học[1].

Bên cạnh Bộ Giáo dục thì Chính phủ Liên bang cũng chia sẻ một phần trách nhiệm đối với hệ thống giáo dục đại học Mỹ.

Những nghiên cứu cơ bản và quan trọng nhất của các trường đại học được Chính phủ cấp kinh phí thông qua các cơ quan như: Viện Y tế Quốc gia, Hiệp hội Khoa học Quốc gia, Cơ quan Hàng không Vũ trụ Quốc gia, Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp, Bộ Y tế và Phục vụ Con người…

Như vậy, nếu so với mô hình quản lý của nhiều quốc gia khác trên thế giới thì về cơ bản hệ thống GDĐH Mỹ vận hành theo cơ chế phi tập trung, thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương, cấp dưới là các bang, quận.

Giáo dục từ phổ thông đến đại học đều thuộc quyền quản lý trực tiếp của các bang, quận và của Hội đồng quản trị các trường. Nét khác biệt đáng lưu ý, hệ thống GDĐH học Mỹ có quyền tự chủ cao và mọi hoạt động đều vận hành theo khuôn khổ của luật Liên bang và pháp luật của mỗi bang[2].

Nhìn từ góc độ quản lý vĩ mô thì hệ thống GDĐH Mỹ dường như không mang tính hệ thống. Trong khi, xu hướng chung của thế giới cho rằng, GDĐH phải là một hệ thống tích hợp để có thể cung cấp các chương trình đào tạo hiệu quả nhất và nâng cao tối đa trách nhiệm xã hội.

Đại học Mỹ cũng thể hiện phần nào xu hướng này; song ở đây tồn tại một thực trạng “lộn xộn sáng tạo” (creative confusion). Đây chính là nét đặc trưng cho phần lớn hệ thống giáo dục đại học Mỹ[3].

1.2. Đặc trưng quan trọng thứ hai dễ nhận thấy là hệ thống GDĐH Mỹ có quy mô đồ sộ xét trên tất cả các phương diện: về số lượng trường, số lượng sinh viên, tổng chi phí hay tỷ lệ phần trăm trong GDP.

Theo thời gian đào tạo, GDĐH Mỹ chia làm hai loại: Đại học (4 năm) và Cao đẳng, Cao đẳng Cộng đồng (2 năm).

University được dùng để chỉ những trường đại học tổng hợp, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực và có đào tạo văn bằng cao nhất là tiến sĩ. Còn thuật ngữ college thì được sử dụng với một số nghĩa khác nhau để chỉ các trường hợp như:

a) Bộ phận thuộc cấp đại học của một unitversity (chẳng hạn Harvard College của Harvard Unitversity);

b) Một trường đại học được phép đào tạo các văn bằng 4 năm hay 2 năm, đôi khi đào tạo cả bằng master nhưng không đào tạo tiến sĩ; hoặc

c) Một faculty của unitversity (chẳng hạn như College  of Arts and Sciences hoặc College of Medicine)[4].

Theo Quỹ Carnegie (vì sự tiến bộ giảng dạy) thì ở Mỹ có 261 Viện đại học nghiên cứu/đào tạo tiến sĩ; 610 trường và viện đại học có đào tạo thạc sĩ; 607 trường đại học đào tạo cử nhân; 1.699 trường đào tạo 2 năm và cấp bằng phó cử nhân (các trường Cao đẳng cộng đồng); 767 trường đại học chuyên môn sâu.

Ngoài ra còn có khoảng 4.000 trường không cấp bằng thuộc khối trường tư.

Hệ thống đại học Mỹ bao gồm các đại học lĩnh vực (University), Đại học nghiên cứu (Research University) với nhiều loại hình đào tạo khác nhau từ cử nhân (Bachelor Degree) đến thạc sĩ (Master degree), tiến sĩ (Ph.D), sau tiến sĩ và Nghiên cứu (Postdoctora Study and Research).

Bên cạnh có một số trường chuyên ngành (Professional Schools) như trường Luật, trường Y… Riêng Cao đẳng thì có Cao đẳng Cộng đồng (Community Colleges); Cao đẳng (Junior Colleger); các trường Cao đẳng kỹ thuật, nghề nghiệp (Voc/Tech Institutions)[5]

Hệ thống đại học Mỹ được xem là một trong những hệ thống đại học tốt nhất thế giới với nhiều đại học nổi tiếng nằm trong thứ hạng 200 trường đại học hàng đầu thế giới (2008) như: Đại học Harvard; Đại học Yale; Đại học Chicago; Học viện công nghệ Massachusetts…

Nước Mỹ có khoảng 4.000 trường đại học, cao đẳng được phép cấp bằng; trong đó có 1.700 trường công và 2.300 trường tư.

Trường tư ở Mỹ chiếm số lượng nhiều hơn và cũng có lịch sử phát triển lâu đời hơn trường công.

Có 6 mức độ bằng cấp tương ứng với chương trình, thời gian, mục tiêu đào tạo của các trường, đó là: cao đẳng (associate), cử nhân, cử nhân chuyên nghiệp đầu tiên (firtt professional), thạc sĩ, advanced intermedia và nghiên cứu sinh.

Giáo dục đại học Mỹ còn có chương trình nghiên cứu sinh sau tiến sĩ.

Hàng năm hệ thống giáo dục đại học Mỹ thu hút một lượng lớn những người sau khi tốt nghiệp trung học vào đại học.

Vào mùa Thu năm 1993, nước Mỹ có hơn 14 triệu sinh viên, toàn và bán thời gian, nhập học. Số sinh viên này bao gồm 62% tổng số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học từ năm trước đó, 31% tổng số sinh viên trong độ tuổi từ 22-24 và 60% thanh niên trong độ tuổi từ 18-19 theo học ở các loại trường sau trung học nào đó vào năm 1994.

Cuối cùng là 22% tổng số người trên độ tuổi 25 tuyên bố vào năm 1994 là đã hoàn thành xong tối thiểu 4 năm đại học.

Số sinh viên này được nhập vào học tại 3.688 trường đại học, bao gồm 1..641 trường công lập tiếp nhận 11.184.080 sinh viên và 2.047 trường tư tiếp nhận 3.116.570 sinh viên.

Ngoài ra, còn khoảng 1.027,713 sinh viên được tiếp nhận vào 6.737 trường sau trung học (chủ yếu là các trường đào tạo ngắn hạn), hơn 5.000 trường trong số này là trường độc quyền (propriettary school)[6].

Năm 2000, tổng số sinh viên nhập học thuộc khu vực GDĐH có cấp bằng là hơn 15 triệu, trong đó nữ sinh viên chiếm khoảng 57%, 77% sinh viên nhập học các trường công và 57% theo học toàn thời gian.

Có khoảng 38% sinh viên theo học các trường đào tạo 2 năm hoặc các trường đào tạo bằng phó cử nhân, sau đó sẽ chuyển tiếp lên bậc cao hơn.

Quy mô của hầu hết các trường đại học Mỹ là tương đối lớn, có tới hơn 49% số sinh viên theo học ở các trường có khả năng thu nhận hơn 10.000 sinh viên nhập học hàng năm.

GDĐH Mỹ có sức thu hút mạnh mẽ đối với nhiều người trên thế giới. Nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh, các nhà khoa học… nhiều nước trên thế giới đều muốn được đến học tập và làm việc ở các cơ sở đại học Mỹ.

Hàng năm GDĐH Mỹ đón nhận một lượng lớn sinh viên du học. Năm học 2011-2012, hơn 764.000 sinh viên nước ngoài đến Mỹ học tập.

Trong những năm gần đây, sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học có xu hướng tăng lên… Hệ thống GDĐH Mỹ đóng góp 22,7 tỉ USD vào nền kinh tế nước này, bên cạnh đó còn có nhiều lợi ích vô hình khác đem lại cho nước Mỹ.

2. Chương trình học, kiểm định chất lượng và tự do học thuật

2.1. Các trường ở Mỹ, đặc biệt các trường Cao đẳng cộng đồng rất chú trọng đối với giáo dục đại cương.

Các trường này tập trung trang bị cho sinh viên những kiến thức quan trọng và thực tế, bao gồm: kỹ năng giao tiếp cơ bản, toán học, lịch sử, văn minh thế giới, ngoại ngữ, khoa học xã hội và nhân văn, văn học nghệ thuật, khoa học tự nhiên…

Những tri thức, kỹ năng được trang bị giai đoạn này tạo tiền đề góp phần hun đúc bản lĩnh, sự tự tin, phẩm chất cho sinh viên.

Các trường đại học Mỹ là những cơ sở GDĐH đầu tiên trên thế giới áp dụng chế độ đào tạo theo tín chỉ.

Mỗi tín chỉ thể hiện một khối lượng học tập mà một sinh viên trình độ trung bình có thể thực hiện được khi dành khoảng 3 giờ/tuần để theo học trên lớp và gấp đôi thời lượng đó cho việc học tập ở ngoài giảng đường (đọc tài liệu ở thư viện, thực hành trong phòng thí nghiệm hay học ở nhà).

Mỗi học phần được quy định bằng một số tín chỉ phản ánh số giờ học trên giảng đường hàng tuần và tổng thể tạo nên một học phần chuẩn 15 tuần.

Khi hoàn thành chương trình đào tạo với hơn 120 tín chỉ trong 4 năm, sinh viên sẽ nhận được bằng cử nhân.

Học theo tín chỉ có các ưu điểm:

1) Tạo khả năng chuyển tiếp linh hoạt giữa các cơ sở đào tạo thuận tiện cho người học;

2) Người học có thể tích luỹ 60 tín chỉ tại một trường Cao đẳng cộng đồng (2 năm) để được cấp bằng phó cử nhân, sau đó chuyển tiếp học ở bậc cao hơn (2 năm) ở một đại học khác;

3) Tạo khả năng học bán thời gian, hoặc học theo cách gián đoạn trong vòng 1-2 học kỳ hay trong nhiều năm;

4) Tạo điều kiện để người học có thể liên thông lên học ở chương trình đào tạo cao hơn là sau đại học hoặc theo học chương trình đào tạo chuyên nghiệp cao cấp.

Đây cũng là một đặc trưng nổi bật và là điểm mạnh của GDĐH Mỹ mà về sau nhiều quốc gia học và ứng dụng theo mô hình đào tạo này.

2.2. GDĐH Mỹ được đánh giá là có chất lượng cao. Chất lượng này được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố kiểm định công nhận chất lượng.

Kiểm định là hình thức đầu tiên trong quy trình xét duyệt chất lượng từ bên ngoài của các cơ sở giáo dục đại học. Hoạt động này chủ yếu do các tổ chức tư nhân và phi lợi nhuận đảm nhiệm.

Một trường hay một chương trình đào tạo phải thoả mãn ba yêu cầu sau mới được công nhận về chất lượng. Đó là:

1) Đáp ứng được những tiêu chuẩn của một tổ chức kiểm định;

2) Duy trì được những phương thức có hiệu quả để đảm bảo chất lượng, có các quy trình và cơ chế để quản lý chất lượng;

3) Duy trì được các chiến lược để luôn luôn nâng cao chất lượng đào tạo.

Mục đích kiểm định công nhận chất lượng là nhằm:

1) Thể hiện chất lượng của cơ sở đào tạo;

2) Giúp các trường tiếp cận các nguồn quỹ tài trợ của Liên bang;

3) Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển tiếp của người học;

4) Tạo sự tin tưởng cho các nhà tuyển dụng lao động.

Ở Mỹ, có gần 6.500 cơ sở đào tạo (có cấp bằng và không cấp bằng) và hơn 20.000 chương trình đào tạo thuộc nhiều ngành nghề (luật, y, dược, kinh doanh, điều dưỡng, công tác xã hội, nghệ thuật, báo chí…) được kiểm định công nhận chất lượng vào năm 1998-1999[7].

2.3. Một đặc trưng nổi bật khác của GDĐH Mỹ là tinh thần tự do học thuật cao. Cụm từ “tự do học thuật” được sử dụng từ đầu thế kỷ 20 và thường xuyên được nhắc đến trong các cơ sở GDĐH Mỹ và trở thành một câu thần chú.

Nội dung cơ bản của nó là nói đến việc các giáo chức và cơ sở GDĐH ở Mỹ được bảo vệ, tránh sự can thiệp của chính trị.

Theo đó, những khái niệm không chính thống và những hành vi trái lệ thường trong môi trường học thuật, hơn bất cứ lĩnh vực nào khác của đời sống, cần nhận được sự bảo hộ đặc biệt[8].

Ở GDĐH Mỹ có quan niệm, tự do học thuật bảo vệ một không gian quý giá cho những thử nghiệm tri thức có giá trị.

Quyền tự do học thuật còn được mở rộng hơn nữa trên thực tế, nó cho phép những người có óc sáng tạo khác thường sống những cuộc đời sáng tạo khác thường. Song, tự do học thuật phải gắn với nghĩa vụ học thuật, tức trách nhiệm đối với xã hội…

Giới chức giáo dục Mỹ đòi hỏi quyền tự do học thuật cá nhân được tôn trọng, nhưng họ cũng nhận rõ trách nhiệm đối với cộng đồng…

Có thể nói, nền GDĐH Mỹ mạnh và thành công như hiện nay có sự đóng góp không nhỏ của tư tưởng tự học thuật.

Mỹ là quốc gia có nhiều trường đại học được xếp ở hàng đầu của thế giới.

Trong số 100 trường đại học tốt nhất thế giới có hơn một nửa là của Mỹ và trong 10 trường xếp hàng đầu thì Mỹ có tới 8 trường nằm trong tốp này.

Theo kết quả khảo sát ở London (Anh) và Thượng Hải (Trung Quốc) vào cuối những năm 2000, trong số 500 trường đại học hàng đầu thế giới thì Mỹ dẫn đầu với 14 trường trên tổng số 25, 28 trên tổng số 75 và 37 trên tổng số 100 trường đại học uy tín, chất lượng[10] của thế giới.

3. Tài chính, chi phí của GDĐH Mỹ

Nguồn thu của các cơ sở GDĐH bao gồm các khoản: học phí, kinh phí được chính quyền (địa phương và liên bang) cấp và sự ủng hộ của các nhà tài trợ.

Trong đó, trong khoản kinh phí được chính quyền cấp thì của địa phương chiếm tới 90%, còn của liên bang chỉ chiếm 10%.

Số kinh phí do chính quyền liên Bang cấp chủ yếu được dành để hỗ trợ cho những đối tượng khó khăn[11].

Còn nguồn chi cho giáo dục hầu hết lấy từ nguồn tài chính của các bang, quận và từ học phí của người học.

Nhìn chung, các trường đại học Mỹ có mức thu học phí cao và có xu hướng tăng lên.

Trong khoảng 20 năm, từ 1975 đến 1995, các mức học phí ở các viện đại học tư tăng 105%, ở các trường đại học tư tăng 108%, ở các viện đại học công lập tăng 115% và ở các trường đại học công lập 2 năm tăng 228%[12].

Mức học phí phổ biến ở Mỹ giao động từ mức thấp nhất là 3.000 USD (cho khu vực công lập) đến 20.000 USD/năm (cho một số trường tư).

Cấp tài chính đối với giáo dục đại học Mỹ là một vấn đề vừa lớn, vừa phức tạp.

Nó là vấn đề lớn bởi tài chính là nền tảng chi phối phần lớn ba vấn đề khác bao quát về chính sách GDĐH hiện đại. Ba vấn đề đó là:

1) Chất lượng, và mối quan hệ giữa việc cấp kinh phí và chất lượng ở bất cứ khía cạnh nào của nó;

2) Sự nhập học, hay việc tìm kiếm công bằng xã hội ở những người được hưởng lợi ích và những người phải chi trả cho giáo dục đại học.

3) Hiệu quả, hay việc tìm kiếm một mối quan hệ về hiệu suất chi phí giữa các nguồn thu nhập (đặc biệt là các nguồn thu từ sinh viên, từ phụ huynh và từ những người đóng thuế) và sản phẩm đầu ra (có thể được đo bằng số sinh viên nhập học, số sinh viên tốt nghiệp, việc học của sinh viên hay các hoạt động học thuật của đội ngũ giáo chức).

Học phí là vấn đề phức tạp một phần vì có nhiều nguồn thu và nhiều khoản chi, các khoản này lại có mối quan hệ yếu ớt với các nguồn thu nhập khác nhau.

Hơn nữa, các mô hình thu nhập và chi tiêu lại khác nhau nhiều giữa các cơ sở đào tạo đại học, tuỳ theo loại trường (viện đại học, trường đại học 4 năm, trường cao đẳng 2 năm), theo phương thức quản lý (trường công hay trường tư) và còn theo các bang.

Trong khu vực tư, các mức chi tiêu cũng như các mô hình định giá học phí và giảm học phí khác nhau rất nhiều tuỳ theo khả năng tài chính của từng trường, tính chất về nhân khẩu và mức độ giàu có của của gia đình nhóm người xin nhập học.

Trong các trường công lập, các mô hình này lại thay đổi tuỳ theo các mức cấp kinh phí của bang, các chính sách học phí và các chỉ tiêu tuyển sinh được ấn định bởi chính quyền bang và các hội đồng quản trị của các nhóm liên kết các trường đại học công.

Mỹ là nước thứ hai (chỉ sau Canada) về chi phí cho giáo dục đại học tính theo phần trăm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cao hơn các nước Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Anh.

Tổng chi cho GDĐH Mỹ, bao gồm các khoản chi thường xuyên công với các khoản chi phụ thêm cho thiết bị, chiếm khoảng 3% GDP.

Trách nhiệm quản lý giáo dục thuộc về chính quyền các bang và các quận.

Các cơ quan quản lý giáo dục của bang có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn đối với các cơ sở giáo dục trong bang, từ việc xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển, việc phân bổ nguồn tài chính, quản lý giáo viên… đến nội dung, chương trình đào tạo của các loại hình giáo dục trên cơ sở luật pháp Liên bang và luật pháp riêng của từng bang.

Ở nhiều quốc gia, khi học phí tăng thường gây nên phản ứng xã hội; nhưng ở Mỹ thì không như vậy.

Người dân Mỹ đã có tạo được truyền thống chấp nhận chi trả học phí cao. Hầu hết họ tin tưởng vào chất lượng GDĐH trả lại cho họ những lợi ích theo mong muốn.

TÓM LẠI:

Hệ thống GDĐH Mỹ là một hệ thống có quy mô đồ sộ, đa dạng và phức tạp. Không giống như nhiều quốc gia khác, Bộ giáo dục Liên bang Mỹ chỉ đóng vai trò phụ trong quản lý hệ thống.

Quyền lực, trách nhiệm và nghĩa vụ thật sự đối với hệ thống GDĐH thuộc về cơ sở, bao gồm chính quyền bang, quân và nhà trường.

Hệ thống giáo dục Mỹ có những điểm khác biệt, chính những điểm khác biệt này làm nên sức mạnh, sự ưu việt của GDĐH Mỹ.

Sự khác biệt biểu hiện rõ nét ở sự tự chủ cao của các cơ sở giáo dục và chính quyền các bang, quận; đào tạo theo hệ tống tín tạo nhiều thuận lợi cho người học; chế độ kiểm định chất lượng công nhận nghiêm ngặt và tinh thần tự do học thuật, v.v…

Có thể coi sự khác biệt này là những điểm nhấn, những tiền đề quan trọng giúp GDĐH Mỹ có những bước tiến vượt bậc so với châu Âu và những nơi khác.

Trong khoảng hai thế kỷ nay, GDĐH Mỹ được nhiều quốc gia khác quan tâm nghiên cứu, học hỏi và áp dụng để xây dựng nền giáo dục phát triển trong thế kỷ XXI.

Tài liệu tham khảo

[1] Donald Kennedy (2012): Nghĩa vụ học thuật, Nxb Tri thức.

[2] Trần Khánh Đức (2010): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam.

[3] Đào Thanh Hải, Lê Văn Hồng, Vũ Thị Quỳnh Nga (2016): “Hệ thống giáo dục sau trung học ở Hoa Kỳ”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 11-2016.

[4] http://www.nuocmy.net: “Tổng quan về giáo dục đại học Hoa Kỳ”.

[5] http://amec.com.vn: “Những hiểu biết cơ bản về đất nước và con người Mỹ”.

[6] http://kenhtuyensinh.vn: “Hệ thống đại học du học Mỹ được phân loại như thế nào?”.

[7] Lâm Quang Thiệp, D.Bruc Jhonstone, Philip G.Altbach (2007): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục.

[8] Itamar Rabinovich (2012): “Tính ưu việt của hệ thống đại học Mỹ”, Niên giám thông tin khoa học xã hội nước ngoài, số 4, từ tr. 271-284, Nxb. KHXH, Hà Nội.                     


[1] Lâm Quang Thiệp, D.Bruc Jhonstone, Philip G.Altbach (2007): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục, tr.36.

[2] Trần Khánh Đức (2010): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.70-71.

[3] Lâm Quang Thiệp, D. Bruc Jhonstone, Philip G. Altbach (Đồng chủ biên): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục, 2007, tr.61.

[4] Lâm Quang Thiệp, D. Bruc Jhonstone, Philip G. Altbach (Đồng chủ biên): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục, 2007, tr.35.

[5] Trần Khánh Đức (2010): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.72-73.

[6] Lâm Quang Thiệp, D. Bruc Jhonstone, Philip G. Altbach (Đồng chủ biên): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục, 2007, tr.219.

[7] Lâm Quang Thiệp, D.Bruc Jhonstone, Philip G.Altbach (2007): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dụ, tr.244.

[8] Donald Kennedy (2012): Nghĩa vụ học thuật, Nxb Tri thức, tr.13.

[9] Donald Kennedy (2012): Nghĩa vụ học thuật, Nxb Tri thức, tr.14.

[10] Itamar Rabinovich: “Tính ưu việt của hệ thống đại học Mỹ”, trong Niên giám thông tin khoa học xã hội nước ngoài, số 4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012, tr.275.

[11] Trần Khánh Đức (2010): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.71.

[12] Lâm Quang Thiệp, D.Bruc Jhonstone, Philip G.Altbach (2007): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dụ, tr.226-227.

TẤM GƯƠNG TỰ HỌC HỒ CHÍ MINH

Trong cuộc đời “mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy”[1].

Trong câu nói của Gibbon, vế thứ hai là ám chỉ việc tự học. Đúng vậy, dù có ngồi trên ghế nhà trường bao lâu chăng nữa, thì học vấn của mỗi người căn bản vẫn do tự học tạo nên. Chân lý này được nhiều người khẳng định và chia sẻ.

Trong lịch sử nhân loại có nhiều tấm gương sáng về tự học, Hồ Chí Minh là một trong số đó. Bài viết giới thiệu vài nét về tự học của người anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, nhà tư tưởng lỗi lạc Hồ Chí Minh.

1. “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó”[2].

Để trở thành một vĩ nhân, được người đời ngưỡng mộ, ca ngợi, tôn vinh, trong con người Hồ Chí Minh hẳn có phần tố chất bẩm sinh của một thiên tài; nhưng thiên tài được tạo nên là do 99% mồ hôi và nước mắt, chỉ có 1% do trời phú[3] mà thôi.

Trường hợp Hồ Chí Minh và nhiều nhân tài của thế giới đều như vậy cả. Cái làm nên danh nhân Hồ Chí Minh bao gồm nhiều yếu tố, trong đó đóng vai trò quan trọng là học vấn, mà học vấn của Hồ Chí Minh lại căn bản được tạo nên từ tự học.

Do điều kiện của bản thân, gia đình và thời cuộc, Hồ Chí Minh có phần “thiệt thòi” do không được học tập nhiều và liền mạch trong trường học.

Thuở thiếu thời, Người được cha dạy chữ Hán; sau đó được gửi vào học các trường: Tiểu học Đông Ba, Quốc Học Huế và trường Pháp-Việt. Trước cảnh “nước đã mất, dân đã làm nô lệ”, năm 1911, Người quyết định xuất dương tìm đường cứu dân, cứu nước; việc học đứt quãng.

Sau này, khi đã trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh được cử vào học tại trường Đại học Cộng sản phương Đông, rồi Trường Quốc tế Lênin và có thời gian làm nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Khi nói về việc học, về nhận thức của mình thuở thiếu thời, Người tâm sự: Về văn hoá tôi chỉ học hết tiểu học. Về hiểu biết phổ thông: 17 tuổi tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20 tuổi mới nghe rađio lần đầu. 

Nhưng như mọi người đều biết, Hồ Chí Minh có một trình độ học vấn uyên bác mà thế giới phải khâm phục và thừa nhận. Nhà nghiên cứu người Nga Vasiliep nhận xét: “Hiếm có chính khách nào của thế kỷ XX có thể sánh được với Hồ Chí Minh về trình độ học vấn, tầm hiểu biết rộng lớn và sự thông minh trong cuộc đời”.

2. Hồ Chí Minh đã làm gì để trở thành người có học vấn như vậy? Cái gốc của vấn đề, theo tôi, là ở quan niệm về học và sự nỗ lực tự học của Người.

Hồ Chí Minh quan niệm trong học tập phải “lấy tự học làm cốt”, làm căn bản. Ngay từ tháng 8 năm 1935, Người đã ghi rõ trong bản lý lịch đại biểu tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII ở mục học vấn hai chữ: Tự học.

Quan niệm này được Người tiếp tục khẳng định lại trong tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”. Ở mục “1. Huấn luyện cán bộ”, khi nói về “Cách học tập”, Người đã viết: “Lấy tự học làm cốt”[4].

Quan điểm lấy tự học làm cốt được nhiều trí thức danh tiếng của nước ta (và thế giới) tán đồng, chia sẻ[5]. Cũng xin nói rõ, hai chữ “tự học” ở đây cần được hiểu theo nội hàm mở rộng của khái niệm.

Cụ thể, “Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp, v.v…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[6].

Rộng hơn, tự học của Hồ Chí Minh không chỉ là tiếp nhận, chiếm lĩnh tri thức văn hoá trong sách vở, ở trường lớp mà còn học từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động.

Tự học của Hồ Chí Minh còn bao hàm cả việc học và làm nhiều nghề để phục vụ cho nhu cầu sống và làm cách mạng. Người đã học và làm đầu bếp, thợ đốt lò, quét tuyết, bốc thuốc, viết báo, viết văn, làm thơ, làm thợ chụp ảnh, thợ sửa đồng hồ…

Học và làm nghề gì, việc gì Hồ Chí Minh cũng chuyên tâm và dường như đều làm tốt, thậm chí có những lĩnh vực còn tỏ ra xuất sắc.

Tập Nhật ký trong tù được xem là “một thi phẩm bằng chữ Hán có nội dung sâu sắc, ngôn từ, nhịp điệu phong cách rất riêng”. Đó là nhận xét của nhà Việt Nam học người Nga N.Phêđôrencô.

Những bức vẽ của Hồ Chí Minh được danh hoạ Picaso đánh giá cao: Nếu tác giả tiếp tục con đường hội họa thì ắt sẽ trở thành một đại danh họa.

Về làm báo, Người không chỉ sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam mà còn để lại một phong cách báo chí riêng, độc đáo. Người còn là nhà chính trị kiệt xuất, đã tạo nên một thời đại mang tên mình trong lịch sử Việt Nam; đồng thời là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng đến thế giới trong thế kỷ XX.

3. Về học ngoại ngữ, Hồ Chí Minh càng khiến chúng ta phải nể phục. Cho đến nay chưa có ai khẳng định được chính xác Người biết bao nhiêu thứ tiếng.

Có người nói Hồ Chí Minh biết 6 thứ tiếng, có người nói 8, có người nói là 12. Thậm chí có người nói Hồ Chí Minh biết tới 20 thứ tiếng[7]. Trong bản lý lịch đại biểu tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Hồ Chí Minh khai Người biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga.

Trong những thứ tiếng mà Hồ Chí Minh biết thì Người sử dụng thành thạo các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Thái Lan, Tây Ban Nha, Ả Rập… Người làm thơ, viết văn, viết báo bằng nhiều tiếng nước ngoài.

Người giao tiếp bằng giọng Pa-ri chuẩn với các tù binh Pháp và dạy tiếng Anh cho con gái vợ chồng luật sư người Anh – ông bà Lô-dơ-bi khi ở Hồng Kông.

Người thạo tiếng phổ thông Trung Quốc, đặc biệt rất giỏi tiếng Hán cổ. Giỏi đến mức những bài thơ chữ Hán trong tập Nhật ký trong tù của Người, theo nhà văn Quách Mạt Nhược (Trung Quốc), nếu đem trộn lẫn với các bài thơ nổi tiếng của các thi sĩ đời Đường thì nhiều người không phân biệt được đâu là thơ của Hồ Chí Minh.

Cần nói thêm về việc tự học ngoại ngữ của Hồ Chí Minh. Vì đây là biểu hiện thành công dễ nhận thấy nhất của Hồ Chí Minh trong tự học và đây cũng là điều hiện nay nhiều người, trong đó có giới trẻ rất quan tâm.

Sở dĩ Hồ Chí Minh có thể học và sử dụng được nhiều thứ tiếng là do Người có một chiến lược học tập đúng đắn. Chiến lược này bao gồm mục đích, động cơ, phương pháp và thái độ học tập tích cực.

Mục đích học ngoại ngữ (cũng như các lĩnh vực khác) của Người là để phục vụ sự nghiệp cứu dân, cứu nước. Mục đích cao đẹp và động cơ trong sáng đó đã tạo cho Hồ Chí Minh có sức mạnh và nguồn động lực to lớn để vượt mọi khó khăn trong học tập.

Hồ Chí Minh nhận thức rõ muốn tiếp xúc với thế giới thì không thể thiếu ngoại ngữ. Do đó, học ngoại ngữ được Người ưu tiên hàng đầu và dành thời gian, sức lực thích đáng cho việc này.

Để học được một thứ tiếng, Người đã rất kiên trì và quyết tâm cao. Mỗi ngày Người đặt ra quy định phải học thuộc mười từ, học ở mọi nơi, mọi lúc cho kỳ thuộc. Có khi Người viết các từ đó lên cánh tay để vừa làm vừa nhìn vào đó mà học.

Hôm sau lại học mười từ khác, cứ thế mà tích lũy dần như ta bỏ tiền tiết kiệm hàng ngàn vào ống… Việc học ngoại ngữ của Hồ Chí Minh đến hôm nay vẫn có tính thời sự cao đối với mỗi chúng ta trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

4. Hồ Chí Minh có quan niệm rất đúng đắn và hiện đại về tự học. Người cho rằng, chúng ta cần phải học từ trường lớp, sách báo, đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân và đặc biệt là học từ thực tiễn sinh động.

Trong lần gặp và nói chuyện với sinh viên Trường Đại học Băng Đung (In-đô-nê-xi-a) năm 1959, Người đã bộc bạch: Khi còn trẻ, tôi không có dịp đến trường học.

Cuộc sống, du lịch và làm việc là trường đại học của tôi. Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội, khoa học quân sự, lịch sử và chính trị. Nó dạy cho tôi yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình; căm ghét áp bức, ích kỷ…

Chúng ta không phủ nhận việc học tập được tổ chức theo trường lớp. Tuy nhiên việc học ngoài trường lớp đóng một vai trò to lớn đối với mỗi con người.

Kiến thức ở trường chỉ ít ỏi và mang tính gợi mở, định hướng. Như Anh-xtanh đã nói: “Cái ta biết chỉ như một giọt nước. Cái không biết mênh mông như đại dương”. Tri thức, kỹ năng do nhà trường cung cấp không thể nào đủ đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người.

Không thể khác được, tự học, tự đào tạo luôn là việc mà bất kỳ ai muốn tồn tại, phát triển tốt đều phải làm. Từ xưa đến nay đã có vô số người thành công nhờ học hỏi từ “trường đời”, từ thực tiễn sinh động, từ tự học. Hồ Chí Minh của Việt Nam, Mắc-xim Go-rơ-ki của nước Nga, Bill Gates của nước Mỹ và rất nhiều người khác nữa… là những minh chứng.

Ở Việt Nam, sau Hồ Chí Minh còn có nhiều trí thức, học giả làm nên danh tiếng của mình chủ yếu nhờ tự học. Chẳng hạn như: GS Phan Huy Lê, GS Hà Văn Tấn, GS Trần Quốc Vượng, PGS Phan Ngọc, học giả Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, v.v…

5. Một trong những triết lý giáo dục có quan hệ nhiều đến tự học mà Hồ Chí Minh theo đuổi là “học tập suốt đời”. Đức Khổng Tử thì “Học nhi bất yếm” (học không biết chán), còn V.I. Lênin chủ trương: “Học, học nữa, học mãi”.

Hồ Chí Minh tự nhận mình là “học trò nhỏ” của Khổng Tử, Đức Phật, Chúa Giê su, Mác, Lênin, Tôn Dật Tiên… hẳn Người đã lĩnh hội tư tưởng ẩn chứa trong câu nói của Khổng Tử và của Lênin.

Câu “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời” có thể là sự tiếp thu, kế thừa và vận dụng, phát huy tư tưởng Đức Phật, tư tưởng Lênin vào thực tế cuộc sống của Hồ Chí Minh.

Cuộc đời Hồ Chí Minh là một quá trình vừa học tập vừa hoạt động cách mạng; học để làm cách mạng, đạt mục đích, lý tưởng của mình; qua hoạt động cách mạng, không ngừng học tập, hoàn thiện tri thức và nhân cách của bản thân. Với Hồ Chí Minh, mục đích của tự học là “để tiến bộ mãi”.

Người chủ trương cần phải học ở trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân. Theo Người: “Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, đã biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ”[8].

Trong tự học, Hồ Chí Minh coi trọng việc đọc sách báo. Với Người, đọc sách không phải chỉ để giải trí mà quan trọng hơn là để nâng cao hiểu biết và chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu cách mạng. 

Vì thế, khi đã già yếu, bệnh tật Hồ Chí Minh dường như vẫn duy trì việc đọc báo, đọc sách (tức tự học) hàng ngày. Người nói với Đại tướng Hoàng Văn Thái: “Dù già yếu cũng phải học, phải đọc sách báo nâng cao hiểu biết và nhất là để nắm vững tình hình”.

Người tâm sự với các đảng viên lâu năm: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học… Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. 

Mấy cuốn sách mà Người đọc trong thời gian cuối đời là: “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông”, “Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ”, “The truth about Vietnam” (Sự thật về vấn đề Việt Nam, Nxb Green Leaf Classic, 1966). Khi đọc, Hồ Chí Minh luôn ghi chép và phân loại ngay các thông tin từ sách báo để sử dụng về sau.

6. Để có thể tự học thành công, Hồ Chí Minh cho rằng, cần rèn luyện cho mình một ý chí, nghị lực phi thường. Vì việc học cũng không phải là việc dễ dàng.

Quan niệm này ẩn chứa trong bài thơ Nghe tiếng giã gạo mang đậm tính triết lý của Người:

Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông

Sống ở trên đời người cũng vậy

Gian nan rèn luyện mới thành công

Hay những câu:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên

Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ ý chí, nghị lực của mình trong học viết báo. Người kể lại, khi học viết báo (bằng tiếng Pháp): ban đầu chỉ viết 3 dòng, rồi 5 dòng, sau đó viết 10 dòng, rồi một cột rưỡi. Sau đó viết rút ngắn lại còn 10 dòng. Cứ tập đi tập lại nhiều lần như vậy, cuối cùng Người thành công.

Viết báo được rồi, Người chuyển sang viết truyện ngắn, làm thơ… Trong quá trình này, Người tự rút ra kinh nghiệm: Viết cũng như mọi việc khác, phải có chí, chớ dấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mà tiến bộ, quyết tâm thì việc gì, khó mấy cũng làm được. Quả là một kinh nghiệm quý báu cho chúng ta!

Tự học ở Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc mà là một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, với tinh thần sáng tạo…

Cuộc đời của Hồ Chí Minh là cuộc đời tự học bền bỉ. Với hàng ngàn, hàng vạn trang viết Người để lại, ngoài giá trị lớn lao nhiều mặt, chúng còn là bằng chứng về tấm gương tự học của một nhà yêu nước vĩ đại, nhà văn hoá lỗi lạc.

Khi đọc, nghiên cứu di sản Người để lại, chúng ta không khỏi ngạc nhiên, khâm phục về kiến thức vừa phong phú vừa uyên bác, uyên thâm trên nhiều lĩnh vực của Người.

Thử hỏi, nếu không có vốn kiến thức phong phú và sâu sắc được tích luỹ lâu dài từ tự học thì làm sao Hồ Chí Minh có thể để lại cho hậu thế một di sản lớn và có giá trị như vậy. 

Điều cuối cùng tôi muốn nói về tự học của Hồ Chí Minh là ngoài cách học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh và học từ mọi người thì trong khi học Người luôn gắn nội dung lĩnh hội với việc truy vấn (hỏi), để nắm được/sâu vấn đề (hiểu) và gắn với làm (hành).

Có thể thâu gọn quá trình này trong bốn chữ: Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Đây chính là triết lý học tập tuyệt vời của Hồ Chí Minh mà mỗi chúng ta rất cần/nên tiếp thu/nắm lấy và vận dụng vào việc học tập của bản thân mình.

7. Có thể nói cuộc đời Hồ Chí Minh là một quá trình vừa tự học vừa hoạt động cách mạng. Tự học để phục vụ cách mạng, thực hiện mục đích, lý tưởng; và qua hoạt động cách mạng, không ngừng học tập, hoàn thiện tri thức và nhân cách bản thân.

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh như ngày nay thì nhiều tri thức chúng ta học được trước đó chỉ một vài năm (có lĩnh vực chỉ vài tháng) sau đã lạc hậu.

Muốn đáp ứng được nhu cầu tồn tại và phát triển, mỗi chúng ta phải thường xuyên tự đổi mới vốn tri thức của mình. Không phải lúc nào cũng có thể đến trường, theo lớp để học tập được. Tự học, tự đào tạo trở thành phương thức chính, mang tính chủ đạo có thể giúp mỗi chúng ta cập nhật được những thông tin, kiến thức mới.

Quan điểm “lấy tự học làm cốt” và tấm gương nỗ lực, kiên trì, quyết tâm tự học của Hồ Chí Minh sẽ là nguồn cảm hứng, giúp chúng ta có thêm động lực trong việc chiếm lĩnh và đổi mới tri thức, không để mình bị tụt hậu trong cuộc sống hôm nay.

Tài liệu tham khảo chính

01. Thu Giang Nguyễn Duy Cần: Tôi tự học, Nxb Thanh niên, 1999.

02. Hồ Chí Minh, một người châu Á của mọi thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, 2010.

03. John C.Maxell: 1% & 99%, tài năng & mồ hôi, nước mắt, Nxb Lao động – xã hội, Alphabooks, 2011.

04. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, 1947-1948, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

05. Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên): Quá trình dạy – tự học, Nxb Giáo dục, 2001.

06. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, 1955-1957, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

07. GS.TS Mạch Quang Thắng (Chủ biên): Hồ Chí Minh, nhà cách mạng sáng tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.

08. GS Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh – tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, 2010.

09. Quốc Văn: 365 lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, 2009.

10. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb VH, 2001.

Hà Nội, ngày 24-1-2017

TS. Bùi Hồng Vạn


[1] Dẫn theo Thu Giang Nguyễn Duy Cần: Tôi tự học, Nxb Thanh niên, 1999, tr. 6.

[2] Hồ Chí Minh – Một người châu Á của mọi thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 25.

[3] John C.Maxell: 1% & 99%, tài năng & 99% mồ hôi, nước mắt, Nxb Lao động – xã hội, 2011.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, 1947-1948, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 312.

[5] Chẳng hạn như GS Trần Văn Giàu, trong buổi lên lớp đầu tiên cho sinh viên đã viết lên bảng bốn chữ: Đại học = Tự học. Còn GS Nguyễn Cảnh Toàn đứng chủ biên cuốn sách có nội dung chính liên quan đến tự học (“Quá trình dạy – Tự học”, Nxb Giáo dục, 1998).

[6] Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên): Quá trình dạy – tự học, Nxb Giáo dục, 2001, tr. 59-60.

[7] Trong một buổi nói chuyện chuyên đề về Hồ Chí Minh, GS Hoàng Chí Bảo có nói: Hồ Chí Minh biết 20 thứ tiếng, ngoài tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, 1955-1957, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr. 377.

Bàn thêm về sử dụng “công nghệ mới” trong dạy học Tư tưởng Hồ Chí Minh

1. Trong thời đại KH-CN phát triển mạnh mẽ và xâm nhập ngày càng sâu rộng vào các lĩnh vực của đời sống như hiện nay thì việc sử dụng công nghệ mới trong dạy học là rất cần thiết.

Thuật ngữ công nghệ áp dụng vào quá trình dạy học ở đây được hiểu là bao gồm những cách thức tổ chức mọi hoạt động để đạt được các mục tiêu giáo dục cũng như những vật liệu, thiết bị được sử dụng trong quá trình giáo dục.

Công nghệ dạy học được các chuyên gia về lĩnh vực này quan niệm là một quá trình tích hợp phức tạp, trong đó các vấn đề liên quan tới mọi khía cạnh của việc dạy học được khái niệm hoá, phân tích, xây dựng và quyết định thông qua sự tương tác giữa con người, kỹ thuật, ý tưởng và các nguồn lực trong một khung cảnh nào đó.

Nói vắn tắt thì công nghệ dạy học là một quá trình khoa học mà trong đó các nguồn nhân lực, vật lực được sử dụng để nâng cao hiệu quả đối với việc giảng dạy và học tập.

Theo hướng tiếp cận trên thì công nghệ dạy học được quan niệm như là một sản phẩmnhư là một quá trình. Công nghệ dạy học như một sản phẩm bao gồm các quy trình, sự thực hành và vật liệu để dạy học.

Sản phẩm lại bao gồm sản phẩm không thực thể (học tập chương trình hoá, học tập cá thể hoá, kỹ năng dạy học…) và sản phẩm thực thể (máy ghi âm, máy video, máy vi tính, máy chiếu, Internet…).

Còn khi quan niệm như một quá trình thì công nghệ dạy học bao gồm các chức năng liên quan tới việc quản lý các tổ chức và nguồn nhân lực, việc nghiên cứu, bảo đảm hậu cần, sử dụng và thiết lập các hệ thống.

Có nhiều cách phân loại công nghệ, ở đây công nghệ được phân loại dựa trên quan điểm tiếp cận thông tin, theo đó có thể phân thành hai loại: công nghệ truyền thốngcông nghệ mới.

Trong đó, công nghệ mới khác với công nghệ truyền thống là các công nghệ này gắn với công nghệ thông tin và thông lưu mới (New information and communication technology – NICT).

2. Trong bài này, công nghệ mới được bàn đến chủ yếu ở khía cạnh công cụ, phương tiện, kỹ thuật với nội dung cụ thể là áp dụng hai công cụ, phương tiện mới (máy vi tính và Internet) vào quá trình dạy học môn Tư  tưởng Hồ Chí Minh.

Ngày nay, máy vi tính và Internet được sử dụng khá phổ biến trong hoạt động giáo dục, đào tạo trên thế giới và ở Việt Nam. Tại trường Đại học Thương mại, việc xây dựng các phòng học đa chức năng, trong đó trang bị các thiết bị kỹ thuật mới đề sử dụng trong dạy học được đẩy mạnh.

Việc sử dụng các phương tiện mới vào hoạt động dạy học là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Chắc chắn việc thu nhận kiến thức của sinh viên thông qua hình thức truyền tải mới sẽ có hiệu quả hơn.

Điều này đã được một nghiên cứu của thế giới xác nhận. Theo tài liệu này thì tỷ lệ tri thức còn lưu lại trong trí nhớ của người học thông qua ghi nhận bằng các giác quan và qua các thao tác thực hiện là rất khác nhau.

Theo các nghiên cứu thì qua nghe: tri thức lưu lại trong trí nhớ là 20%; qua nhìn: 30%; nghe và nhìn: 50%; tự trình bày: 80% và tự trình bày và làm: 90%[2].

Đối với môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, khi sử dụng máy vi tính trong việc dạy học sẽ đem lại những tác dụng hữu ích và tích cực. Theo đó, GV có thể sử dụng máy vi tính (computer, laptop) trong các khâu: chuẩn bị chương trình, bài giảng, giáo án và thực hiện việc giảng dạy trên lớp.

Trong khâu chuẩn bị bài giảng, giáo án thì ngoài việc sử dụng các loại tài liệu (giáo trình, tài liệu tham khảo) được xuất bản theo hình thức truyền thống (in ấn bình thường), người giáo viên còn phải tiếp cận nhiều nguồn tài liệu hiện nay được xuất bản dưới dạng điện tử (các đĩa CD, DVD, VCD…).

Chẳng hạn, đối với bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập), giáo viên có thể sử dụng máy vi tính để khai thác tư liệu của bộ sách này chứa trong đĩa CD với một tốc độ rất nhanh. Các tài liệu chuẩn bị trên máy tính sẽ cho phép xử lý nhanh chóng, thuận lợi, khi cần phải chỉnh sửa, bổ sung hoặc chuyển cho đồng nghiệp, sinh viên lúc cần thiết.

Đặc biệt nếu GV sử dụng bài giảng điện tử có sự kết hợp khai thác hợp lý các dữ liệu về hình ảnh, âm thanh, film tư liệu (trong các CD, VCD, DVD…) sẽ tạo ra sự sinh động, gây được cảm hứng, thích thú ở sinh viên, bài học sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

Chúng ta đều biết đối tượng học tập chủ yếu ở các trường đại học hiện nay là những sinh viên thuộc thế hệ 8X, 9X. Họ được sinh ra và lớn lên cùng với sự “bùng nổ”, phát triển của công nghệ thông tin – truyền thông.

Hầu hết sinh viên hiện nay đều rất thích thú, say mê và đặc biệt có khả năng trong tiếp cận NICT để phục vụ học tập và cho các nhu cầu sống của mình. Vì thế, khi giáo viên sử dụng các công cụ, phương tiện hiện đại trong dạy học sẽ tạo được sự “đồng cảm” nhất định đối với họ. Có thể coi đây là “khúc dạo đầu”, tạo tiền đề thuận lợi để GV thực hiện tốt nhiệm vụ, mục tiêu của mình trong quá trình giảng dạy môn học.

Tuy vậy, việc sử dụng công nghệ mới trong dạy học cũng có khía cạnh bất cập mà chúng ta cần lưu tâm và có hướng xử lý cho tốt. Đó là, khi nội dung bài giảng được chiếu lên phông, có không ít sinh viên cứ cắm đầu cắm cổ chép lấy, chép để những thông tin hiển thị trên đó.

Trước hiện tượng này, đã có ý kiến cho rằng, đổi mới phương pháp dạy học hiện nay chỉ là thay “đọc chép” bằng “nhìn chép”. Tôi không tán thành với loại ý kiến đó. Bởi như chúng ta đều biết, trong dạy học đương nhiên người giáo viên phải thực hiện một trong các mục tiêu là cung cấp thông tin, tri thức (cơ bản nhất) cho người học.

Nói, viết hay làm gì đó thì cũng phải giúp cho sinh viên có được những kiến thức tối thiếu, cơ bản, cần thiết. Trên cơ sở đó giáo viên sẽ tiến hành phân tích, giảng giải, mở rộng, nâng cao và đi sâu vào các vấn đề của bài học.

Còn sinh viên thì theo dõi, ghi chép những điều cần thiết và đọc thêm tài liệu để hoàn thiện kiến thức của mình. Chỉ khi giáo viên không giảng mà toàn đọc cho sinh viên ghi chép hay đơn thuần là chiếu nội dung bài học lên phông để sinh viên chép, ngoài ra không làm gì nữa thì ý kiến trên mới khiến chúng ta phải bận tâm.

Dạy học theo kiểu “đọc chép”, “nhìn chép” chỉ là hiện tượng hi hữu, nhất thời của một vài cá nhân nào đó; nhưng cũng cần phải lên án và loại bỏ.

Muốn đạt kết quả tốt trong dạy học, theo tôi cần chuẩn bị và thực hiện tốt tất cả các khâu, từ chuẩn bị giáo án, bài giảng đến thực hiện các công việc trên giảng đường. Trong chuẩn bị bài giảng điện tử nên lưu ý thiết kế các slide của bài học cho phù hợp.

Trên đại thể các slides được thiết kế ra chủ yếu để dùng vào hai loại công việc là thuyết trình và quảng cáo. Slides trong dạy học thuộc dạng thuyết trình (khoa học). Do đó, thiết kế slides chỉ nên chọn những font chữ chân phương, nghiêm túc cùng với các màu sắc trang nhã giúp cho người học dễ dàng theo dõi.

Không nên quá lạm dụng tích năng “náo hoạt” cùng những màu sắc, hình vẽ rối rắm, loè loẹt trong các slides. Điều này dễ gây phản cảm và sự mất tập trung đối với nội dung khoa học cần chuyển tài.

Nguyên tắc trình bày nội dung slides phải rút gọn về từ ngữ, câu chữ; do đó cần lựa chọn những nội dung cơ bản, quan trọng nhất để thể hiện. Còn những phân tích, lý giải, chứng minh… thì để ở trong đầu của người GV.

3. Internet là một thành tựu của văn minh nhân loại. Hiện nay Internet được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong việc dạy và học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Internet là một trong những phương tiện không thể thiếu đối với giáo viên và sinh viên. Giáo viên có thể thông qua Inernet để tìm kiếm, cập nhật những thông tin, tri thức mới nhất liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của mình.

Còn đối với  sinh viên theo sự hướng dẫn, tư vấn của giáo viên có thể truy cập vào các Website có đăng tải, cung cấp những thông tin, tài liệu liên quan đến môn học để khai thác phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của mình hiệu quả hơn.

Trên Internet, thông tin có đủ cả “thượng vàng” lẫn “hạ cám”. Không ít những trang Web được các thế lực thù địch, phản động xây dựng nhằm chuyển tải những nội dung tiêu cực, xuyên tạc, phi chính trị, v.v… rất có hại cho đất nước.

Vì thế, khi giới thiệu tài liệu trên mạng, GV cần “tỉnh táo” hướng dẫn cho sinh viên tránh những trang Web này. Đối với các môn lý luận chính trị nói chung, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, GV cần hướng dẫn cho sinh viên tìm kiếm và truy cập vào các website chính thống như Báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Quốc hội… để lấy thông tin, tài liệu phục vụ việc học tập, nghiên cứu.

Ngoài việc sử dụng Internet với tính năng tìm kiếm, khai thác thông tin thì GV và sinh viên có thể sử dụng email, lập các trang web của cá nhân phục vụ cho giảng dạy, học tập, nghiên cứu (thậm chí có thể “chat”, “thảo luận online” nữa!)

Chính thông qua các hoạt động này, GV và sinh viên có thể mở rộng được khả năng hoạt động của mình vượt ra ngoài khuôn khổ của không thời gian trong lối dạy học truyền thống, từ đó từng bước làm quen với một phương thức học tập mới, hiện đại mà ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã và đang thực hiện – E-learning.

Tài liệu tham khảo

[1] Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa sư phạm: Giáo dục học đại học (Tài liệu bồi dưỡng dùng cho các lớp Giáo dục học đại học và Nghiệp vụ sư phạm đại học), Hà Nội, 2003.

[2] Nguyễn Đình Tê (Chủ biên): Giáo trình ứng dụng tin học – Đồ hoạ và multimedia, Nxb Giáo dục, 2000.

[3] Jean-Marc Denomm’ & Madeleine Roy: Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác (Bộ ba Người học – Người dạy – Môi trường), Nxb Thanh niên, Tạp chí Tri thức & Công nghệ, 2000.

[4] Guy Palmade: Các phương pháp sư phạm, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002.

Hà Nội, ngày 25/08/2009

TS. BÙI HỒNG VẠN


[1] Chữ “Bàn thêm” muốn nói vấn đề này đã được tác giả đề cập đến ở một số bài viết khác (trong các Hội nghị khoa học của trường, khoa hay bộ môn).

[2] ĐH quốc gia HN, Khoa Sư phạm: Giáo dục học đại học (Tài liệu bồi dưỡng dùng cho các lớp Giáo dục học đại học và Nghiệp vụ sư phạm đại học), Hà Nội, 2003, tr. 138.

CHUYỆN CỤ HỒ PHONG HÀM ĐẠI TƯỚNG CHO ÔNG GIÁP

[Cuộc đời cụ Hồ có rất nhiều giai thoại… Chuyện phong hàm đại tướng cho ông Võ Nguyên Giáp là có thật, không phải giai thoại! Nhưng cái cách mà cụ phong và sau đó trả lời giới báo chí nước ngoài thì “na ná” như một giai thoại…]

Sau chiến thắng Việt Bắc – Thu Đông 1947, Bác Hồ đã bàn với Trung ương thành lập Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam, phong quân hàm cho một số cán bộ quân đội trong đó có hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp.

Chủ trương này của Bác đã được toàn thể thành viên trong Hội đồng Chính phủ hoan nghênh trong cuộc họp ngày 19/01/1948.

Ngay sau đó một ngày, ngày 20/01/1948, Bác Hồ đã ký sắc lệnh phong quân hàm cho một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội.

Theo đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp được trao quân hàm Đại tướng. Các đồng chí Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong quân hàm Thiếu tướng.

Đáng chú ý trong dịp này có duy nhất một người được phong quân hàm cấp Trung tướng là đồng chí Nguyễn Bình. Bác và Trung ương đã cân nhắc: Đối với Nam Bộ, quân và dân Nam Bộ đã chiến đấu sớm nhất, đã trên hai năm, do đó phong quân hàm Trung tướng cho đồng chí Nguyễn Bình.

Ngoài ra, một số cán bộ cấp Cục hoặc chỉ huy các Liên khu cũng được phong quân hàm cấp Đại tá.

Việc phong quân hàm chỉ mới tiến hành cho những cán bộ chủ chốt, chưa thực hiện với toàn quân.

Hội đồng Chính phủ dự kiến sẽ tổ chức Lễ phong quân hàm cấp tướng vào ngày 27/5/1948. Tuy nhiên, trong những ngày đó trời mưa rất to, các sông, suối nước lớn không thể qua lại được, các đại biểu chưa đến đủ.

Hội đồng Chính phủ họp phiên toàn thể, quyết định một số vấn đề quan trọng trong ngày 27/5/1948, cuộc họp này kéo dài tới nửa đêm vẫn chưa xong và tiếp tục họp vào sáng hôm sau 28/5/1948. 

Do những điều kiện lịch sử cụ thể như vậy, nên hồi 13h ngày 28/5/1948, Lễ phong quân hàm cấp tướng đã được tổ chức trọng thể tại một Hội trường mới dựng còn thơm mùi vách nứa bên dòng suối ở cánh đồng Nà Lọm, Phú Đình, Định Hóa.

Phía trong Hội trường đặt bàn thờ Tổ quốc trang hoàng giản dị, có cờ đỏ sao vàng và lọ hoa cắm một chùm hoa núi; xung quanh là các băng đỏ ghi khẩu hiệu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; Thống nhất độc lập nhất định thành công ”. Buổi Lễ hôm ấy đã diễn ra thật xúc động.

Theo lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Bác Hồ và cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban Ban Thường trực Quốc hội đứng hai bên bàn thờ, các thành viên Chính phủ đứng trước bàn thờ.

Bác Hồ tay cầm Sắc lệnh gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp lên, bằng giọng trang nghiêm và xúc động, Bác nói: “Hôm nay thay mặt Chính phủ và nhân dân…” rồi Bác bỗng ngừng lời, rút khăn tay lau nước mắt. Giây phút đó làm cho cả Hội trường vô cùng xúc động. Lát sau, Bác nói tiếp: “… Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho…”. Tiếp đó, Bác trao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp Sắc lệnh.

Cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban Ban Thường trực thay mặt Quốc hội, đồng chí Phan Anh thay mặt Hội đồng Chính phủ phát biểu chúc mừng. Đồng chí Tạ Quang Bửu thay mặt Bộ Quốc phòng bày tỏ lời chúc mừng và lời hứa của toàn thể bộ đội sẽ nêu cao tinh thần chiến đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xúc động phát biểu, vô cùng nhớ tiếc các anh hùng liệt sỹ, chân thành biết ơn Bác, Quốc hội và Chính phủ đã dành cho vinh dự cao cả đồng thời hứa sẽ đem hết tinh thần và nghị lực làm trọn nhiệm vụ, góp phần khiêm tốn của mình vào sự nghiệp đấu tranh cho độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Sau buổi Lễ trọng thể, trong buổi nói chuyện thân mật, ôn lại truyền thống lịch sử, Bác nói: “Việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác hôm nay là kết quả biết bao hy sinh chiến đấu của đồng bào, đồng chí… Các thế hệ đi trước chiến đấu cho độc lập mà sự nghiệp không thành, nhắm mắt vẫn còn chưa thấy độc lập tự do. Chúng ta ngày nay may mắn hơn, nhưng trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn. Nghĩ tới hàng nghìn, hàng vạn người đã ngã xuống cho ngày hôm nay, chúng ta càng phải cố gắng giành cho được độc lập, tự do để thỏa mãn vong linh của những người đã khuất…”.

Khi sự kiện Lễ phong quân hàm cấp tướng được công bố trên Đài Tiếng nói Việt Nam, một phóng viên phương Tây hỏi Bác vì sao một lúc phong nhiều tướng, tá như vậy? Việc phong cấp này được tiến hành dựa theo những tiêu chuẩn nào?

Bác đã trả lời giản dị: Đánh thắng Đại tá phong Đại tá; đánh thắng Thiếu tướng phong Thiếu tướng; thắng Trung tướng phong Trung tướng; thắng Đại tướng phong Đại tướng.

Vậy là, từ sự kiện cuối tháng 5 năm 1948 ở Chiến khu Việt Bắc, lần đầu tiên, một Lễ phong quân hàm cấp tướng đã diễn ra trọng thể, lần đầu tiên trong quân đội nhân dân Việt Nam có cấp Đại tướng, Trung tướng, mỗi quân hàm trao cho một người và quân hàm cấp Thiếu tướng trao cho một số đồng chí. Đây là dấu mốc quan trọng không chỉ khẳng định sự trưởng thành và lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn cho thấy sự quan tâm của Bác, của Trung ương Đảng, Chính phủ ta lúc ấy chăm lo cho sự phát triển của Quân đội nhân dân ta.

Điều mà báo chí ít khi nhắc đến hoặc có chăng vẫn chỉ thường chú ý đến Lễ phong quân hàm cấp tướng ngày 28/5/1948 mà chưa hoặc ít đề cập đến một chi tiết rất quan trọng gắn liền với sự kiện Lễ phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội ta, đó là những quan điểm của Bác về “Tư cách một người tướng”.

Những quan điểm này của Bác được thể hiện sau đó ba tháng, vào tháng 8 năm 1948 tại Hội nghị Quân sự lần thứ V. Bác nói: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Đối với kỷ luật, “mệnh lệnh từ trên xuống dưới phải thấm tới mỗi đội viên… Báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng, thiết thực… Phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt. Ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”.

Đối với binh sĩ, thì “từ lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, tới cái ăn cái mặc, nhất thiết phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo đánh, họ sẽ hăng hái đánh… Bộ đội ta, tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu”.

Đối với dân “bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi”. Đối với địch, thì “tuyệt đối chớ khinh địch… khinh địch thì nhất định sẽ thất bại”.

Những lời Bác căn dặn đối với các tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam từ 65 năm trước ở Chiến khu Việt Bắc thật giản dị nhưng rất sâu sắc. Điều ấy thể hiện sự tin tưởng của Bác khi giao nhiệm vụ nhưng cũng hết sức nghiêm cẩn, trao trọng trách cho những vị tướng chỉ huy trong quân đội ta.

Kim Yến (st)

CHÂN LÍ LÀ GÌ?

“Chân lý” nếu định nghĩa theo cách đơn giản thì không khó (chẳng hạn như Đại từ điển tiếng Việt (1999) ở trang 325 giải thích chân lí là “Sự phản ánh hiện thực vào nhận thức của con người, đúng như chúng tồn tại trong thực tế khách quan”). Nhưng định nghĩa khái niệm này ở cấp độ triết học thì khó hơn nhiều.

Ở nước ta, Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1 (1995), đã khai triển định nghĩa khái niệm chân lý ở mức cao hơn so với Đại từ điển tiếng Việt. Theo tài liệu này, chân lí được xem là một “phạm trù triết học nói lên sự phản ánh đúng đắn khách thể bởi chủ thể đang nhận thức, sự phản ánh ấy tái hiện khách thể như nó vốn tồn tại ở bên ngoài, độc lập với con người và ý thức con người; là tri thức phù hợp với khách thể và đã được thực tiễn kiểm nghiệm…” (tr.410)…

Trước một sự vật, hiện tượng có nhiều quan niệm và định nghĩa về sự vật, hiện tượng đó. Chân lý cũng vậy, được quan niệm, định nghĩa có những khía cạnh khác nhau giữa các học giả. Sau đây, xin giới thiệu thêm quan niệm của Tiến sĩ Mortimer J. Adler (một chuyên gia về lịch sử tư tưởng phương Tây) về khái niệm này.

Trong bài viết trả lời một độc giả của tờ Chicago Sun-Times và tờ Chicago Daily News, Tiến sĩ Mortimer J. Adler cho rằng: trong một số trường hợp việc đa số người khẳng định điều gì đó là chân lý là một chỉ dẫn cho thấy nó có thể là chân lý. Nhưng đây chỉ là một trong những dấu hiệu của chân lý; và nó hoàn toàn không phải là dấu hiệu tốt nhất. Nó không trả lời được câu hỏi – “Chân lý là gì?”.

Xem xét cái gì dính dáng đến việc nói dối sẽ giúp chúng ta hiểu được bản chất của chân lý. Nếu một đàn ông nói với một người phụ nữ “Tôi yêu em” nhưng ông ta không yêu thì người đàn ông ấy đang nói dối. Khi một đứa trẻ đã lấy trộm bánh nhưng lại nói với bố mẹ “con không lấy” thì nó đang nói dối. Nói dối là nói trái với những gì bạn biết, bạn nghĩ hoặc cảm nhận. Nó khác với sự nhầm lẫn thành thực…

Josiah Royce (nhà triết học vĩ đại người Mỹ đầu thế kỷ XX) đã định nghĩa kẻ nói dối là kẻ cố tình đặt không đúng chỗ các thuộc từ. Nghĩa là anh ta nói “có” trong khi muốn nói “không có”, hoặc nói “không có” trong khí muốn nói “có”.

Định nghĩa của Royce về kẻ nói dối dẫn ta quay lại với định nghĩa mang tính triết học của Plato và Aristotle cách nay mấy ngàn năm. Plato và Aristotle nói rằng: những ý kiến được coi là đúng khi nào chúng khẳng định điều gì có thì có, hoặc điều gì không có thì không có. Ngược lại những ý kiến của chúng ta là sai khi chúng khẳng định điều gì có thì không có, hoặc điều gì không có thì lại có.

Một khi cái “có” trong phát biểu của chúng ta phù hợp với phương cách mà sự vật có, lúc đó phát biểu của chúng ta là đúng và chân lý của phát biểu nằm ở chỗ nó tương ứng với những dữ kiện hiện có của giới tự nhiên hay thực tại.

Khi chúng ta nghĩ rằng một cái gì hiện hữu hay đã xẩy ra mà nó lại không hiện hữu hoặc không xẩy ra thì chúng ta mắc sai lầm và do đó, điều chúng ta nghĩ là sai.

Như vậy, chân lý rất dễ định nghĩa; nhưng xung quanh chuyện này nên nghĩ tới một câu hỏi khác: Làm thế nào chúng ta chỉ ra được một phát biểu là đúng hay là sai?

Đối với câu hỏi trên, chúng ta có ba mẫu câu trả lời chính. Đó là:

– Thứ nhất: Một vài phát biểu là đúng một cách tự nhiên. Chẳng hạn, “Toàn thể thì lớn hơn thành phần”. Những phát biểu kiểu này hiển lộ chân lý cho chúng ta một cách trực tiếp, bởi một điều rõ ràng là chúng ta không thể nào nghĩ trái với chúng được…

– Thứ hai: Chân lý của những lời phát biểu có thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm và quan sát. Nếu một người nào đó nói rằng trời không mưa vào một ngày nào đó ở một nơi nào đó trong tháng qua. Ta có thể kiểm chứng chân lý của lời phát biểu ấy bằng cách tìm đọc các tài liệu của cơ quan khí tượng…

– Thứ ba: Đối với những lời phát biểu vừa không đúng một cách hiển nhiên vừa không thể kiểm chứng bằng các sự kiện quan sát được. Đó có thể là thắc mắc về tính cách của một người, một loại sản phẩm được ưa thích hoặc con ngựa được ưa chuộng nhất có thắng trong cuộc đua này không…

Trường hợp đặc biệt này có thể tìm kiếm sự nhất trí của một nhóm người nào đó. Nếu ý kiến được đa số đồng thuận thì có thể coi như là dấu hiệu cho thấy ý kiến đó có khả năng đúng. Tuy nhiên, việc nhất trí của một nhóm người không phải là câu trả lời chính xác cho câu hỏi: “Chân lý là gì?”; tương tự nó cũng không phải là câu trả lời đầy đủ cho câu hỏi: “Làm thế nào để chỉ ra được một phát biểu đúng hay không đúng?”…

Vậy đó, “Định nghĩa chân lý thì dễ; biết một phát biểu cụ thể nào đó có đúng hay không thì khó hơn nhiều; và theo đuổi chân lý là khó khăn nhất”.

( TS. Mortimer J. Adler: Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2004).

Tuyên ngôn độc lập của VN tiến bộ hơn Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ

Lady Borton là một nhà văn, học giả người Mỹ có những tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, về Việt Nam có giá trị. Đặc biệt, những trang viết của bà liên quan đến Hồ Chí Minh rất lý thú.

Dưới đây là bài báo nói đến cuộc đối thoại giữa nhà văn Sơn Tùng với Lady Borton. Trong bài Lady Borton đã phân tích một số điểm khác nhau rất thú vị trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam và của nước Mỹ.

Nhà văn Sơn Tùng và Lady Borton

Tại Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX” diễn ra từ ngày 19-21/9/2000 tại Hội trường Ba Đình, bà Lady Borton, nhà văn hóa, nhà báo Hoa Kỳ, nói tiếng Việt Nam như người Việt phát biểu: “Các nhà sử học Mỹ vẫn sai lầm ở chỗ họ nghĩ rằng Hồ Chí Minh trực tiếp trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ. Ông không hề trích dẫn. Trái lại, Hồ Chí Minh đã sửa đổi tài liệu đó để khẳng định cách nhìn của ông, BTV bôi đen”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ viết: “We hold these truths to be self evident, that all, men are created equal… (emphasis) (Chúng tôi coi đây là những chân lý hiển nhiên rằng mọi đàn ông sinh ra đều bình đẳng”.

Nhưng bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh bắt đầu bằng “Tất cả mọi người (tôi gạch dưới) đều sinh ra có quyền bình đẳng”- All people (emphasis) are created equal”.

Cách chọn chữ của Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi “Hỡi đồng bào cả nước” rõ ràng đã nói lên cái ý không thể đơn giản dịch nó ra tiếng Anh được. “Hỡi” có nghĩa như “thân mến” và “cả nước” có nghĩa như “toàn bộ đất nước”.

Cách chọn chữ rất hay của ông Hồ là “đồng bào”. “Bào” có nghĩa là “cái bọc” như trong “bọc trứng”. Nó khiến ta liên tưởng đến huyền thoại gốc gác của Việt Nam, mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng, nở ra năm mươi người lên ở miền núi và năm mươi người xuống đồng bằng. “Đồng” có nghĩa là rất nhiều. Do đó, “đồng bào” có nghĩa là “rất nhiều người được sinh ra trong cùng một bọc trứng”, hoặc nghĩa là “những người thân thích”.

Tuyên ngôn Độc lập của ông Hồ còn bao hàm ngôn ngữ tổng hợp nữa: “Dân” (“people” “common people”, “nhân dân” (“citzens”) và dân tộc (“nation”, “the people”. Từ ngữ Việt Nam để chỉ “con người” (“men”) không hề xuất hiện ở đây.

Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ viết năm 1776 và bản “Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam viết năm 1945 đều nổi tiếng” rằng họ (“con người” trong văn bản Mỹ) được tạo hóa trao cho những quyền bất khả xâm phạm, trong những quyền đó có quyền được Sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Rất có ý nghĩa ở chỗ bản trước đây của Mỹ, trái lại đã viết: “Sống tự do và mưu cầu sở hữu John Hancock, người đầu tiên ký vào bản đó bằng một chữ rất oai, ông ta là người giàu có nhất bang Massachusetts. Các chữ ký sau là của những người giàu có “sở hữu” của họ ở đây bao gồm nô lệ”.

Tôi rất cảm phục và trân trọng nhà văn Mỹ, Lady Borton về những phát hiện tầm lớn khác nhau trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ và năm 1945 của Việt Nam. Bà vẫn đang tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Trong một buổi làm việc ở nhà tôi, nhà văn Lady Borton có một so sánh rất thú vị: “Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 thì ngày 6/1/1946 tất cả mọi người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ, tôn giáo, giàu nghèo… đều được đi bỏ phiếu bầu Quốc hội. Còn ở Mỹ, Tuyên ngôn Độc lập năm 1776, phải đến năm 1870 những người Mỹ da màu mới được quyền đi bầu, người phụ nữ phải đến năm 1923 mới có “tu chính án về nam nữ bình đẳng”.

Tôi nói với bà, từ ngày còn ở trên rừng, Hồ Chí Minh của chúng tôi đã đặt viên đá “Quan hệ Việt-Mỹ”. Sau khi Người đọc “Tuyên Ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần tuyên bố: “Sẵn sàng làm bạn với các nước trên toàn thế giới”.

Đối với Hoa Kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt mối bang giao vào hàng đầu và kiên trì, ví như ngày 30/8/1945 Chủ tịch gửi công điện cho Truman-Tổng thống Mỹ mà ông Archimeds LA Ptti đại diện OSS ghi nhận trong sách: “Tại sao Việt Nam” (Why Vietnam) trang 237, bản tiếng Việt xuất bản năm 1995:

“Từ sáng sớm ông Võ Nguyên Giáp đã gửi cho tôi một thư yêu cầu tôi chuyển bức công điện sau đây của ông Hồ gửi Tổng thống Truman: “Để đảm bảo có kết quả cho vấn đề mà Ủy ban Liên tịch các nước đồng minh có nhiệm vụ giải quyết ở Việt Nam, yêu cầu để phái đoàn Mỹ được làm một thành viên của Ủy ban nói trên và đặt quan hệ với Chính phủ chúng tôi…

Chúng tôi yêu cầu cho Chính phủ chúng tôi, chính quyền duy nhất hợp pháp ở Việt Nam và là người duy nhất đã chiến đấu chống Nhật (Sic – hoạt động quân sự do Mặt trận Việt Minh và sỹ quan Mỹ tiến hành) có quyền có đại diện trong Ủy ban đó – Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký thay” (Điện số 37.30.8.1945).

Ngày 22/10/1945, Hồ Chủ tịch – Người kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao gửi tới Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ:

“Thưa ngài, tình hình ở VN đã đến giai đoạn khẩn cấp đòi hỏi sự can thiệp ngay lập tức từ phía Liên hợp quốc. Tôi hy vọng qua lá thư này sẽ gửi tới Ngài một số điều làm sáng tỏ thêm về trường hợp Việt Nam mà trong ba tuần qua đã được sự chú ý của toàn thế giới.

Trước hết, tôi xin được chuyển tới Chính phủ của Ngài một số tư liệu, trong đó có bản Tuyên ngôn Độc lập của chúng tôi, bản công bố của cựu Hoàng đế Bảo Đại vào dịp ông thoái vị, bản tuyên bố của Chính phủ chúng tôi về chính sách đối ngoại và một bức công hàm nêu rõ lập trường của chúng tôi đối với các vấn đề có liên quan tới Việt Nam”.

Cuối tháng 10/1945, Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Hoa (Tàu Tưởng) và 50 quốc gia phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc được thành lập và họp phiên đầu tiên tại Luân Đôn vào đầu tuần tháng Giêng năm 1946, công bố Hiến chương Liên hợp quốc với những lời mở đầu mỹ miều:

“Chúng ta, các dân tộc thuộc Liên hợp quốc, quyết tâm tránh cho những thế hệ kế tiếp khỏi sự đau khổ của chiến tranh mà đã hai lần gây ra nỗi thống khổ không kể xiết cho nhân loại và khẳng định lại sự thật về những quyền cơ bản của con người, về phẩm giá và giá trị con người, về quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa các quốc gia lớn và nhỏ và đưa ra điều kiện có thể duy trì các hiệp ước, các điều luật quốc tế”.

Hồ chủ tịch đâu có “cả tin” vào cái mỹ miều văn chương trong hiến chương ấy và các nước lớn đầy tham vọng thực dân. Nhưng dù sao cũng có cái văn bản pháp lý quốc tế thì tranh thủ khi còn tranh thủ được… Cho nên, Người đã ký ngay một công điện tới Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Và Rằm tháng Giêng, Nguyên tiêu, tức ngày 16/2/1946, Người gửi cho Tổng thống Mỹ:

“Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Hà Nội. Gửi Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Oasinhton.D.C.

Ngài Tổng thống kính mến. Nhân dịp này tôi xin được cảm ơn Ngài cùng nhân dân Hoa Kỳ về sự quan tâm, có lợi ích cho các dân tộc thuộc địa mà các đại diện của Ngài tại tổ chức Liên hợp quốc đã bày tỏ… mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”…

Tôi trích lục một vài dấu ấn lịch sử ấy với người bạn Mỹ Quaker, nhà văn Lady Borton đang hiện diện bên bàn viết của tôi. Như để bày tỏ sự tương đắc, bà Lady Borton trao vào tay tôi cuốn sách bà viết After sorrow đã dịch ra tiếng Việt (“Tiếp sau nỗi buồn”).

Tôi nói với Lady Borton – thật đáng buồn: Niềm khát vọng “độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ… làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng tôi sáng ngời, mà tham vọng của đế quốc Mỹ lại phủ đen nửa thế kỷ 20.

Bà là nhà văn, nhà báo, nhà nghệ sỹ nhiếp ảnh, tôi tin chắc bà nhớ kỹ cái điều được in chữ nghiêng trên tờ Thời báo New York ngày 12/12/1950: “Đông Dương là một miếng mồi đáng cho chúng ta đánh một canh bạc to”.

Từ bấy trở đi, trải qua mấy đời Tổng thống: Aixenhao, Kennơđi và nhất là Tổng thống Giônxơn, Nichxơn đã mở ra những canh bạc máu với nhân dân Việt Nam… và đã chuốc lấy thất bại ê chề trước khát vọng độc lập tự do của người Việt Nam như kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”.

Hà Nội, ngày 17-9/2019

(https://www.baogiaothong.vn/hoc-gia-mytuyen-ngon-doc-lap-viet-nam-tien-bo-hon-tuyen-ngon-my-d223126.html)

TRIẾT LÝ GIÁO DỤC HỒ CHÍ MINH

Có một thời (khoảng 10 năm đầu thế kỷ XXI) ở nước ta rộ lên bàn thảo về triết lý giáo dục, giờ thì chủ đề này lắng xuống. Trong nhiều ý kiến bàn thảo, tôi thấy bài viết của GS. Song Thành nói đến triết lý của cụ Hồ về giáo dục rất hay. Nay xin trích đăng lại để bạn đọc tham khảo…

II. Có một triết lý giáo dục Hồ Chí Minh, như một kho báu đang tiềm ẩn

Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình khoa bảng, có truyền thống hiếu học, từ nhỏ đã say mê học tập, khao khát tìm tòi cái mới, cái tiến bộ. Chịu ảnh hưởng của Phan Chu Trinh và các “tân thư” thời bấy giờ, Người đã “ngộ” ra rằng muốn cứu nước, phải nâng cao dân trí cho dân tộc, trước hết là cho thanh thiếu niên; vì vậy, từ rất sớm, đã nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục.

Những bài báo đầu tiên được viết trên đất Pháp nói chung đều xoay quanh chủ đề này: tố cáo chính sách ngu dân của chính quyền thuộc địa, truyền bá những quan điểm giáo dục tiên tiến, kêu gọi, thức tỉnh thanh niên trong nước,… Đến khi lựa chọn được con đường cách mạng, Người đã quyết tâm trở về, “đi vào quần chúng thức tỉnh họ, tổ chức họ, rèn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh”.

Từ những lớp huấn luyện chính trị đầu tiên ở Quảng Châu, các lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh ở biên giới Việt-Trung trước cách mạng, cho đến các lớp học tập, nghiên cứu lý luận cho cán bộ trung cao cấp và trí thức sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn hiện thân như là một người thầy mẫu mực, kiên trì, cần mẫn vun đắp cho sự nghiệp “trồng người”; qua đó đã đào tạo nên bao thế hệ cán bộ-chiến sĩ trung thành, sáng suốt, và họ đã cùng với Người đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành một dân tộc tự do, độc lập, từng bước sánh vai, mở mặt với năm châu.

Trên ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh không phải chỉ là “anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất” mà còn là một nhà giáo dục vĩ đại đã khai sáng cho cả một dân tộc.

Trên cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước VN mới, Người thường xuyên chăm lo xây dựng nền GD của nước nhà: đi thăm các lớp học xóa mù chữ, các lớp bổ túc văn hóa buổi tối, thăm các trường từ mẫu giáo, phổ thông, chuyên nghiệp đến các trường đại học, đến thăm và nói chuyện với các lớp bồi dưỡng, tập huấn của giáo viên các cấp; viết thư, thăm hỏi, tặng huy hiệu cho các nhân sĩ, trí thức, các thầy cô giáo có thành tích,…

Đến đâu, Người cũng ân cần đưa ra những lời khuyên, lời chỉ giáo thiết thực, sâu sắc, thấm thía, bổ ích cho việc dạy và học. Trên thế giới, hiếm có tấm gương nào của một lãnh tụ chính trị hàng đầu, trong hoàn cảnh chiến tranh và cách mạng khẩn trương, vẫn dành cho giáo dục một sự quan tâm ưu ái đến như vậy.

Thành công của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giáo dục-đào tạo chính là thể hiện sự thành công của một triết lý giáo dục cách mạng đúng đắn, có giá trị lý luận và thực tiễn cao, không phải chỉ trong quá khứ mà vẫn đang giữ nguyên tính cập nhật ở thời đại kinh tế tri thức và xã hội thông tin hiện nay.

Ở đây, người viết không có ý định nghiên cứu trên bình diện lý luận toàn bộ tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh mà chỉ bước đầu hệ thống lại những câu nói, những mệnh đề chứa đựng những quan điểm cơ bản nhất có quan hệ đến mục tiêu, nguyên lý, phương châm giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học, … nhằm khẳng định:

Có một triết lý giáo dục Hồ Chí Minh như một kho báu, đang tiềm ẩn những giá trị mà chúng ta không được lãng quên, cần ra sức khai thác, vận dụng quán triệt trên con đường tìm kiếm một triết lý giáo dục hiện đại, tiếp thu tinh hoa thế giới nhưng sao cho phù hợp với truyền thống dân tộc mà không quá cao, quá xa so với điều kiện thực tế về kinh tế-chính trị-xã hội của Việt Nam ở thời kỳ hiện nay.

1. Về vai trò nền tảng và sứ mệnh trọng đại của giáo dục

Hồ Chí Minh thường không nói những lời to tát, nói giản dị mà thấm thía:

– Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.
– Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.

– Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta,… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.

– Dốt nát cũng là kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm… Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch.

– Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang…Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế-văn hóa. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu. Tuy không có gì đột xuất, nhưng rất vẻ vang. Không có tượng đồng bia đá, không có gì là oanh liệt, nhưng làm tròn nhiệm vụ là anh hùng…

– Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người, v.v..

Phải đến thập niên 90 của thế kỷ XX, tư tưởng này của Hồ Chí Minh mới được thế giới bàn đến. Hội nghị quốc tế về “giáo dục cho mọi người”, họp vào tháng 3-1990, mới khẳng định: “Sự suy đồi về dân trí không tránh khỏi dẫn tới sự suy đồi về kinh tế-xã hội”. Năm 1994, UNESCO đưa ra tuyên bố: “Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó”.

Năm 1996, khi UNESCO đưa ra 3 nội dung cho “Triết lý giáo dục thế kỷ XXI”, trong đó điều đầu tiên là “Phải coi giáo dục là giải pháp hàng đầu để giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội của một quốc gia cũng như của mỗi cá nhân”, thì tư tưởng này đã được Hồ Chí Minh sớm đề cập đến từ cuối những năm 40, giữa những năm 50 của thế kỷ trước.

2. Về mục tiêu của nền giáo dục dân chủ mới

– Một nền giáo dục của một nước độc lập… sẽ đào tạo các em nên những người hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em.

– Cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai. Quyết không chịu làm nô lệ.

– Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân phong kiến khác hẳn nhau. Bây giờ phải học để: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức…Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giầu, nước mạnh.

– Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, lao động và sản xuất”.

– Học để làm việc, làm người, làm cán bộ.

Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải: Cần, kiệm, liêm, chính, Chí công, vô tư.

“Triết lý giáo dục thế kỷ XXI” của UNESCO đưa ra năm 1996, đã nêu lên bốn mục tiêu: “Học để biết- Learning to know (sau đổi lại là học để biết cách học-Learning to learn ), Học để làm-Learning to do, Học để cùng chung sống-Learning to live together, và Học để làm người-Learning to be (sau đổi lại là học để sáng tạo: Learning to create).

Hồ Chí Minh khi ghi vào sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc TƯ năm 1949, cũng đề ra ba mục tiêu, thì đã có hai điều phù hợp với tư duy giáo dục thế kỷ XXI: học để làm việc, học để làm người.

3. Về phương châm, phương pháp dạy và học
– Trong trường học, các thầy nên thi nhau tìm cách dạy sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, nhanh chóng và thiết thực.
– (Trong hoàn cảnh kháng chiến) Chúng ta phải sửa đổi cách dạy cho phù hợp với sự đào tạo nhân tài kháng chiến và kiến quốc.
– Giáo dục nhi đồng là một khoa học. các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước.
– Nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc.
– Về học tập và giảng dạy, phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi sọ. Chương trình dạy học hiện nay còn có chỗ quá nhiều, quá nặng.
– Phương pháp giáo dục thì theo nguyên tắc tự nguyện tự giác, giải thích, bàn bạc, thuyết phục, chứ không gò bó.
– Các cháu không nên học gạo, không nên học vẹt…Học phải suy nghĩ, phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau.
– Di chúc: Sau kháng chiến thắng lợi, phải: Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân.
Đặc biệt, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan niệm rất mới, rất hiện đại về cách học. Người yêu cầu:
– Trước hết, phải biết tự giác, tự động học tập. Người nói: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt, do thảo luận và chỉ đạo góp vào”.

Như vậy, trên thực tế, Hồ Chí Minh đã chủ trương phải bắt đầu từ người học, “phải lấy người học làm trung tâm”, nghĩa là người học (học viên, học sinh) phải biết tự giác, tự động học tập và nghiên cứu – lấy đó làm cốt; sau đó tiến hành thảo luận tập thể (xêmina) rồi kết hợp với bổ sung, nâng cao thêm của giảng viên mà hoàn thiện nhận thức của mình. Đây là cách học phổ biến đang được áp dụng ở nhiều trường trên thế giới, càng lên cao, càng phải triệt để vận dụng cách học 3 khâu này.

– Hai là, Người nhấn mạnh: “ Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ.

Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi: “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều” . Tức là Người đòi hỏi phải chống kinh viện, giáo điều, phải rèn luyện tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khuyến khích tự do tư tưởng. Người nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”.

– Ba là, Người đề ra yêu cầu: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi” . Trong thư gửi “Quân nhân học báo” tháng 4-1949, Người đã viết:
“Học không bao giờ cùng
Học mãi để tiến bộ mãi
Càng tiến bộ, càng thấy phải học thêm”.

Người nói với các thầy giáo: “Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện…Người huấn luyện nào tự cho mình đã biết cả rồi thì người đó dốt nhất” . Nhắc nhở người khác đồng thời với nêu gương tự học của bản thân: “Tôi năm nay đã 71 tuổi, ngày nào cũng phải học… Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”.

Triết lý giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO đến năm 1996 mới đề ra khẩu hiệu “Học suốt đời” (Life long learning). Như vậy Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm “học suốt đời” sớm hơn UNESCO hàng mấy chục năm.

So sánh như vậy chỉ nhằm khẳng định: nhiều nội dung trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh vẫn đang rất cập nhật, rất hiện đại. Có đặt tư duy của Cụ vào thời chiến tranh lạnh, thời còn đối đầu ý thức hệ giữa 2 phe, chưa phải thời của công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, hội nhập, hợp tác cùng phát triển như hiện nay, mới thấy triết lý giáo dục của Hồ Chí Minh đã đi trước thời đại khá xa.

Hiện nay, để tư duy lại và thiết kế thành công một triết lý giáo dục mới, đáp ứng được đòi hỏi của giáo dục nước nhà trong thời đại mới, tất nhiên chúng ta phải ra sức học hỏi, tiếp thu tinh hoa giáo dục của loài người.

Tuy nhiên, sự học hỏi nào, muốn đạt hiệu quả mong muốn, cũng không được thoát ly truyền thống văn hóa dân tộc và hiện tình của đất nước, tức là bên cạnh cái chung của thế giới, vẫn có cái riêng của Việt Nam.

Triết lý giáo dục HCM chính là sự kết nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa Việt Nam và thế giới, giữa định hướng xã hội chủ nghĩa với những giá trị phổ quát của nhân loại.

Triết lý giáo dục là chuyện quốc gia đại sự – là cương lĩnh của một ngành giữ vai trò nền tảng của quốc gia, sự thành công hay thất bại của nó liên quan đến vận mệnh của đất nước, đến tương lai của nhiều thế hệ mai sau, do đó không thể “khoán trắng” cho Bộ giáo dục – đào tạo, hay cho một đề tài nghiên cứu của một nhóm người nào.

Đã coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu” thì cả Đảng, Nhà nước, Quốc hội, trước hết là những nhà lãnh đạo chủ chốt, phải quan tâm, lo lắng, phải bức xúc về chuyện này, như trước đây, Bác Hồ và các cộng sự của Người như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,… hằng quan tâm chỉ đạo sát sao đối với giáo dục.

Trong tình hình hiện nay, nên chăng chúng ta cần thành lập một Hội đồng Cố vấn Quốc gia Giáo dục, như Hội đồng cố vấn học chính năm 1945 mà Bác Hồ đã thiết lập, độ chừng 30 thành viên, gồm những nhân vật tiêu biểu nhất cho trí tuệ của văn hóa – giáo dục Việt Nam hiện thời, trong đó có Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, nhưng không thuộc Bộ, mà trực thuộc Chính phủ, làm chức năng cố vấn cho Chính phủ trong việc nghiên cứu, tham mưu giải quyết những vần đề bức xúc đang đặt ra cho giáo dục Việt Nam. Thời gian tồn tại của Hội đồng có thể từ 1 đến 2 năm rồi giải thể sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ.

Giáo dục Việt Nam đang trong tình trạng khủng hoảng, lối ra cho nó không phải là vạch ra chiến lược này hay chiến lược nọ, đổi mới bộ phận này hay bộ phận kia khi cả con tàu giáo dục của chúng ta chưa có la bàn định hướng thật rõ ràng, nhất quán.

Vấn đề cấp bách trước nhất hiện nay là phải sớm tư duy lại, thiết kế gấp một triết lý mới cho giáo dục Việt Nam, nếu cứ để tình trạng trì trệ, lệch hướng của giáo dục kéo dài như hiện nay thì khó tránh khỏi rơi vào nguy cơ mà tổ chức UNESCO đã cảnh báo từ năm 1994, rằng “những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản”./.

GS. SONG THÀNH (4-2014)

VAI TRÒ CỦA NAQ TRONG HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐCSVN

TS. BÙI HỒNG VẠN

Sự kiện thống nhất ba tổ chức cộng sản để hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) là một sự kiện lớn đối với với Đảng và dân tộc ta. Trong Hội nghị thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc (NAQ) – Hồ Chí Minh (HCM) đã đóng một vai trò quan trọng. Ông vừa là người với danh nghĩa đại diện cho Quốc tế cộng sản (QTCS) đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất, lại vừa là người chuẩn bị Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Theo một số tài liệu biên soạn trong thời kỳ đổi mới thì NAQ là người chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị, chứ không phải, như các tài liệu trước đây trình bày, là “theo chỉ thị của QTCS”, hoặc “được sự uỷ nhiệm của QTCS”.

Vấn đề này cụ thể như sau: Tháng 7-1928, nhận chỉ thị của QTCS, NAQ đến Xiêm (Thái Lan) hoạt động trong cộng đồng Việt kiều. Trong thời gian này Người đã hai lần tìm cách trở về Việt Nam hoạt động; nhưng do mật thám và cảnh sát ở biên giới canh phòng hết sức nghiêm ngặt nên đều phải quay lại Xiêm.

Giữa lúc đang cố gắng để trở về Việt Nam lần thứ ba thì có một đồng chí ở Hồng Kông đến báo tin cho Người biết Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã phân liệt, dẫn đến sự ra đời của Đông Dương cộng sản Đảng (6-1929) và An Nam cộng sản Đảng (8-1929). Hai đảng đó hoạt động riêng rẽ, tranh giành quần chúng và phê phán nhau có tính biệt phái.

Trước tình hình đó, NAQ rời Xiêm (11-1929) trở lại Trung Quốc để thực hiện nhiệm vụ thống nhất các tổ chức cộng sản. Cùng thời gian này (12-1929), QTCS cũng ra Nghị quyết về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương.

Trong nghị quyết nêu rõ cần phải “chấm dứt chủ nghĩa biệt phái…, tập hợp lại hết thẩy những gì ưu tú nhất, cách mạng và tích cực trong tất cả các nhóm, trên cở sở một cương lĩnh hành động rõ ràng. Đây là nhiệm vụ trung tâm, là nghĩa vụ của tất cả mọi người cộng sản Đông Dương”. Nghị quyết trên chưa đến với những người cộng sản Đông Dương và chính NAQ – HCM cũng chưa biết có nghị quyết đó[1].

Nhưng với trọng trách lịch sử của mình, Người đã khẩn trương rời Xiêm đi Trung Quốc triệu tập đại biểu của Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng để bàn việc hợp nhất đảng.

Trong Hội nghị này, thay mặt QTCS, NAQ tuyên bố lý do triệu tập Hội nghị và nêu chương trình nghị sự, bao gồm: “1. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương; 2. Định tên Đảng là ĐCSVN; 3. Thảo luận Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng; 4. Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước; 5. Cử một Ban Trung ương lâm thời gồm chín người”[2].

Tất cả các đại biểu đã tán thành đề nghị hợp lý, hợp tình của lãnh tụ NAQ về việc hợp nhất Đảng và đã tiến hành tự phê bình và phê bình về những khuyết điểm của nhau, đều hứa xoá bỏ thành kiến cũ. Nhưng khi thảo luận đến vấn đề đặt tên Đảng thì các đại biểu còn có ý kiến khác nhau…

Sau khi nghe những lời phân tích có lý, có tình đầy sức thuyết phục của NAQ thì các đại biểu đã hoàn toàn nhất trí đặt tên cho đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng do NAQ dự thảo. Chính cương vắt tắt vạch rõ tính chất, nhiệm vụ, đối tượng của cách mạng Việt Nam, xác định chủ trương của những người cộng sản là làm “tư sản dân quyền cách mạng” và thổ địa cách mạng để “đi tới xã hội cộng sản”.

Nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ chủ nghĩa thực dân Pháp và bọn phong kiến phản động, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo, quốc hữu hoá tất cả xí nghiệp của bọn tư bản đế quốc, lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông, v.v…

Còn Sách lược vắn tắt thì nêu rõ: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”;

“Đảng phải hết sức liên hệ lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để kéo họ đi về phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng… thì phải đánh đổ”.

Sách lược cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc hợp tác giai cấp của Đảng là “trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường lối thoả hiệp”. Sách lược vắn tắt còn chỉ rõ: Đảng “phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”[3].

Điều lệ vắn tắt của Đảng nêu rõ tôn chỉ, mục đích của Đảng là lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh tiêu diệt tư bản đế quốc, thực hiện xã hội cộng sản; quy định thể thức ra nhập Đảng; vạch rõ nhiệm vụ, quyền lợi của Đảng viên và kỷ luật của Đảng, v.v…

Hội nghị hợp nhất cũng đã thảo luận và quyết định các phương châm và kế hoạch tiến hành hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, về cách thức cử ra Ban Trung ương lâm thời…

Sau Hội nghị, ngày 16/2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt QTCS và ĐCSVN thảo Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột nhân dịp ĐCSVN thành lập.

Lời kêu gọi nêu rõ: “ĐCSVN đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để:

  1. Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng.
  2. Làm cho nước An Nam được độc lập.
  3. Thành lập chính phủ công nông binh.
  4. Tịch thu tất cả các nhà băng và cơ sở sản xuất của đế quốc trao cho Chính phủ công nông binh.
  5. Quốc hữu hoá toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quốc và địa chủ phản cách mạng An Nam chia cho nông dân nghèo.
  6. Thực hiện ngày làm 8 giờ.
  7. Huỷ bỏ mọi thứ quốc trái và thuế thân, miễn các thứ thuế cho nông dân nghèo.
  8. Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân.
  9. Thực hành giáo dục toàn dân.
  10. Thực hiện nam nữ bình quyền”[4].

Như vậy có thể nói, Lời kêu gọi là một trong những văn kiện quan trọng của Hội nghị hợp nhất. Nó xác định rõ đường lối, mục tiêu, phương hướng của cách mạng Việt Nam trước mắt và lâu dài.

Khi đánh giá về sự kiện thành lập Đảng, sách “Hồ Chí Minh, tiểu sử” do PGS Song Thành chủ biên viết: “Hội nghị hợp nhất thành công tốt đẹp. Thành công này gắn liền với tên tuổi, trí tuệ, uy tín và đạo đức cách mạng của NAQ. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng. Thành quả lớn nhất của Hội nghị là đã quy tụ được toàn bộ phong trào công nhân và phong trào yêu nước dưới ngọn cờ của một Đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam. ĐCSVN ra đời là một bước ngoặt trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Nó là nhân tố đầu tiên, quyết định đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”[5].

Tuy nhiên đây là sự đánh giá sau này, còn sau khi thành lập Đảng được khoảng 8 tháng, sự kiện này đã không được nhìn nhận như vậy.

Vào tháng 10-1930, dưới sự chỉ đạo của QTCS, đồng chí Trần Phú về nước triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất. Do những hạn chế về nhận thức và trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi khuynh hướng “tả” của QTCS, nên Hội nghị này dưới sự chủ trì của Trần Phú đã phê phán gay gắt về những điều “gọi là sai lầm của NAQ” trong Hội nghị hợp nhất[6].

Hội nghị tháng 10-1930 và sau đó là bản Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương, của Hồng Thế Công, tức Hà Huy viết (1933) đã cho rằng Cương lĩnh chính trị đầu tiên do NAQ soạn thảo có “sai lầm”, “chỉ lo đến việc phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu”, “ấy là một sự rất nguy hiểm”. Trên cơ sở đó, Hội nghị đã quyết định “thủ tiêu Chánh cương, Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng”[7].

Đã có nhiều sách, công trình nghiên cứu cho rằng, Hội nghị hợp nhất đã thông qua Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt; nhưng cách mạng ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có một cương lĩnh đầy đủ hơn, nên Hội nghị lần thứ nhất BCHTW Đảng đã thông qua bản Luận cương chính trị tháng 10-1930 và đi đến kết luận – Luận cương chính trị tháng 10-1930 đã “phát triển” Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Thậm chí có ý kiến nhận định, Chính cương và Sách lược của Hội nghị thành lập Đảng là một “đề cương”, còn Luận cương tháng 10-1930 là một văn bản “hoàn chỉnh”. Thực tế qua phân tích “Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị tháng 10-1930” chúng ta sẽ thấy: Luận cương chính trị tháng 10-1930 không phải là sự kế thừa và phát triển, mà là một sự thay đổi so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Theo PGS.TS Vũ Quang Hiển thì trên thực tế, Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương chưa được Hội nghị tháng 10-1930 thông qua, mà chỉ được công bố như một “Dự án để thảo luận trong Đảng”[8]. Tuy nhiên, ngay sau đó, cao trào cách mạng 1930-1931 bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, toàn bộ BCHTW Đảng bị bắt, và Luận cương đã tiếp tục được lưu hành như một Cương lĩnh chính thức (!).

Về sau, một số thành tựu nghiên cứu mới được công bố đã khẳng định vai trò vô cùng to lớn của NAQ không chỉ đối với sự kiện đang bàn mà còn trong cả tiến trình cách mạng Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu và chính khách trên thế giới đã đánh giá NAQ-HCM rất cao qua sự kiện thành lập Đảng. Gớt-Hơn, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ đã đánh giá: “Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử, với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy mà đồng chí đã làm ra lịch sử”[9].

Chú thích:

[1] – PGS Lê Mậu Hãn: “Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên một học thuyết cách mạng, sáng tạo với một quyết định lịch sử của Hồ Chí Minh” trong sách: Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2006-2011), Nxb Thế giới, 2011, tr.637.

[2] – Dẫn theo GS Song Thành: Hồ Chí Minh, Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.229-230.

[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Xuất bản lần thứ ba, 3, 1930-1945, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.3.

[4]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Xuất bản lần thứ ba, 3, 1930-1945, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.22.

[5] – GS Song Thành: Hồ Chí Minh, Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.234-235.

[6] – PGS Lê Mậu Hãn: “Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên một học thuyết cách mạng, sáng tạo với một quyết định lịch sử của Hồ Chí Minh” trong Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Khoa Lịch sử: Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2006-2011), Nxb Thế giới, 2011, tr.640.

[7] – Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, 1998, tr.112-113.

[8] – PGS.TS Vũ Quang Hiển: “So sánh nguồn sử liệu trong nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” trong sách Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, Nxb Thế giới, 2012, tr. 439.

[9] – Gớt-Hôn: “Một lãnh tụ ở bước ngoặt lịch sử”, trong sách Hồ Chí Minh – Một người châu Á của mọi thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.196.

HỒ CHÍ MINH VỚI HAI CHỮ “ĐỒNG BÀO”

1. Hai chữ đồng bào được Hồ Chí Minh (HCM) sử dụng rất nhiều lần trong trước tác Người. Chúng tôi thống kê được trong bộ HCM toàn tập (2011) có tới 2.187 lần HCM sử dụng hai chữ này[1]… Một hiện tượng đáng quan tâm – suy ngẫm.

Trong sách Lĩnh Nam trích quái có chép câu chuyện – truyền thuyết “Trăm trứng nở trăm con” của cặp vợ chồng Lạc Long Quân và Âu Cơ thuở khai sinh lập địa. Theo truyền thuyết 100 người con trai sinh ra lớn lên rồi tách 50 người theo mẹ lên rừng núi, 50 người xuống miền biển theo cha. Về sau hình thành cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên mảnh đất hình chữ S này.

Hai chữ đồng bào xuất hiện khi nào là câu hỏi bài này chưa thể trả lời được. Nhưng chắc chắn hai chữ đồng bào muộn nhất cũng đã xuất hiện và ngày càng phổ biến vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong mấy câu thơ tỏ bày tâm sự của cụ Phan Thanh Giản đã nói đến hai chữ “đồng bào”[2]:

 Từ ngày đi sứ tới Tây Kinh

         Thấy việc Âu Tây phải giật mình

        Kêu gọi đồng bào mau kịp bước

Hết lời năn nỉ chẳng tin ai.

Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch có viết: Năm 1907, lần đầu tiên nông dân các tỉnh Trung Bộ nổi dậy chống thuế. Họ đi tay không, không có khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”[3].

Đọc các sách, báo của những nhà yêu nước, các bậc chí sĩ thời kỳ đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… thấy các cụ dùng chữ “đồng bào” để hô hào, cổ suý quần chúng nhân dân ta trong các phong trào yêu nước, canh tân, vận động giải phóng dân tộc.

Giải thích nôm na thì đồng bào là “cùng một bọc”; còn theo Đại từ điển tiếng Việt thì “đồng bào” là: “1. Những người cùng một giống nòi dân tộc, cùng trong một đất nước…; 2. Nhân dân nói chung, không phải quân đội hay cán bộ”[4].

2. Lần theo bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, ta thấy lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc – HCM dùng chữ “đồng bào” trong “Thư gửi cụ Phan Chu Trinh”[5]; và lần cuối cùng Người dùng hai chữ này khi trả lời nữ nhà báo Cu-Ba (14-7-1969) trong bài “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”[6]. Có tới 5 lần HCM dùng chữ đồng bào trong cuộc trò chuyện.

HCM rất “ưa dùng” hai chữ đồng bào trong các diễn ngôn của mình. Việc sử dụng nhiều lần một số từ ngữ nào đó phản ánh “sức nặng” của những từ ngữ đó đối với người dùng chúng. Khảo sát sâu hơn ta thấy HCM dùng chữ đồng bào trong nhiều văn phẩm (lời kêu gọi, bài nói, bài viết, thư từ, điện tín). Nhưng Người hay dùng hai chữ này trong các bài mang tính kêu gọi, hiệu triệu hay tuyên truyền.

HCM nhiều lần dùng từ đồng bào trong các văn phẩm nhơ: “Tuyên ngôn độc lập (1945)”, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946)”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” (1969), “Di chúc (1969)”, “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi (1969)”…

Việc sử dụng nhiều lần hai chữ đồng bào trong một số bài nói, viết có tác dụng to lớn đối với hoạt động tuyên truyền của HCM. Ví như khi Người nhiều lần sử dụng hai chữ đồng bào trong bản Tuyên ngôn độc lập. Đặc biệt hơn khi đang đọc Tuyên ngôn thì Người dừng lại và hỏi: “Đồng bào nghe tôi nói rõ không?”. Sức nặng của hai chữ đồng bào lúc đó được nhân lên nhiều lắm! Phàm là người Việt Nam khi nghe hai tiếng đồng bào cũng đều liên tưởng đến cội nguồn của mình… Hai tiếng đồng bào luôn thân thương, trìu mến và sâu lắng trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

3. Đã có lần HCM khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”[7]. Hai tiếng “ĐỒNG BÀO” là một nét đẹp thuộc bản sắc văn hóa Việt, lại mang nặng “tinh thần” HCM. Vì thế nó cần được trân trọng, phát huy trong thời đại mới…


Chú thích:

[1] – Bên cạnh một số từ gần nghĩa khác cũng được HCM sử dụng nhiều là Nhân dân (5.845 lần), Quần chúng (912 lần) và Dân chúng (414 lần).

[2] – Dẫn theo Nguyễn Tùng: “Nho sĩ Việt Nam trước cuộc xâm lược Pháp”, trong sách Lịch sử, sự thật & Sử học, Tạp chí Xưa và Nay, Nxb Hồng Đức, 2013, tr.90.

[3] – Dẫn theo Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Thanh niên, 2009, tr.11.

[4] – Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, 1998, tr.662.

[5] – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Xuất bản lần thứ ba, 1, 1912-1924, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.1.

[6] – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Xuất bản lần thứ ba, 15, 1966-1969, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.674-677.

[7] – Hồ Chí Minh: Nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí, Báo Nhân dân, ngày 9-9-1962.

TS Bùi Hồng Vạn (TMU)

HỒ CHÍ MINH GIÁO DỤC THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM

Giờ đây, chúng ta đã có đủ độ dài lịch sử để nhìn nhận lại về vai trò của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển của đất nước. Bài học rút ra từ những kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới và từ chính bản thân dân tộc ta, đã cho thấy: Muốn phát triển đất nước, muốn đưa dân tộc tiến lên thì không có con đường nào khác là phải chú trọng đến giáo dục – đào tạo con người; trong đó giáo dục – đào tạo thế hệ trẻ là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Bởi tuổi trẻ luôn là mùa Xuân, là tương lai của đất nước.

Hay nói như Hồ Chí Minh: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em[2]”.

Nhân 105 năm năm sinh của Hồ Chí Minh, trong bài viết nhỏ này, chúng tôi xin đề cập đến một vài khía cạnh thuộc vấn đề giáo dục thế hệ trẻ của Người.          

1. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục – đào tạo

          Khi nghiên cứu di sản giáo dục – đào tạo mà HCM để lại ta thấy ngay một điều – Người rất quan tâm đến giáo dục – đào tạo. Trong 1500 sự kiện về thân thế, sự nghiệp liên quan đến Người có gần 100 sự kiện đề cập tới giáo dục – đào tạo. Một tỷ lệ không nhỏ: 115, cứ 15 sự kiện thì có 1 sự kiện liên quan đến giáo dục – đào tạo. Nếu chỉ tính từ cách mạng tháng tám 1945 đến năm HCM “ra đi” (1969) thì có tới 73 sự kiện trong hoạt động của Người có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến giáo dục – đào tạo.

          Sự quan tâm của HCM trải dài qua các thời kỳ lịch sử. Ngay từ những năm tháng tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng ở nước ngoài, người đã lo đến việc giáo dục – đào tạo những thanh thiếu niên Việt Nam thành những hạt giống đỏ để phục vụ đất nước sau này[3].

Từ cách mạng tháng Tám trở đi, Người lại càng quan tâm nhiều hơn đến sự nghiệp giáo dục – đào tạo và coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của cách mạng nước ta. Người nói: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Điều này còn được thể hiện trong hàng loạt các bức điện, thư, trong nhiều hội nghị và các cuộc viếng thăm của Người. Người đã kịp khích lệ những nơi làm tốt và phê bình, uốn nắn những lệch lạc ở những nơi chưa làm tốt công tác này.

HCM không phải chỉ quan tâm đến một vài khía cạnh trong giáo dục – đào tạo mà quan tâm đến tất cả các mặt của công tác này. Từ xoá mù chữ đến tổ chức hệ thống trường học từ phổ thông lên cao đẳng, đại học, dạy nghề. Đối tượng giáo dục được quan tâm rộng khắp. Từ các cháu thanh thiếu niên đến những người đã có tuổi, không phân biệt nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng. Từ mục tiêu, chương trình, kế hoạch đến quan điểm, phương châm, phương pháp giáo dục – đào tạo.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng công tác “xoá mù”

Gần một thế kỷ, dân ta phải sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nên chịu hậu quả nặng nề về văn hoá giáo dục – 95% dân chúng mù chữ. Đó là điều tối kỵ cho bất kỳ một quốc gia nào muốn mưu cầu phát triển.

Vì vậy sau khi cách mạng thành công, một trong sáu nhiệm vụ cấp bách được Hồ Chí Minh đề ra trong phiên họp đầu tiên của chính phủ mới là “mở chiến dịch chống nạn mù chữ” (ngày 3-9-1945). Sau đó ngày 8-9-1945, Người lại ký Sắc lệnh lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách chống nạn thất học trong cả nước. Tiếp đến ngáy 4-10-1945, trong bức thư “Chống nạn thất học” đăng trên báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm về công tác giáo dục – đào tạo nói chung và công tác “xoá mù” nói riêng.

Người đã chỉ rõ tầm quan trọng của hai vấn đề trên là: “Muốn giữ vững nền độc lập/ Muốn cho dân mạnh nước giàu/ Mọi người dân Việt Nam… phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Người còn chỉ rõ cả phương pháp thực hiện: “Những người đã biết chữ hãy dạy cho người chưa biết chữ”.

Công tác “xoá mù” được triển khai rộng khắp cho mọi đối tượng, mọi lứa tuổi; từ cán bộ, công nhân, nông dân đến các chiến sỹ trong lực lượng vũ trang… Với chiến sỹ, HCM nhấn mạnh: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn mới là quân nhân hoàn toàn”. Muốn biết, theo Người phải thi đua học.

Công tác “xoá mù” được HCM quan tâm rất nhiều. Từ tháng 9-1945 đến năm 1960, Người đã nhắc đi, nhắc lại nhiều lần. Có gần 20 sự kiện liên quan đến xoá mù/100 sự kiện liên quan đến giáo dục – đào tạo nói chung. Trong nhiều năm của cách mạng nước ta, “xoá mù chữ”, phổ cập giáo dục cho nhân dân là vấn đề có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong hoàn cảnh lịch sử dân tộc lúc bấy giờ.

Ngày nay xoá mù chữ trở lại ở nhiều địa phương là việc làm tối cần thiết. Tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành tấm gương sáng cho chúng ta noi theo hiện nay.

3. Quan điểm về giáo dục toàn diện, học phải đi đôi với hành

Trong cuộc đời mình, HCM thường nhắc nhở chúng ta, phải giáo dục – đào tạo con người một cách toàn diện. Phải chú trọng đến bốn mặt: ĐỨC-TRÍ-THỂ-MỸ. Trong bốn mặt đó, có nhiều lần Người nhấn mạnh đến hai chữ: ĐỨC-TRÍ. Người yêu cầu nhà trường XHCN phải đào tạo ra những con người mới, “vừa hồng, vừa chuyên”, phải đào tạo được những con người có cả ĐỨC lẫn TÀI. Theo Người, “có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức không có tài như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”. Đối với khía cạnh “HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH” cũng được HCM coi trọng.

Rất nhiều lần Người nhắc chúng ta phải chú ý: “Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; “Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống của nhân dân”. Người còn khẳng định: Lý luận phải liên hệ với thực tiễn. Vì thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông…

          Nửa thế kỷ, nay nhìn lại một trong những di sản vô giá mà Chủ tịch HCM để lại cho chúng ta. Giáo dục – đào tạo con người trong đó giáo dục – đào tạo thế hệ trẻ rất quan trọng, nay được Đảng, Nhà nước ta xác định là quốc sách. Đầu tư vào giáo dục – đào tạo là một chiến lược cách mạng. Đây không chỉ là sự kế thừa tinh hoa trong tư tưởng về giáo dục – đào tạo của HCM mà còn là những nhận thức mới – một bước phát triển trong quan điểm đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước ta.

Trên nền của sự Đổi mới này, cùng với sự phấn đấu nỗ lực cao, chắc chắn trong tương lai chúng ta sẽ thực hiện được nguyện ước cuối cùng của Người: “Toàn Đảng, Toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam HOÀ BÌNH, THỐNG NHẤT, ĐỘC LẬP, DÂN CHỦ và GIÀU MẠNH”[4].

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh: Những sự kiện, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1987.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1989.


[1] – Bài đăng Sinh viên Việt Nam, Phụ san của TC Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 5-1995.

[2] – Hồ Chí Minh: Những sự kiện, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1987, tr. 88.

[3] – Tiêu biểu là việc Người mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc (1925-1927).

[4] – Đảng Cộng sản Việt Nam: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1989, tr. 38.

MỘT “NAN ĐỀ” TRONG TRIẾT HỌC HEGEL

Xin thưa bạn đọc: trong tiêu đề bài viết tôi dùng chữ “nan đề”, nhưng chưa dám khẳng quyết về tính minh xác của nó! Tôi không phải dân chuyên triết, nên nếu có dùng từ chưa chính xác thì mong các bạn lượng thứ… Chữ “nan đề” tôi dùng với hàm ý vấn đề nan giải, khó giải quyết, vậy thôi!

Chả là cũng khá lâu rồi, tôi có nghe người ta nói tới một câu nổi tiếng được Hegel sử dụng trong “một Lời Tựa khét tiếng!” của ông là câu: Cái gì hợp lý thì cái ấy tồn tại

Tôi (và nhiều người) đã hiểu và ứng dụng câu này theo tinh thần: phàm một sự vật, hiện tượng nào xuất hiện hay tồn tại trong hiện thực khách quan thì nó đều có cơ sở hay có cái lý của nó. Cứ hiểu, cứ tin một cách giản dị như vậy!

Nhưng đến một ngày, khi đọc cuốn “Các nguyên lý của triết học pháp quyền (Grundlinien Der Philosophie Des Rechts)” của G.W.F. Hegel do dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, tôi mới nhận ra mình đã “bé cái lầm”…

Kỳ thực câu mà Hegel nói là thế này: “Cái gì hợp-lý tính thì hiện thực. Và cái gì là hiện thực thì hợp lý tính”… Vậy mà mình cứ đinh ninh câu của ổng như trên…

Đến đây tôi càng thấm thía quy luật “tam sao thất bản” mà khoa Văn bản học vẫn cảnh báo những người hành nghề nghiên cứu – chớ vội tin một câu, một đoạn trích hay lớn hơn là một tài liệu nào đó mà chưa thẩm/giám định kỹ càng…

[P/s: Có lẽ, như Marx nói: “Lục tìm trong sách báo” cũng là một cái thú (như chơi chim, cây cảnh…) đem lại niềm vui cho con người…].

NHỮNG NGHỀ “HOT” THỜI CMCN 4.0

Cách mạng công nghiệp 4.0 (còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư) mới xuất hiện trong gần thập niên nay đã và sẽ tạo ra những thay đổi to lớn về kinh tế-xã hội trên phạm vi toàn cầu.

Nhiều ngành nghề truyền thống suy giảm, thậm chí còn bị xóa sổ; nhưng sẽ có nhiều ngành nghề ổn định, phát triển và xuất hiện thêm những ngành nghề mới. Các ngành nghề này sẽ tạo ra công ăn, việc làm, đem lại nguồn thu nhập tốt cho người lao động.

Bài viết giới thiệu khái quát về sự xuất hiện, đặc điểm cơ bản của CMCN 4.0 và đề cập đến những ngành nghề “hot” đem lại nguồn thu nhập tốt cho người lao động trong bối cảnh mới.

1. Vài nét khái quát về cách mạng công nghiệp 4.0

1.1. Tính đến thập niên đầu thế kỷ XXI, nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp. Trong đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất kéo dài từ năm 1760 đến 1840 có đặc điểm chính là việc phát minh ra máy hơi nước và xây dựng hệ thống giao thông đường sắt, từ đây mở đường cho sản xuất bằng máy móc cơ khí.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đã mở ra cơ hội cho việc sản xuất hàng loạt nhờ sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp. Cuộc cách công nghiệp lần thứ ba bắt đầu vào những năm 1960. Nó thường được gọi là cách mạng máy tính hoặc cách mạng số bởi đặc điểm của nó là sự phát triển của linh kiện bán dẫn, máy tính chủ (vào thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970-1980) và internet (thập niên 1990).

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) xuất hiện từ đầu thế kỷ XXI trên nền tảng của cuộc cách mạng số. Đặc trưng của cuộc cách mạng này là internet di động phổ biến ở khắp mọi nơi, là những thiết bị cảm ứng hơn, mạnh hơn nhưng rẻ hơn, cùng với trí tuệ nhân tạo và máy tự học[2].

Theo Klaus Schawab, vào năm 2011, tại Hội chợ triễn lãm công nghệ tại Hanover (Đức) lần đầu tiên người ta nói đến thuật ngữ “công nghiệp 4.0”. Chính phủ Đức đã đưa thuật ngữ này vào “Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao” của mình năm 2012. Đức chính là nước đầu tiên có sự nhận diện và xây dựng chiến lược phát triển dựa trên cơ sở tận dụng những ưu thế của cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại. Sau Đức, nhiều quốc gia khác cũng bắt đầu dành sự quan tâm đến cuộc cách mạng công nghiệp này.

Trong ba ngày 20-23 tháng 1 năm 2016, ở Thụy Sỹ, Diễn đàn kinh tế thế giới đã tổ chức cuộc hội thảo về CMCN 4.0. Hội nghị này có 2.500 đại biểu tham dự đến từ hơn 100 quốc gia. Tại hội nghị người ta đã thảo luận và dự báo những thay đổi về công nghiệp trong tương lai, những đột phá của CMCN 4.0 sẽ tác động mạnh mẽ đến kinh tế – xã hội các quốc gia trên thế giới.

1.2. Theo Klaus Schwab, nhân loại đang ở thời điểm khởi đầu của một cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi sâu sắc cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau. Xét về quy mô, tầm vóc và độ phức tạp thì CMCN 4.0 không giống bất kỳ điều gì trước đó. Sẽ có vô số khả năng cho phép hàng tỷ con người kết nối với nhau bằng các thiết bị di động, tạo nên sức mạnh xử lý, năng lực lưu trữ và cơ hội tiếp cận tri thức chưa từng có.

Sự hợp lưu đáng kinh ngạc của những đột phá công nghệ gần đây, bao trùm nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ robot, internet kết nối vạn vật, xe tự hành, in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng, tính toán lượng tử và còn nhiều hơn thế nữa…

Trên đại thể, cách mạng công nghiệp 4.0 có các đặc trưng:

– Về tốc độ: Cách mạng 4.0 sẽ phát triển ngày càng nhanh chứ không đều đặn về tốc độ như ba cuộc cách mạng công nghiệp trước đây. Đó chính là hệ quả của một thế giới đa chiều, với sự liên kết sâu sắc của con người, cùng với công nghệ mới lại sản sinh ra những công nghệ mới hơn và có năng lực cao hơn.

– Về bề rộng và chiều sâu: CMCN 4.0 hình thành trên nền tảng cách mạng số và kết hợp nhiều công nghệ đang thúc đẩy những chuyển đổi mô hình chưa từng có về các khía cạnh kinh tế, kinh doanh, xã hội và cá nhân. Nó không chỉ làm thay đổi điều chúng ta làm, cách chúng ta làm mà còn cả việc chúng ta là ai.

– Tác động mang tính hệ thống: Cuộc CMCN 4.0 sẽ dẫn đến sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống giữa các quốc gia, doanh nghiệp, ngành công nghiệp và toàn xã hội trên phạm vi thế giới. Nếu như trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, cơ khí hóa với máy chạy bằng thủy lực và hơi nước, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai với động cơ điện và dây chuyền lắp ráp, sản xuất hàng loạt, cách mạng công nghiệp lần thứ ba với kỷ nguyên máy tính và tự động hóa xuất hiện thì CMCN 4.0 với đặc trưng các hệ thống liên kết thế giới thực và ảo.

Cuộc cách mạng này đã/sẽ kết hợp hệ thống nhúng và quy trình sản xuất thông minh để mở đường cho một kỷ nguyên công nghệ mới, kỷ nguyên thay đổi cơ bản về chuỗi giá trị và mô hình kinh doanh trong công nghiệp. Sản xuất thông minh được coi như chuẩn mực của quá trình hoạt động của công nghiệp. Trong quá trình sản xuất, máy móc hoạt động dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông thông minh, các hệ thống và mạng lưới có khả năng độc lập trao đổi và trả lời các thông tin để quản lý các quá trình sản xuất công nghiệp…

2. Những nghề “HOT” trong thời Cách mạng công nghiệp 4.0

2.1. CMCN 4.0 với sự phát triển mạnh của công nghệ trí tuệ nhân tạo đang đe dọa nhân lực nhiều ngành nghề.

Theo Sabine Pfeiffer – nhà xã hội học Đức, những công việc có tính lặp đi lặp lại nhiều bị mất an toàn nhất; các ngành nghề bị ảnh hưởng lớn là công việc văn phòng. Do những công việc này không cần nhiều đến bằng cấp mà chỉ dựa trên các quy trình chuẩn. Cách thức tự động hóa các công việc đó khá đơn giản và cắt giảm rất nhiều chi phí, không chỉ bằng máy móc mà còn bằng các thuật toán nữa.

Một số ngành nghề sẽ biến mất hoàn toàn, xe tự lái có thể khiến hơn 3 triệu lái xe ở Mỹ mất việc và 5 triệu người làm việc trong các quán ăn, trạm xăng và nhà nghỉ sẽ bị robot thay thế. Đồng thời bên cạnh những việc làm “thất thế” thì nhiều ngành nghề “lên ngôi” và có vị trí vững chắc trong thời đại công nghệ 4.0.

Theo Klaus Schwab, các lĩnh vực triển vọng phát triển mạnh bao gồm:

1) Nhóm công nghệ số, bao gồm công nghệ điện toán mới, blockchain và các công nghệ sổ cái phân tán, internet kết nối vạn vật;

2) Nhóm công nghệ “cải tạo thế giới vật chất”, gồm trí tuệ nhân tạo và Robot, vật liệu tiên tiến, công nghệ sản xuất đắp dần và in ấn đa chiều;

3) Nhóm công nghệ “thay đổi con người”, gồm công nghệ sinh học, công nghệ thần kinh, thực tế ảo và thực tế tăng cường;

4) Nhóm công nghệ tích hợp môi trường, bao gồm thu hút, lưu trữ và chuyển đổi năng lượng, can thiệp khí hậu, công nghệ không gian. Các lĩnh vực này có đặc điểm chung là vận động theo xu hướng “mở rộng”. Tình hình cụ thể là:

* Công nghệ điện toán mới: Tiếp tục đóng vai trò quan trọng vì năng lực kỹ thuật số phổ biến, mạnh mẽ, hiệu quả và chi phí thấp. Lĩnh vực này được xem như là xương sống thiết yếu cho các công nghệ và hệ thống của CMCN 4.0 và vì triển vọng của các phương pháp tiếp cận hoàn toàn khác nhau trong điện toán với những cơ hội và thách thức mới trong tương lai.

Trọng tâm những tiến bộ trong điện toán là những đổi mới về vật liệu, lắp ráp và cấu trúc mà con người sử dụng để xử lý, lưu trữ, thao tác và tương tác với thông tin. Chúng được nhóm thành các lĩnh vực như điện toán đám mây tập trung, tính toán lượng tử, xử lý mạng nơron, lưu trữ dữ liệu sinh học, điện toán quang và lưới.

Những tiếp cận này tạo ra môi trường thúc đẩy sự phát triển phần mềm và các hình thức mật mã mới. Chúng đang tạo ra và giải quyết các thách thức về an ninh mạng, cho phép xử lý ngôn ngữ tự nhiên và hứa hẹn đạt hiệu quả lớn trong các lĩnh vực ứng dụng chăm sóc sức khỏe và mô phỏng các quá trình vật lý và hóa học.

* Blockchain và các công nghệ sổ cái phân tán: Công nghệ thanh toán sẽ biến đổi sâu sắc dựa trên blockchain, sự kết hợp đột phá của toán học, mật mã, khoa học máy tính và lý thuyết trò chơi. Đây là bước đầu tiên trong sự phát triển của tiền tệ kỹ thuật số và tạo ra toàn bộ hệ thống lưu trữ mới và trao đổi giá trị trong cả nền kinh tế kỹ thuật số và nền kinh tế thực.

Theo cha đẻ của Blockchain và các công nghệ sổ cái phân tánthì vào những năm 2030, các phiên bản của công nghệ sổ cái phân tán hoặc “blockchain” có thể thay đổi mọi thứ từ giao dịch trực tuyến đến cách chúng ta bỏ phiếu và truy xuất nơi sản xuất hàng hóa.

Có đến 10% GDP toàn cầu được lưu trữ và và giao dịch bằng các loại tiền tệ ngoài chủ quyền các quốc gia hoặc việc thu thuế tự động, minh bạch và theo thời gian thực trên tất cả các bộ phận của nền kinh tế.

* Internet kết nối vạn vật: Trong thập niên tới, hơn 80 tỷ thiết bị được kết nối trên toàn thế giới sẽ thường xuyên được gắn kết con người với nhau. Mạng lưới tương tác, phân tích và đầu ra rộng lớn này sẽ làm thay đổi cách thức mà các đối tượng được sản xuất, dự đoán nhu cầu và cung cấp những góc nhìn mới về thế giới. Các hệ thống phân tán cũng thách thức cách chúng ta tạo ra, đo lường hay phân bố dữ liệu và giá trị.

Nhờ sự phân tán của các cảm biến, thế giới cũng sẽ thay đổi theo những cách khác nhau. Các siêu thị sẽ không còn các quầy tính tiền, các nhà hàng đồ ăn nhanh sẽ giảm một nửa số nhân viên so với trước đây 10 năm.

Khi các mô hình kinh doanh tận dụng internet kết nối vạn vật (IoT) để tối ưu hóa hoạt động và tạo ra “nền kinh tế kéo” thì thế giới xung quanh con người sẽ liên tục dự đoán nhu cầu tiêu dùng bằng cách phân tích các mô hình hành vi của chúng ta.

Ở một số quốc gia phát triển trên thế giới, IoT giúp theo dõi mực nước và có thể làm sống động hơn các công nghệ ứng dụng trong y tế ở các vùng sâu, vùng xa thông qua phủ sóng vệ tinh.

2.2. Theo dự báo của Tiến sĩ Robert M. Goldman, trong vòng 20 năm tới sẽ có khoảng 70-80% công việc hiện nay biến mất; những ngành nghề phục vụ cho sự phát triển của công nghệ, số, kỹ thuật, robot sẽ tăng lên. Trong đó, công nghệ thông tin (CNTT) sẽ là ngành chủ lực trong cuộc CMCN 4.0.

Ngành chế tạo ra robot như cơ điện tử sẽ trở nên “hot”; còn nhóm các ngành công nghệ vật liệu nano, năng lượng, logistics, kỹ thuật y sinh và nhóm ngành dịch vụ như du lịch, nhà hàng, khách sạn; nhóm ngành thiết kế sáng tạo; nhóm ngành dinh dưỡng và ẩm thực; nhóm ngành điện tử, cơ khí, tự động hóa; nhóm ngành quản lý, quản trị, nhóm ngành công nghệ chế biến… cũng sẽ có cơ hội phát triển.

Tuy vậy, những công việc liên quan đến sáng tạo vẫn luôn dẫn đầu xu hướng trong thời đại 4.0. Lý do đơn giản là máy móc sẽ không thể thay thế cho các lĩnh vực này, máy móc chỉ hỗ trợ các công việc thiết kế trở nên đơn giản và hiệu quả hơn.

Ở nhóm ngành kinh tế, robot cũng chỉ thay thế được một vài vị trí như bán hàng, vận chuyển… nhưng ở cấp quản lý, điều hành, hoạch định chiến lược thì đòi hỏi phải có bộ óc và bàn tay con người điều tiết. Điều hành công ty hay quản trị doanh nghiệp đều cần tư duy và kiến thức của con người. Trí tuệ nhân tạo khác với con người ở chỗ cảm xúc và sự sáng tạo.

Trong thời đại CMCN 4.0, các ngành nghề, lĩnh vực sau đây có điều kiện phát triển, đem lại thu nhập tốt cho người lao động:

* Công nghệ thông tin: Được xem như bộ não điều khiển các hoạt động của công nghệ Internet, Internet vạn vật, Internet kết nối thiết bị máy móc, kết nối quá trình vận hành của các nhà máy.

Ngoài ra, công nghệ thông tin còn là sự hội tụ của công nghệ in 3D, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ lưu trữ… Đây được xem là lĩnh vực “hot” nhất trong thời CMCN 4.0. Công nghệ thông tin sử dụng công nghệ hiện đại vào việc tạo ra, xử lý, truyền dẫn thông tin, lưu trữ, khai thác thông tin.

Hiện nay nhu cầu về lập trình viên làm việc cho những chức năng cơ bản của máy tính đã suy giảm; nhưng nhu cầu về lập trình viên cho những chương trình nâng cao, chuyên biệt lại tăng lên. Làm việc trong lĩnh vực này phải là người có tính kiên nhẫn, có suy nghĩ logic và cẩn thận, tỉ mỉ. Lương một lập trình viên ở Mỹ từ khoảng 51,500-88,000 USD/năm.

Trong Công nghệ thông tin có một số chuyên ngành rất “hot” sau đây:

Phân tích hệ thống: bao gồm việc lên kế hoạch, thiết kế các hệ thống mới hay tổ chức lại tài nguyên máy tính của một công ty nhằm mục đích tối đa hóa việc sử dụng. Mức lương cho nghề này tại Mỹ là 54,500-87,500 USD/năm.

Quản trị cơ sở dữ liệu: Sử dụng các phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu để xác định cách thức tổ chức và truy cập dữ liệu công ty một cách hiệu quả nhất, chịu trách nhiệm đảm bảo tính bảo mật của cơ sở dữ liệu và sao lưu hệ thống.

Nghề này đòi hỏi lao động có kinh nghiệm làm việc thực tế với những loại công nghệ mới nhất và có kinh nghiệm về kỹ thuật. Mức lương từ 48,500-85,500 USD/năm tại Mỹ.

Quản lý hệ thống thông tin: Các nhà quản lý sẽ giám sát công việc của những lập trình viên, nhà phân tích hệ thống và các chuyên gia máy tính khác. Họ cần có kinh nghiệm quản lý và có nền tảng kỹ thuật số tốt. Mức lương dành cho nghề này tại Mỹ từ 79,000-129,000 USD/năm.

Chuyên gia mật mã: Là những người thiết kế hệ thống mật mã, bảo mật và thực hiện các nghiên cứu về mật mã. Họ thường là những nhà toán học có chuyên môn về việc tạo mã hay giải mã. Những người này có bằng tiến sĩ về mật mã, có kinh nghiệm sâu rộng trong lĩnh vực toán học và khoa học máy tính hoặc hệ thống thông tin. Chuyên gia bảo mật tại Mỹ có mức lương từ 60,000-100,000 USD mỗi năm.

* Nghiên cứu cải tiến robot và xe hơi tự hành: Gần đây, ứng dụng robot cải tiến và phương tiện tự hành đã được đưa vào thử nghiệm, đặc biệt là các thiết bị bay không người lái (UAV, còn gọi là drone) trong quân đội cũng như các lĩnh vực dân sự. Robot cải tiến có sự nhanh nhạy và thông minh thậm chí còn vượt trội hơn cả người lao động phổ thông trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp.

Các công ty như Waymo hay “đại gia” Uber cũng đang nghiên cứu sản xuất xe hơi hoàn toàn hoặc một phần tự hành, hứa hẹn một bước đột phá an toàn và tiết kiệm hơn trong ngành giao thông vận tải. Do đó, trong tương lai ngành nghề nghiên cứu và cải tiến robot, xe hơi tự hành sẽ trở thành ngành nghề phát triển không ngừng.

* In 3D và công nghiệp xây dựng: Cũng như ngành công nghiệp xe hơi trong cách mạng công nghiệp lần thứ 2, khi mà dây chuyền tự động hóa được đưa vào, nhu cầu lao động phổ thông sẽ giảm đi, thay vào đó là người máy thế hệ tiếp theo, những robot có thể dễ dàng xây dựng hay thậm chí in 3D ra một căn nhà trong vài ngày mà vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn kĩ thuật và an toàn lao động.

Nhưng ngược lại, nghề kiến trúc sư và thiết kế nội thất thực sự có kĩ năng và sức sáng tạo lại có nhiều cơ hội, bởi vì những giới hạn của con người trong ngành xây dựng bị phá vỡ, robot có thể làm được nhiều điều không tưởng. Trong tương lai, khả năng sáng tạo của con người kết hợp với sức mạnh của robot sẽ tạo ra bộ mặt mới của ngành này.

* Thiết kế thời trang: Cùng với sự phát triển của các ngành công nghệ thông tin thì thiết kế thời trang cũng sẽ trở thành ngành nghề được chú trọng. Bởi nghề thiết kế thời trang đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng để đáp ứng nhu cầu thị trường, nên robot không thể thay thế được.

Khi mua hàng online trở thành thói quen của nhiều người thì dấu ấn của thiết kế càng được chú trọng. Con người luôn hướng tới cái đẹp nên việc thiết kế sao cho thu hút để tạo ấn tượng với khách hàng. Sự sáng tạo của con người là điều giúp cho ngành này trụ vững trước xu thế công nghiệp 4.0.

* Dịch vụ tài chính và đầu tư: Ngành tài chính và đầu tư đang có cả tiềm năng và nguy cơ nhưng vẫn là ngành nghề hot trong thời CMCN 4.0. Cùng với sự phát triển của Trí tuệ nhân tạo và Machine learning, ngành này sẽ có sự chuyển dịch rõ rệt, tạo ra nhiều việc làm liên quan đến những vị trí xử lí máy tính, cấu trúc dữ liệu, bảo mật thông tin, phân tích dữ liệu và mạng máy tính.

Nhờ Internet và các phương tiện thông tin đại chúng, mọi người có thể theo dõi được sự thay đổi lên xuống của tình hình kinh tế. Kì vọng của khách hàng cũng sẽ tăng lên… Đây là lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển và là nghề hấp dẫn, thu hút nhân lực trong thời CMCN 4.0.

* Công nghệ sinh học và y tế: Công nghệ sinh học nghiên cứu, vận dụng sinh vật sống, kết hợp với quy trình và thiết bị kỹ thuật để sản xuất công nghiệp với các sản phẩm sinh học. Ngành này đang dần được định hình lại và phát triển một cách thần kì. Công nghệ sinh học (đặc biệt là công nghệ nano) sẽ có vai trò quan trọng trong sản xuất thực phẩm, ngăn chặn những căn bệnh nan y, cải thiện sức khỏe và hệ thống y tế.

Robot có thể thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, nhưng với nhóm ngành y tế vẫn không bị ảnh hưởng. Bởi ngoài chữa bệnh việc giao tiếp, ổn định tinh thần, thấu hiểu suy nghĩ của người bệnh cũng rất quan trọng. Những việc này con người làm tốt hơn robot. Báo cáo ngành y tế dự báo năm 2020, nhu cầu về các chuyên gia y tế cũng như các dịch vụ cộng đồng là trên 40%.

* Đầu bếp – ẩm thực: Một trong những ngành nghề khó có thể thay thế hoàn toàn bằng robot hay máy móc chính là đầu bếp. Đây là ngành nghề đòi hỏi phải có các kĩ năng, vị giác, tinh thần sáng tạo, không ngừng tìm kiếm những điều mới mẻ trong việc chế biến món ăn. Dù hiện nay nhiều dụng cụ hay máy móc có thể phục vụ khách hàng tốt nhưng lại không thể chế được những món ăn ngon như bàn tay con người. Do đó, dù CMCN 4.0 có thay thế nhiều ngành nghề khác thì đầu bếp vẫn luôn là những người lao động có khối óc tư duy và sáng tạo không thể thay thế…

TS Bùi Hồng Vạn

Tài liệu tham khảo

[1] PGS.TS. Trần Thị Vân Hoa (Chủ biên, 2018), Cách mạng công nghiệp 4.0: Vấn đề đặt ra cho phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật.

[2] Klaus Schwab (2019), Định hình cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb. Thế giới, Thaihabook, World Economic Forum.

[3] Kevin Kelly (2019), 12 xu hướng công nghệ trong thời hiện đại 4.0, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân.

[4] Amir Husain (2019), Cỗ máy tri giác (Kỷ nguyên của trí thông minh nhân tạo), Nxb. Công Thương, Thaihabooks.

[5] James Canton (2011), Tương lai khác thường – Những xu hướng hàng đầu sẽ định hình lại thế giới trong 20 năm tới, Nxb. Trẻ.

[6] https://bnews.vn/thi-truong-viec-lam-thoi-4-0-/111779.html: Thị trường việc làm “thời 4.0” (truy cập 28-10-2019).

[7] https://btec.fpt.edu.vn/nhung-nganh-nghe-len-ngoi-trong-thoi-dai-4-0/: Những ngành nghề “lên ngôi” trong thời đại 4.0 (truy cập 28-10-2019).


[1] Bài Hội thảo khoa LLCT (TMU) tổ chức ngày 13-11-2019.

[2] Klaus Schwab (2019), Định hình cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb. Thế giới, Thaihabook, World Economic Forum, tr. 20-21.

TẢN MẠN HAI CHỮ “TRIẾT HỌC”

Lần đầu tiên tôi nghe tới hai chữ “triết học” là thời học phổ thông cấp 2, lâu rồi. Một bài viết đăng trên báo nói về môn triết học. Chỉ vậy thôi, nên trong suy nghĩ, nhận thức của tôi về hai chữ này hết sức “mù mờ”, thực chất là chưa biết gì nó…

Mãi đến khi vào học năm thứ nhất Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi mới vỡ vạc về hai chữ “triết học”; nhưng vẫn còn nhiều mơ hồ trong nhận thức…

Thú thật, bây giờ có ai bảo tôi cắt nghĩa rành rọt về hai chữ “triết học” thì cũng lúng túng. Thành thử để xóa bớt cái dốt trong con người mình, và cũng để phòng xa trường hợp hai đứa cháu nội hay phát/chất vấn ông nên tôi phải dành thời gian, sức lực, trí tuệ tìm hiểu cho rõ hơn về hai chữ – thuật ngữ này…

Sau khi lục tìm và đọc các tài liệu có đề cập đến hai chữ “triết học” tôi nhận thấy sách của PGS.TS. Triết học Đỗ Minh Hợp giải thích hai chữ này đầy đủ, bài bản và dễ hiểu nhất (đối với mình). Vì thế tôi ghi lại đây làm tài liệu tham khảo cho mình (và có thể cho cả người khác) phòng khi khi cần đến:

“Triết học” là thuật ngữ có gốc Hy Lạp, có nghĩa là “tình yêu sự thông thái”; một hình thái đặc biệt của ý thức và nhận thức, xây dựng hệ thống tri thức về những cơ sở và những nguyên tắc cơ bản của tồn tại người, về các đặc trưng cơ bản nhất của quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và đời sống tinh thần.

Nguồn gốc của thuật ngữ “triết học” gắn liền với truyền thống văn hóa cổ đại. Từ “yêu” trong tiếng Hy Lạp cổ được sử dụng rộng rãi từ thời Homère cùng với bất kỳ danh từ nào và biểu thị sự đam mê, tình yêu, khát vọng về các vật nào đó (khát vọng ăn uống, của cải, danh dự, v.v…).

Thuật ngữ “thông thái” ở thế kỷ V trước công nguyên được sử dụng để biểu thị nhận thức, tri thức, kỹ năng, thái độ trung thành với sự nghiệp, năng lực suy luận; cũng được hiểu theo nghĩa khái quát là biểu thị mức độ trí tuệ, sáng suốt cao.

Theo truyền thuyết, Pythagoras là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “triết học”. Các nhà triết học ở Ionia (Thales, Anaximandr, Anaximen) không gọi học thuyết của mình là triết học, mà gọi là sử học [chi tiết này đặc biệt, lần đầu tôi được biết, BHV].

Đến cuối thế kỷ V trước công nguyên, trong văn hóa cổ đại, người ta bắt đầu sử dụng rộng rãi danh từ “triết lý”. Ở thế kỷ IV trước công nguyên, các học trò của Sosrates sử dụng danh từ “triết học”.

Sau đó, thuật ngữ này được ghi nhận để biểu thị một kiểu nhận thức duy lý đặc biệt, hình thành và thảo luận một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản của tồn tại người.

Triết học cố gắng tạo dựng bức tranh khái quát tối đa về thế giới và địa vị của con người ở trong đó bằng các phương tiện lý tính. Nó là hạt nhân lý luận của thế giới quan.

Khác với thế giới quan thần thoại và thế giới quan tôn giáo là các thế giới quan dựa vào những quan niệm tưởng tượng về thế giới và dựa vào niềm tin, triết học căn cứ trên các phương pháp luận trong nhận thức về hiện thực, sử dụng các tiêu chí lôgích học và nhận thức luận để luận chứng các luận điểm của mình.

Sự cần thiết của nhận thức triết học về thế giới bắt nguồn từ động thái của đời sống xã hội và được chế định bởi những nhu cầu hiện thực về việc tìm kiếm các tư tưởng thế giới quan mới như tư tưởng điều tiết hoạt động sống của con người…

Hà Nội, 22-11-2019

SOCRATES: “HÃY TỰ BIẾT MÌNH!”

Socrates là một trong những triết gia vĩ đại bậc nhất của nhân loại. Ông sinh năm 469 và mất năm 399 TCN tại Athens (Hy Lạp). Socrates được đánh giá là kẻ thông thái nhất mọi thời.

Ông dành trọn 30 năm cuối đời mình chỉ để thuyết phục dân thành Athens rằng ý kiến của họ về các vấn đề đạo đức sẽ không đứng vững nếu chúng bị tra vấn rốt ráo và phê phán tới nơi tới chốn.

Kỹ thuật tra vấn của Socrates thường được gọi là phương pháp Socrates. Phương pháp này yêu cầu đối phương định nghĩa các khái niệm mang ý nghĩa đạo đức như: công bằng, can đảm, mộ đạo, v.v… để moi những điểm mâu thuẫn trong tự thân câu trả lời. Qua đó, cho thấy sự ngu dốt của kẻ trả lời và thúc đẩy người đó phải tra vấn sâu xa hơn các khái niệm ấy.

Socrates quy tụ một nhóm thanh niên trí thức quây quần bên ông, xem ông là đại sư phụ và hằng ngày đi với ông tới đàm luận tại những nơi công chúng tụ tập.

Socrates truyền cho thanh niên tình yêu tra vấn, dẫn tới tri thức và công lý. Ông nói rằng sự thông thái và khôn ngoan (minh triết) của ông chính là ở chỗ “thật ra ông chẳng biết gì cả”, và đó cũng là lối châm chọc mang bản sắc Socrates.

“Hãy tự biết mình” là châm ngôn của Socrates. Ông đã hướng triết học từ những suy tư mang tính vũ trụ luận sang chính bản thân con người với phẩm tính đạo đức của nó.

Triết học phương Tây đã xem Socrates như một dấu mốc, đánh dấu một giai đoạn triết học mới, đặt trọng tâm lên con người; đồng thời xem triết học trước thời ông là “tiền – Socrates”.

Những kẻ bảo thủ của thành Athens lo sợ các ý tưởng mới nên đưa Socrates ra xử với cáo giác rằng ông làm băng hoại thanh niên và giới thiệu các thần linh xa lạ, không giống các vị thần đang được dân thành Athens tôn thờ.

Bị kết án tử hình, Socrates chấp nhận cái chết, không bỏ trốn sang xứ khác, dù có cơ hội. Ông bình tĩnh và dũng cảm uống chén thuốc độc, chấp nhận cái chết như một cách bảo vệ quyền tự do tư tưởng và thân chứng cho những gì mình tin tưởng.

Socrates chỉ thuyết giảng, tranh luận chứ không viết; nhưng con người và niềm tin của ông trở thành bất tử nhờ các bản tường trình của hai học trò xuất sắc của ông là Plato và của Xenophon.

[Theo Nguyễn Ước: Các chủ đề triết học, Nxb. Tri thức, 2009]

“Lợi nhuận” theo cách nghĩ của người giàu

Dù học qua trường lớp hay học ở trường đời, rốt cuộc con người muốn giàu có đều phải trang bị cho mình những kiến thức sơ đẳng về kinh tế học để mà vận dụng vào cuộc sống đạt kết quả, thành công tốt hơn.

Trong cuốn sách “10 điều khác biệt nhất giữa kẻ giàu & người nghèo”, Keith Camron Smith đã cung cấp cho “người nghèo” những kiến thức giúp họ có thể cải thiện tốt hơn về tài chính, kinh tế của bản thân và gia đình, và xa hơn có thể trở nên giàu có… Trước hết, bắt đầu từ “Định nghĩa lợi nhuận của người giàu”:

Hầu hết mọi người có quan niệm sai lầm về tài sản. Những người này cho rằng: “Tài sản là bất cứ thứ gì có giá trị mà họ sở hữu”. Đây không phải là quan niệm về tài sản của người giàu. Trái với quan niệm này, người giàu luôn coi tài sản là những thứ có giá trị mà họ sở hữu, đồng thời chúng phải tạo ra thu nhập thụ động. Lợi nhuận, theo cách hiểu của người giàu, nó chính là tài sản trừ đi tiêu sản.

Một người nghèo có thể có một số tài sản nhỏ có giá trị nào đó; nhưng các tài sản này không tạo ra thu nhập thụ động. Tiêu sản là những thứ bạn phải nợ tiền để có được chúng. Chẳng hạn như: các khoản thế chấp, tiền trả góp mua nhà, xe; nợ thẻ tín dụng; các khoản vay cá nhân… Nếu lấy những tài sản có thể tạo ra thu nhập thụ động trừ đi khoản tiền nợ, số còn lại chính là lợi nhuận thực sự của bạn.

Người giàu quan niệm lợi nhuận mà không tạo ra thu nhập thụ động thì không có giá trị. Việc họ cần làm là tập trung vào tăng lợi nhuận và tăng thu nhập thụ động. Người giàu biết cách sai khiến đồng tiền làm việc cật lực cho họ. Ngược lại, người nghèo phải làm việc cật lực vì đồng tiền.

Người giàu luôn kiểm soát tài chính của mình, còn người nghèo lại trao quyền kiểm soát cho người khác (nhà nước và ông/bà chủ). Khi phụ thuộc vào người khác thì họ luôn trong trạng thái mất nguồn thu nhập… Người giàu thì khác hẳn, họ biết rõ mức thu nhập của họ trong tháng sau và năm sau…!!!

“Người lái đò” thầm lặng

Hình minh họa

Mỗi thầy cô giáo là một người lái đò thầm lặng đưa ta đến bến bờ tri thức. Trong đời làm “trò” của tôi đã có biết bao thầy, cô như thế. Trong niềm vui chung chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, tôi xin viết về chú – người đồng nghiệp của tôi.

Tôi tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau khi ra trường tôi thi tuyển vào Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Thương mại.

Là ứng viên duy nhất thi vào Bộ môn, có lẽ vì thế tôi được các cô, chú, các chị trong Bộ môn rất quan tâm giúp đỡ. Trước khi thi vấn đáp, tôi nhận được sự góp ý chân thành của Bộ môn, đặc biệt là của chú về giáo án, bài giảng.

Ngày tôi thi giảng, Chú đi công tác nên không dự được. Chú chúc tôi bình tĩnh, tự tin thực hiện tốt bài giảng thử của mình. Chính nhờ sự động viên của Chú cũng như của Bộ môn mà tôi đã quyết tâm, cố gắng để thực hiện bài giảng cũng như phần thi vấn đáp đạt kết quả tốt. Tôi trúng tuyển về làm việc tại Bộ môn.

Ngay từ khi tôi mới về Trường, tôi đã nhận được sự tận tình giúp đỡ của các cô, chú, các chị và đặc biệt là sự giúp đỡ trực tiếp của Chú – người hướng dẫn tôi tập sự…

Là người nhận được sự hướng dẫn trực tiếp của Chú, tôi có điều kiện để tiếp xúc và hiểu Chú hơn. Trong quá trình tập sự, tôi được dự giờ Chú giảng ở nhiều lớp, nhiều đối tượng từ hệ chính quy đến hệ tại chức với nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau, kết hợp giữa truyền thống với hiện đại.

Hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Giáo dục – Đào tạo và của nhà trường về đổi mới phương pháp dạy học, có thể nói, Chú là người đi đầu của Bộ môn chúng tôi về việc thực hiện giảng dạy bằng giáo án, bài giảng điện tử.

Tôi thật sự bất ngờ khi biết chú sử dụng thành thạo máy vi tính từ năm 1996, thời điểm mà công nghệ thông tin chưa phải là phổ biến ở nước ta. Áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học, mỗi tiết giảng của Chú luôn lôi cuốn được sự chú ý của sinh viên bởi những câu chuyện, những đoạn phim về Hồ Chí Minh, bởi sự khúc chiết trong mỗi nội dung giảng.

Từ năm 2009, chúng tôi giảng dạy theo giáo trình mới về môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là thử thách mới đến với Chú và chúng tôi.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Nghề thầy giáo là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo”.

Chú đã chứng minh câu nói này là hoàn toàn đúng, và Chú đã nhân lên sự sáng tạo của mình bằng việc đọc giáo trình, tài liệu tham khảo để bổ sung cho bài giảng.

Chú là người ham đọc sách, tự học, nghiên cứu qua sách vở, báo chí… Chú nói với tôi, tủ sách của Chú là tài sản lớn nhất, tài sản tri thức Chú dành cho các con.

Mặc dù đến tháng 5/2009 chúng tôi mới nhận được giáo trình mới; song Chú đã nhanh chóng nghiên cứu, soạn bài giảng điện tử và tiếp tục giảng dạy theo tinh thần đổi mới của nhà trường.

Nếu ai đã từng được học và làm việc với Chú đều nhận thấy ở Chú là người cẩn trọng, khoa học, nghiêm túc và hết sức nhiệt tình, tận tâm với nghề.

Là giảng viên tập sự, tôi đã học được ở Chú đức tính luôn luôn cẩn thận, nghiêm túc trong công việc. Bởi như một nhà tư tưởng đã từng nói: “Nếu một người thợ kim hoàn làm hỏng một đồ vàng bạc thì anh ta có thể đem nấu lại. Nếu một viên ngọc quý bị hư thì có thể phá bỏ… Nhưng làm hư một con người là một tội lớn, một lỗi lầm lớn không thể nào chuộc được”.

Để giáo dục một con người vừa “hồng” vừa “chuyên” thật không dễ dàng, đơn giản… Học phần mà chúng tôi giảng dạy không chỉ cung cấp cho các em sinh viên những tri thức khoa học mà còn giáo dục cho các em về bản lĩnh chính trị, về đạo đức làm người.

Trong mỗi bài giảng của Chú luôn thể hiện rõ điều đó. Tôi còn nhớ một buổi đi dự giờ, Chú giảng về giá trị truyền thống dân tộc. Mặc dù nội dung bài học chỉ nói về truyền thống yêu nước, thông minh, sáng tạo… của dân tộc ta; nhưng Chú đã lồng ghép thêm một nội dung quan trọng khác là truyền thống tôn sư trọng đạo.

Người Việt Nam (nói rộng ra cả người phương Đông) chẳng mấy ai không biết câu nói: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy) của cha ông. Mỗi khi nghe câu nói đó có ai buông những lời thiếu trân trọng về người thầy của mình, ta lại nhớ đến câu đó như một lời nhắc nhở về “đạo làm trò”.

Tôi nghĩ lời răn lớn nhất của câu này là: Làm người, trước sau như một phải luôn ghi lòng tạc dạ công ơn những ai đã dạy mình nên người. Bởi có ai nên người mà không phải tích luỹ những điều đã được dạy, được học?

Vâng, tôi cũng đã được Chú dạy và cũng học được ở Chú biết bao nhiêu điều.

Chú không chỉ là người thầy lớn của tôi trong cuộc sống. Chú không chỉ hướng dẫn tôi hoàn thiện kiến thức trong mỗi trang giáo án, trong mỗi bài giảng mà Chú còn là người chỉ bảo cho tôi  bao điều hữu ích, từ cách cư xử, giao tiếp, quan hệ với đồng nghiệp đến ứng xử phù hợp với sinh viên trên giảng đường và ngoài cuộc sống…

Xin được cám ơn Chú – người Thầy – “Người lái đò thầm lặng” – đã chở tôi qua sông!  Để đến hôm nay tôi cũng sẽ bước tiếp, cũng sẽ như Chú, chở những chuyến đò đi tới những bến bờ tri thức…

                                                                    NGÔ THỊ MINH NGUYỆT

CHUYỆN “CÁI HANG”

Hình minh họa

Nếu ai đó quan tâm đến triết học, có đọc, tìm hiểu về triết học phương Tây đều biết một dụ ngôn về cái hang (còn gọi là Huyền thoại về cái hang) của triết gia vĩ đại Plato. Chuyện là:

“Các tù nhân bị trói chặt trong một hang động, mắt họ chỉ được phép nhìn thẳng. Do không thể cựa quậy, tầm nhìn của họ bị giới hạn vào vách hang trước mặt. Sau lưng họ là một đống lửa, giữa đống lửa và nhóm tù nhân là những vật thể được giương cao qua lại để hắt bóng lên vách hang. Các tù nhân không thể thấy đống lửa và những sự vật ấy. Theo thói quen lâu ngày, họ đã xem các hình bóng trên vách hang là thực.

Hình minh họa

Đến một ngày nào đó, có một tù nhân được giải thoát. Người ấy chưa hẳn đã vui mừng, trái lại anh ta còn thấy khó chịu vì bị lóa mắt trước ánh sáng mặt trời. Phải lâu lắm anh ta mới làm quen được với sự thật, từ đó nhận ra rằng mặt trời mới là nguồn sáng và là nguồn sinh lực cho vạn vật.

Cảm thông với thân phận của những bạn tù, anh ta trở lại hang động để kể lại sự thật cho những người này. Nhưng thay vì hoan nghênh thì những người bạn tù đã phản đối kịch liệt (do thói quen nhìn thấy sự vật như đã mô tả), thậm chí họ còn muốn giết chết người bạn tốt ấy nữa…

Dụ ngôn này đã nói rõ: Con người biết được sự thật đã khó, chịu đựng được sự thật (có khi) còn khó hơn!

[P/S: Theo (thiển nghĩ) của tôi, có thể:

  • Với các triết gia: Cần nhận rõ “thân phận con người”; nhưng quan trọng hơn là không sợ chết để nói lên sự thật.
  • Với người thường: Tốt nhất chả cần đào sâu, tìm hiểu để biết sự thật làm gì. Biết sự thật (nhiều khi) lại mua thêm bất hạnh vào mình].

Tài liệu tham khảo

[1] Plato: Cộng hòa (The Republic), Nxb. Thế giới, 2013.

[2] Bùi Văn Nam Sơn: Trò chuyện triết học, tập 1, Nxb. Tri thức, 2012.

[3] PGS.TS. Nguyễn Tấn Hùng: Lịch sử triết học phương Tây (từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.

[4] P.S. Taranốp: 106 nhà thông thái (cuộc đời, số phận, học thuyết, tư tưởng), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.

[5] Benjamin Jowett & M.J. Knight: Plato (chuyên khảo), Nxb. Văn hóa thông tin, 2008.

NGHỀ BẮT VÀ NUÔI RẮN Ở PHỤNG THƯỢNG

Phụng Thượng, một làng quê nằm trong miền đất cổ xứ Đoài xưa, nay là một xã thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây.

Hoạt động kinh tế của cư dân nơi đây chủ yếu là nghề trồng trọt, chăn nuôi, kết hợp với chút ít nghề phụ: mộc, xây, dệt, rèn và buôn bán nhỏ.

Trong những thập niên gần đây, bên cạnh nông nghiệp, nhiều ngành nghề khác của thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ được mở mang, phát triển. Riêng trong nông nghiệp, hoạt động chăn nuôi vừa mang tính kế thừa truyền thống (nuôi gia súc, gia cầm, cá) lại vừa mang tính đổi mới (nuôi các loại đặc sản như: rắn, ếch, ba ba, chim cút…). Trong đó, hoạt động bắt và nuôi rắn là một hướng phát triển mới của kinh tế Phụng Thượng.

Phát sinh là nghề bắt rắn…

Xưa Phụng Thượng không có nghề bắt và nuôi rắn, chỉ đi bắt cua, ốc, ếch… Ở đây, nghề bắt cua là một hoạt động có ý nghĩa đối với một bộ phận cư dân Phụng Thượng. Ca dao làng Phụng Thượng phản ánh rõ hoạt động bắt cua nơi đây: Doanh Bằng là đất mò cua/ Ngày ngày cái giỏ đi khua khắp đồng. Hay: Trong làng cắt cỏ tài ghê/ Chả bằng ngoài trại nó lê một hồi.

Theo dân làng kể lại, cách đây khoảng 50 năm, có ông Hai Nước (người Thổ Tang, Vĩnh Phúc) thường đến Phụng Thượng bắt rắn. Bấy giờ, ở làng Phụng Thượng có ba ông – Trang, Hành, Mai thường đi bắt ếch đã tò mò đi theo xem ông Hai Nước bắt rắn; sau đó học nghề bắt rắn.

Từ năm 1949 ba ông chuyển từ bắt ếch sang làm nghề bắt rắn. Lịch sử phát triển ngành nghề của Phụng Thượng có thêm nghề bắt rắn…

Ông Trang kể lại: Thời kỳ đầu ba ông đi bắt rắn chung, được rắn bán lấy tiền chia nhau. Địa bàn hoạt động của các ông là Phụng Thượng và các xã khác lân cận trong vùng, trong tỉnh.

Các ông bắt tất cả các loại rắn – hổ mang, cạp nong, cạp nia, rắn ráo… Sau này khi hành nghề thành thạo ba ông tách ra làm ăn riêng cùng với con cháu trong nhà. Ông Trang và 4 con trai ông đều theo nghề bắt rắn. Đến năm 1978-1982, ông còn kiêm thêm việc mổ rắn thuê cho Xí nghiệp Dược phẩm I của tỉnh Hà Sơn Bình.

Cùng thời gian này, gia đình ông Trang vừa làm nghề bắt rắn vừa thu mua rắn ở các nơi bán cho xí nghiệp trên, đồng thời đi mổ rắn thuê cho họ.

Những năm này, thị trường trong ngoài nước có nhu cầu về rắn để ngâm rượu, làm thuốc và xuất khẩu. Các loại rắn – hổ mang bạnh, cạp nong, cạp nia, hổ mang thiếc và rắn ráo hợp thành bộ “ngũ xà” và ba loại – hổ mang, cạp nong, rắn ráo thì hợp thành bộ “tam xà” bán rất có giá trị kinh tế.

Từ năm 1982, Xí nghiệp Dược phẩm Hà Sơn Bình thôi không thu mua rắn nữa nhưng ông Trang và các con ông vẫn tiếp tục nghề bắt rắn, làm ruộng và…

… Chuyển dần sang nuôi rắ

Thời kỳ đầu ông Trang nuôi các loại rắn: hổ mang, cạp nong, cạp nia nhưng không thành công lắm vì rắn hay bị chết.

Trong những năm này, có một người Trung Quốc sang đặt hàng thu mua rắn cạp nong, cạp nia con mới nở với giá 2.500 đồng một con. Thế là gia đình ông Trang xoay sang nuôi rắn chửa đẻ, lấy chứng ấp nở để bán rắn con. Nhưng sau một thời gian thấy nuôi rắn đẻ không có lãi (do nuôi khó khi ấp nở, rắn con hay bị chết), nên ông Trang thôi không nuôi nữa, nhưng vẫn tiếp tục đi bắt rắn, nuôi các loại rắn để bán.

Từ tháng tư (âm lịch) năm 1993, gia đình ông Trang bắt đầu tiến hành nuôi rắn Hổ chúa. Đây là loại rắn hổ mang to, có màu đen, sọc trắng và có các khoang vàng. Loại rắn này có nọc cực độc và môi trường sinh sống là những khe, hang hốc vùng núi đá, rừng rậm…

Việc ông Trang quyết định nuôi rắn Hổ chúa bắt nguồn từ một sự kiện khá lý thú. Một lần do ông nhốt rắn Hổ chúa với 2 con rắn ráo trong cùng một chuồng. Đến hôm sau, ông không thấy 2 con rắn ráo đâu nữa, trong khi chuồng nuôi rất kín đáo, chắc chắn rắn không thể bò ra ngoài được.

Trước việc đó, ông suy nghĩ và rồi phát hiện ra – rắn Hổ chúa đã ăn 2 con rắn ráo nhốt chung chuồng. Ông Trang nghĩ, có thể nuôi được rắn Hổ chúa, vì ông đã tìm ra loại tức ăn nuôi chúng. Nghĩ sao, làm vậy, ông Trang và hai con trai ông năm đầu tiên đã nuôi thử mấy chục con rắn Hổ chúa.

Sau một năm thử nghiệm thấy thành công, gia đình ông quyết định mở rộng chuồng trại, đầu tư phát triển nuôi số lượng nhiều hơn. Liên tục trong nhiều năm gia đình ông gặt hái thành công và trở nên khá giả nhờ nuôi rắn Hổ chúa.

Nhiều gia đình trong thôn, xã học và làm theo, tạo thành một phong trào nuôi rắn phát triển mạnh mẽ ở Phụng Thượng. Hiện nay, theo thống kê sơ bộ, ở Phụng Thượng có khoảng 70% số hộ gia đình nuôi rắn (xã có khoảng 2.550 hộ) và hoạt động này đã đem lại nguồn thu nhập lớn cho họ. Số lượng rắn Hổ chúa nuôi trong các gia đình có khác nhau, tuỳ thuộc vào nguồn vốn và các năng lực lao động khác.

Ai nhiều vốn, nhiều nhân lực và kinh nghiệm thì nuôi tới hàng trăm con. Nguồn cung cấp rắn Hổ chúa giống chủ yếu từ hai nước Lào và Căm-pu-chia. Giá mua các loại rắn giống cũng khác nhau.

Vào đầu năm 1998, nếu mua một rắn giống có trọng lượng từ 0,5-1kg giá tiền là 450.000 đồng/kg; từ 1-3kg giá 650.000 đồng/kg; từ 3-5kg giá 480.000 đồng/kg. Giá loại rắn giống thứ ba rẻ hơn loại hai vì vốn mua một con quá lớn, nhiều người không đủ tiền mua nên có ít người mua, nên giá rẻ hơn.

Đến khi bán rắn, từ 2-5kg giá 440.000 đồng/kg; từ 6,7kg đến 20kg là 480.000 đồng/kg… Loại rắn hổ mang bình thường khi mua rắn giống từ 0,5-1kg giá 230.000 đồng/kg; từ hơn 1kg đến 5kg giá 90.000 đồng/kg. Thức ăn để nuôi loại rắn hổ mang bình thường là chuột, cóc. Khi bán nếu trọng lượng từ 1-1,5kg giá là 210.000 đồng/kg; từ 1,6-2,3kg giá bán là 250.000 đồng/kg.

Hàng năm người ta bắt đầu mua rắn giống và tiến hành nuôi từ tháng 3 âm lịch, kết thúc vụ và bán rắn vào khoảng tháng 11 âm lịch. Đây là khoảng thời gian tiết trời ấm nóng phù hợp cho rắn sinh trưởng. Đến mùa lạnh (từ cuối thu trở đi) là lúc rắn “ngủ đông”, các gia đình bán rắn cho các thương lái mang đi Trung Quốc.

Tại Phụng Thượng người ta mới chỉ nuôi được rắn Hổ chúa có trọng lượng lớn nhất tính đến khi bán là 17-18 kg. Thường một rắn giống khi mua nuôi đến khi bán tăng trọng trung bình gấp đôi.

Thức ăn cho rắn Hổ chúa là các loại rắn khác, nhỏ hơn như rắn nước, rắn ráo… Phổ biến nhất là rắn nước. Các gia đình đi bắt hoặc mua rắn nước về làm mồi nuôi Hổ chúa. Một con Hổ chúa loại trung bình một ngày tiêu thụ hết 0,2-0,3 kg rắn mồi. Rắn càng to, lượng thức ăn nuôi chúng càng hết nhiều.

Khi cho rắn Hổ chúa ăn người ta chặt bỏ đầu đuôi và rạch bụng rắn mồi giúp rắn Hổ chúa dễ tiêu thụ thức ăn, không bị chướng bụng, hay bị bệnh chết.

Từ cuối mùa Thu trở đi, khi thời tiết lạnh dần là lúc rắn lười ăn. Người nuôi phải chủ động “nhồi” cho rắn ăn. Đây là công việc rất nguy hiểm đối với người nuôi. Khi làm công việc này, thường phải có 2-3 người phối hợp thực hiện.

Một người nắm đầu rắn để nhồi thức ăn, còn 1-2 người khác giữ thân, phối hợp với người giữ đầu nhồi và vuốt cho thức ăn trôi dần vào bụng rắn. Cụ thể, người nắm đầu bóp cho miệng rắn há ra để đưa thức ăn vào. Người này dùng một chiếc đũa hoặc que tre chọc vào bụng rắn mồi rồi từ từ đưa vào miệng – họng rắn Hổ chúa rồi vuốt dần cho thức ăn trôi xuống phần bụng. Mỗi ngày một lần người nuôi nhồi cho Hổ chúa ăn từ 3-4 con rắn mồi con. Để rắn tăng trọng nhanh và không bị bệnh, người nuôi còn trộn cả thuốc B1 và Ganidan được tán nhỏ vào cho rắn ăn.

Đầu tư xây dựng chuồng trại nuôi rắn không tốn kém bằng mua rắn giống và thức ăn cho rắn. Chuồng được làm khá đơn giản, có hình vuông hoặc hình chữ nhật, diện tích độ 40-50cm2 chiều cao 70-80cm.

Bên trên có nắp đậy bằng xi măng hoặc bằng gỗ (có người căng lưới sắt) có lỗ nhỏ đủ để thò tay vào bắt và thả rắn. Đáy chuồng làm bằng gạch đất, mục đích để khi rắn bài tiết (phân, nước tiểu) được gạch này hút khô, không đọng bẩn, gây mất vệ sinh dễ làm rắn “bị nổ[2].

Về mặt kỹ thuật, chuồng nuôi rắn phải giữ sạch sẽ, ấm áp, được che đậy kín đáo, tránh gió mưa, ẩm thấp và lạnh; đồng thời không để rắn thoát ra ngoài đi mất hoặc gây nguy hiểm cho con người.

Các hộ gia đình thường làm chuồng rắn ngay trong nhà ở, nhà ngang hay dưới bếp. Cũng có một số người xây hệ thống chuồng trại riêng ở ngoài vườn, bên trên lớp ngói như nhà ở của người vậy.

Nuôi rắn ở Phụng Thượng đem lại thu nhập cao cho nhiều người dân nơi đây, nhưng nghề này nguy hiểm, nhiều rủi ro. Có nhiều người đã bị rắn cắn, hàng chục người đã chết do không cứu chữa kịp hoặc do nọc rắn Hổ chúa quá độc. Một số người có thuốc gia truyền thống chữa trị; nhưng thường chỉ hiệu nghiệm với các loại rắn bình thường như hổ mang, cạp nong, cạp nia.

Còn khi đã bị Hổ mang chúa cắn thì người ta chỉ có thể sơ cứu, sau đó phải mang gấp xuống bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) để cứu chữa. Nếu chậm trễ, tính mạng người bị Hổ chúa cắn rất khó được an toàn, thoát khỏi cái chết.


[1] – Bài đăng tạp chí Xưa & Nay, số 66, tháng VIII-1999.

[2] – “Bị nổ” là từ nhân dân địa phương dùng để chỉ chuồng không sạch, các chất thải đọng lại ở đáy chuồng bám vào da gây nên tình trạng rắn bị ghẻ, lở loét, sinh bệnh, khiến rắn có thể chết.

PHONG CÁCH TUYÊN TRUYỀN HỒ CHÍ MINH

1. Hồ Chí Minh (HCM) là người luôn thấu triệt quan điểm thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn và tuân thủ nguyên tắc – «Đối tượng nào phương pháp ấy» trong hoạt động tuyên truyền.

Trước đây để truyền bá tư tưởng cách mạng, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thường có hai cách làm:

+ Một là, dịch và phổ biến những tác phẩm kinh điển về lý luận cho quần chúng, đồng thời viết các tác phẩm triết học để đấu tranh chống lại các học thuyết phi mác-xít nhằm bảo vệ sự trong sáng của học thuyết này;

+ Hai là, trong thời kỳ đầu những người cộng sản tiến hành truyền bá những tư tưởng, lý luận cách mạng cho quần chúng, khi họ đạt đến một trình độ nào đó mới chuyển sang dịch và phổ biến các tác phẩm kinh điển.

Căn cứ vào tình hình nước ta những thập niên đầu thế kỷ XX, HCM đã chọn cách làm thứ hai để truyền bá tư tưởng, lý luận cho quần chúng bị áp bức.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam có tới 95% dân cư thất học, trình độ nhận thức thấp, vì thế chọn cách làm này là phù hợp với thực tiễn đất nước.

Điều này cho thấy ở HCM có sự ăn khớp, gắn kết giữa lý luận với thực tiễn và tuân theo nguyên tắc khoa học – « Đối tượng nào phương pháp ấy ». Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: «Ở Hồ Chí Minh có sự ứng phó khớp với diễn biến lịch sử[2]».

Trong thực tiễn cách mạng, HCM đã căn cứ vào các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội để đề ra những biện pháp tuyên truyền vận động thích hợp. Từ đó đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào quần chúng lao động «không thông qua những nguyên lý trừu cao siêu», mà « diễn giải nó dưới nhiều hình thức đơn giản, dễ hiểu, vừa tầm, rồi sau đó mới tìm cách nâng dần lên để đi tới trọn vẹn chân lý của thời đại[3]».

Đây là một trong những nguyên nhân tạo nên sự thành công trong công tác tuyên truyền vận động quần chúng của HCM.

2. Ở HCM, bên cạnh phong cách của một nhà chính trị già dặn, một nhà ngoại giao từng trải, một trí thức uyên bác, một nhà nho sâu sắc của xứ Nghệ, một hiền triết «đại trí, đại nhân, đại dũng», ta còn thấy phong cách của một người bình thường, giản dị như những nông dân trên đồng ruộng, công nhân trong nhà máy, như người cha, người bác trong gia đình mà mọi người đều cảm thấy gần gũi.

Đây là một trong những nét rất đặc sắc trong phong cách sống của HCM.

Từ nhận thức, đánh giá đúng về đặc điểm dân trí nước ta thấp, dân tộc Việt không có ưu thế về tư duy trừu tượng, triết học, HCM đã chọn cách tuyên truyền gắn ngọn, dễ hiểu, thiết thực và có hiệu quả để tuyên truyền, giác ngộ, vận động quần chúng. Từ đó, tạo ra một phong cách tuyên truyền mang tính đại chúng.

Nét phong cách này thể hiện trong nhiều bài nói, bài viết của HCM. Chẳng hạn, trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Người nói rõ về phong cách của mình : «Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ», «nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả ».

Do tình thế khẩn cấp mà HCM chỉ chú tâm đến việc « phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi, thì giờ đâu rảnh mà vẽ vời trau chuốt[4] ».

Đây có thể nói là phong cách của một nhà yêu nước đang cháy bỏng khát vọng muốn cứu nước và giải phóng dân tộc.

Cuộc cách mạng mà HCM tiến hành là cuộc cách mạng đem lại lợi ích cho số đông – những người bị áp bức, bóc lột, khổ sở và bần cùng. Chính vì thế, để khởi xướng và vận động cuộc cách mạng này, Người luôn hướng hoạt động tuyên truyền của mình vào lực lượng chủ yếu của cách mạng là công, nông, binh.

Người thường căn dặn cán bộ, nhà văn, nhà báo, những nhà tuyên truyền cần phải «vì công, nông, binh mà viết», mà phục vụ. Trong khi viết, nói phải luôn đặt ra và trả lời các câu hỏi : Vì ai mà viết ? Viết để làm gì ? Viết thế nào ?

Có thể nói, HCM đã có sự cách tân trên lĩnh vực tuyên truyền vận động quần chúng ở nước ta trước đây. Từ cách viết đến cách nói của Người luôn hướng tới phục vụ quần chúng nhân dân.

Người yêu cầu, khi viết hay nói một câu bao giờ cũng phải quan tâm đến việc làm sao cho một người bình thường nhất cũng có thể hiểu và làm theo được. Vì thế, nội dung tuyên truyền dù có cao siêu đến đâu cũng được Người tìm cách diễn đạt theo hướng giản dị, dễ hiểu, dễ đi vào trái tim khối óc quần chúng cách mạng.

Theo đó, trong tuyên truyền, Người luôn sử dụng ngôn từ bình dân, đại chúng, lối nói dân gian, kết hợp với những hình ảnh so sánh, những ẩn dụ gần gũi với lối nghĩ, lối cảm của người lao động Việt Nam.

Xuất phát từ quan điểm thực tiễn, quan điểm «Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng », «Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử », HCM chủ trương cần phải «học tiếng nói của quần chúng»[5], viết ngắn, sửa đi sửa lại bài nói, bài viết cho tốt.

Trước và sau cách mạng tháng Tám 1945, để vận động quần chúng đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng chế độ mới, HCM đã dùng hình thức thơ ca dân gian nôm na, mộc mạc, mượn lối ca vè quen thuộc để tuyên truyền.

Nhiều bài Người viết trong thời kỳ này theo phong cách trên, như : Ca dân cày, Ca công nhân, Ca binh lính, Ca du kích, Hòn đá, Con cáo và tổ ong, v.v… đã có tác dụng tích cực trong tuyên truyền, vận động quần chúng cách mạng.

Người còn dùng nhiều hình ảnh, dùng lối nói ví von, so sánh để diễn đạt tư tưởng – giúp mọi tầng lớp dân chúng dễ dàng hiểu điều người muốn nói.

Một vài minh chứng cụ thể : Khi nói đến vai trò, tầm quan trọng, mối quan hệ giữa Đảng với sự nghiệp cách mạng, Người dùng hình ảnh – người cầm lái (người lái đò) để ví với Đảng ; còn con thuyền để ví với cách mạng. Trong việc kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, Người nêu hình ảnh bàn tay có năm ngón, trong đó có ngón ngắn, ngón dài nhưng đều họp lại nơi bàn tay.

Tương tự, HCM dùng chiếc mũ cát đặt nằm ngửa, rồi bằng những ngôn từ dễ hiểu Người đã mô tả sinh động tình hình chiến sự ở ở Điện Biên Phủ cho nhà báo Úc – Bớc-sét nắm được.

Ngoài lối nói hình ảnh, so sánh trên, chúng ta còn thấy trong nhiều bài nói, bài viết HCM chọn và sử dụng một số từ ngữ mang tính gợi cảm cao như : « đồng bào », « con Rồng cháu Tiên », « dòng dõi tổ tiên ta »… để hướng quần chúng về cội nguồn nhằm tăng cường mối đoàn kết dân tộc.

Đặc biệt hơn, khi đang đọc Tuyên ngôn độc lập, Người dừng lại và hỏi : «Tôi nói, đồng bào nghe rõ không? » đã tạo nên sự đồng cảm cao giữa vị lãnh tụ cách mạng với đông đảo quần chúng tham dự buổi mít tinh đó.

Khi nói về phong cách của HCM, có nhà văn đã viết: Hồ Chí Minh không chỉ là « nhà tư tưởng », mà người còn là một « nghệ sỹ của nhân dân », Người luôn đứng về phía những người lao động để cảm nhận, suy nghĩ và nói lên tiếng nói của họ.

Người luôn tìm cách thức tỉnh, cổ suý , lãnh đạo họ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và xây dựng cuộc sống mới. Đây chính là cội nguồn sức mạnh giúp HCM thành công trong cuộc đời cách mạng của mình.

Trong tuyên truyền, HCM đặc biệt quan tâm đến vấn đề kết quả, hiệu quả. Theo Người, «Tuyên truyền là đem một cái gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm ». « Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại[6] ».

HCM yêu cầu tuyên truyền phải làm sao cho dân hiểu, dân nhớ và hơn nữa phải làm cho người nghe hiểu thấu vấn đề. Điều này không hề dễ với mọi nhà tuyên truyền. Song yêu cầu như vậy đối với công tác tuyên truyền là rất cần thiết. Vì nếu tuyên truyền mà không đạt được mục đích thì chỉ « phí công, phí của, vô ích[7] ».

Trước kia và cả hiện nay, không phải ai làm công tác tuyên truyền cũng đều đạt hiệu quả. Do hạn chế về kiến thức, về bản lĩnh, văn hoá… nên nhiều người thường hay tham nói dài, lan man, khó hiểu, thiếu trọng tâm, trọng điểm khi tuyên truyền.

Để tránh các khuyết điểm đó, theo HCM, một trong những việc cần làm là « trước khi nói, phải viết một dàn bài rõ ràng, rồi cứ xem đó mà nói ». Đây là một chỉ dẫn rất thiết thực và bổ ích cho những ai làm công việc liên quan đến chuyện nói như báo cáo viên, giáo viên, thuyết trình viên…

Một nét đặc sắc khác trong phong cách tuyên truyền của HCM là đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề bằng những lời lẽ ngắn gọn, dễ hiểu và chính xác. Người chỉ ra khuyết điểm chung mà nhiều người khi tuyên truyền thường mặc phải đó là tham nói nhiều, không biết « quý hồ tinh, bất quý hồ đa ».

Người luôn căn dặn cán bộ tuyên huấn, huấn luyện « cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều ». Tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực, « làm sao dễ hiểu, nói sao để người ta hiểu được », « không phải tuyên truyền để mà tuyên truyền[8] ». Đó là những khía cạnh cốt lõi trong tư tưởng, phong cách tuyên truyền HCM.

3. HCM  đã sử dụng nhiều biện pháp, hình thức, phương tiện kết hợp với nhau để tuyên truyền vận động quần chúng. Trong đó, văn nghệ, báo chí được Người sử dụng như những công cụ tuyên truyền hiệu quả, sắc bén.

«Văn dĩ tải đạo » là quan niệm xưa và được nhiều người sử dụng trong tuyên truyền vận động quần chúng như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…

Đối với HCM, văn nghệ chưa bao giờ là mục đích sống, là phương tiện lập thân của Người. Nhưng do ý thức được sức mạnh của văn nghệ, báo chí nên HCM đã dùng các công cụ này rất thành công trong công tác tuyên truyền vận động cách mạng.

«Văn dĩ tải đạo » được Người kế thừa, phát huy và phát triển trên tinh thần thế giới quan, phương pháp luận Mác-Lênin thành luận điểm «Văn nghệ phục vụ chính trị». Người đã phát biểu luận điểm này dưới hình thái của hai câu thơ: Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong .

Phong cách tuyên truyền đặc sắc của HCM còn biểu hiện ở việc Người vận dụng linh hoạt và sáng tạo nhiều phương pháp tuyên truyền lý thú, bổ ích và có hiệu quả cao.

Trong thời gian dạy học ở trường Dục Thanh, HCM thường đưa học sinh đi tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử trong vùng.

Trong những buổi dã ngoại đó, Người đã kể cho những thanh thiếu niên Việt Nam nghe về những mẩu chuyện, đọc cho họ nghe những bài ca yêu nước của phong trào Đông Du, Duy Tân. Mục đích thông qua đó, Người giáo dục tư tưởng, tình cảm đoàn kết, yêu nước cho những học sinh này.

Sau này, vào những năm cuối đời, để cổ vũ cho phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người cho mở chuyên mục « Người tốt, việc tốt » trên báo và cho in loại sách « Người tốt, việc tốt » đồng thời thực hiện các hình thức động viên khen thưởng kịp thời cho các cá nhân, tập thể đạt thành tích tốt trong lao động, sản xuất, chiến đấu và học tập…

Cũng cần phải nói đến một điểm nữa phong cách tuyên truyền của HCM là phong cách «ba cùng».

Theo HCM, muốn quần chúng tin theo, làm theo thì cán bộ không chỉ nói miệng, trên giấy tờ mà cần thiết phải thâm nhập vào đời sống quần chúng, phải « ba cùng » với họ. Người cán bộ tuyên truyền phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm; phải kính già, yêu trẻ, đứng đắn với phụ nữ, tuân thủ phong tục tập quán địa phương; phải thành khẩn, thấy dân làm việc gì, nếu có điều kiện đều phải thàm gia làm giúp…

Nếu làm tốt những việc này sẽ là « cách gây tình cảm tốt nhất, nó se giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội » và chắc chắn « sẽ thành công to »[9]. Có thể nói, đây chính là một trong nhiều bài học có giá trị thời sự cho công tác tuyên truyền của chúng ta hiện nay.

4. Tóm lại: HCM đã căn cứ vào thực tiễn, truyền thống văn hoá dân tộc, trên cơ sở vận dụng linh hoạt, sáng tạo những nguyên lý, quy luật cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ đó đề ra những cách thức, sử dụng các phương tiện tuyên truyền vận động quần chúng thích hợp, hiệu quả.

Những nét đặc sắc – đặc trưng trong phong cách tuyên truyền của HCM là tài sản tinh thần vô giá, không chỉ có giá trị lịch sử quý báu mà luôn mang tính thời sự sâu sắc trong tiến trình cách mạng nước ta.

Học và làm theo phong cách tuyên truyền của HCM hiện nay chúng ta cần thấm nhuần sâu sắc những chỉ dẫn của Người; rồi căn cứ vào điều kiện thực tế, lựa chọn những cách thức tuyên truyền sao cho phù hợp, để đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước vào cuộc sống, góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thành công trong giai đoạn cách mạng hiện nay.


[1] – Bài đăng tạp chí Tuyên giáo, số tháng 3-2013.

[2] – Phạm Văn Đồng: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 35.

[3] – Đinh Xuân Lâm: Góp phần tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 98.

[4] – Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 262.

[5] – Nguyễn Huy Tưởng: “Hồ Chí Minh nói chuyện về cách viết”, trong Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, Văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010, tr. 105.

[6] – Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 162-163.

[7]Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Lao động, Hà Nội, 2005, tr. 72.

[8]Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Lao động, Hà Nội, 2005, tr. 194-195.

[9] – Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 163.

VỀ TƯ DUY SÁNG TẠO HỒ CHÍ MINH

           

1. Hồ Chí Minh (HCM) là một trong số ít nhân vật lịch sử đã trở thành huyền thoại ngay khi còn sống. Cuộc đời, phong cách sống, lao động, học tập, tâm hồn, trí tuệ và nghị lực của Người tiêu biểu cho tinh hoa, khí phách của dân tộc Việt Nam.

Một nhân vật vĩ đại như HCM có rất nhiều điều chúng ta cần phải học tập và làm theo. Trong những điều cần học, cần làm theo đó có tư duy sáng tạo của Người.   

Trước khi bàn về tư duy sáng tạo của HCM, chúng ta cần làm rõ các khái niệm: tư duy, sáng tạo và tư duy sáng tạo.

Tư duy là một từ Hán Việt, hiểu đơn giản thì tư duy “là hoạt động cao cấp của bộ não”[1]; “là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, định hướng cho hành vi phù hợp với môi trường sống”[2].

Nếu luận bàn rộng thì tư duy “là quá trình con người suy nghĩ, xuất phát từ những cứ liệu của thực tiễn và từ di sản của những người đi trước, từ những thành tựu của tư tưởng đương thời để đi tới xác định tư tưởng của chính mình.

Đó là quá trình hoạt động của bộ não để đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ đó đi sâu vào các tầng bản chất của các sự vật, hiện tượng và phát hiện ra tính quy luật của chúng.

Đỉnh cao của quá trình này là khái niệm hoá, từ đó xác định những luận điểm, những tư tưởng thể hiện bằng những mệnh đề phán đoán, suy lý”[3].

Còn sáng tạo (Creativity) theo PGS Phan Dũng “là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính mới và tính ích lợi”[4]; hay theo GS Đặng Xuân Kỳ thì sáng tạo là “sẵn sàng từ bỏ những cái cũ không đúng, những gì là lạc hậu, lỗi thời, những cái cũ đã đúng trước kia nhưng đến nay không còn phù hợp; tìm tòi, đề xuất những cái mới có thể trả lời được những câu hỏi mà cuộc sống đặt ra.

Cái mới có bao hàm những giá trị cũ, nhưng lại vượt lên trên cái cũ, bổ sung thêm những giá trị mới”[5].

Tư duy sáng tạo là một loại hoạt động của não bộ, hệ thần kinh người để khám phá, phát hiện những cái mới góp phần định hướng hành động đem lại lợi ích cho con người trong các hoạt động sống.

2. Cần khẳng định rằng, ở HCM có tư duy sáng tạo. “Sáng tạo, sáng tạo và sáng tạo là tư duy của Người trong cuộc sống”[6].

Không chỉ có tư duy sáng tạo, mà hơn thế, ở HCM còn có cả một phong cách tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn[7]. Đây là điểm nổi bật, nét đặc sắc trong phong cách tư duy HCM.

Tư duy sáng tạo ở HCM được hình thành từ rất sớm. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi đất nước ta còn chìm đắm trong vòng nô lệ của chủ nghĩa thực dân Pháp.

Các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra sôi nổi. Nhưng tất cả đều thất bại. Điều đó cho thấy, Việt Nam đang trong cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước.

Chính trong bối cảnh đó, HCM xuất hiện và bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, bằng trí tuệ sáng suốt và với tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của mình, Người đã xuất dương sang phương Tây (chứ không sang phương Đông) đi tìm một con đường cứu nước mới cho dân tộc.

Trước đó, cụ Phan Bội Châu đang ở Nhật cho người về liên hệ để đưa HCM sang Nhật, nhưng Người đã khước từ. Về sau ta biết, do con đường cứu nước mà cụ Phan khởi xướng, theo HCM là không phù hợp nên Người đi theo.

HCM cho rằng, chủ trương dựa vào Nhật để đuổi Pháp chẳng khác nào “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Tương tự, cụ Phan Chu Trinh chủ trương dựa vào Pháp để cải cách chế độ Nam triều cũng không được HCM tán thành.

Cả con đường đấu tranh vũ tranh chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám HCM cũng không nhất trí, vì theo Người, cụ Hoàng còn nặng cốt cách phong kiến[8].

Hướng sang phương Tây, đi sang nước Pháp, nơi phát sinh những từ: Tự do, Bình đẳng, Bác ái là lựa chọn của HCM. Những từ này là các khái niệm mới của giá trị văn hoá, văn minh phương Tây, chúng có sức hấp dẫn lớn với HCM.

Nhưng có thể, ngoài sự thu hút của những giá trị của ba từ này, trong suy tư của HCM còn ẩn chứa cả triết lý, tư tưởng quân của phương Đông: muốn thắng kẻ thù thì phải hiểu kẻ thù (“Biết địch, biết ta trăm trận, trăm thắng”)[9].

HCM muốn tìm hiểu sâu kẻ thù của dân tộc mình, đặng tìm ra phương hướng đấu tranh giành thắng lợi cho dân tộc. Nếu ở HCM không có tư duy sáng tạo sẽ không thể có hành động bôn ba hải ngoại, đi sang phương Tây như chúng ta thấy.

Sau gần 10 năm bôn ba hải ngoại, vừa lao động kiếm sống vừa học hỏi, lăn lộn trong phong trào đấu tranh của những người vô sản, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin (1920). Chính học thuyết khoa học và cách mạng này đã nâng tư duy sáng tạo HCM lên một tầm cao mới.

Để có thể tiếp nhận được một học thuyết ở tầm cao của trí tuệ nhân loại như chủ nghĩa Mác-Lênin, HCM phải là một người có trình độ nhận thức nhất định và một khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo ở tầm tương xứng.

Từ tư duy sáng tạo, qua hoạt động thực tiễn từng bước HCM hình thành cho mình hệ tư tưởng riêng, trong đó kết tinh những tinh hoa dân tộc, kết hợp với những giá trị tư tưởng, văn hoá nhân loại.

Hệ thống tư tưởng HCM bao trùm toàn bộ những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam, từ đường lối, phương pháp cách mạng, chiến lược, sách lược, xây dựng Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân đến xây dựng kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội, đạo đức, con người; tư tưởng đoàn kết quốc tế, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, kết hợp lực lượng bên trong và bên ngoài, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam[10]

HCM sớm khẳng định: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Phải có tư duy sáng tạo mới nhận thức được rõ bạn thù, mới thấy được chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi và muốn giết con đỉa ấy phải đồng thời cắt cả hai cái vòi; mới nhận thức được cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa như hai cánh chim trong thời đại mới.

Từ nhận thức đúng đắn đó, HCM chủ trương: Việt Nam phải trong thì đoàn kết toàn dân tộc, ngoài thì liên lạc với vô sản giai cấp ở mọi nơi, thực hiện đoàn kết chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam với lực lượng cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, mới mong giành được thắng lợi.

Đặc biệt, Người cho rằng: “Lý luận do kinh nghiệm cách mạng ở các nước và trong nước ta, do kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện nay gom góp phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó thành ra lý luận. Nhưng phải biết khéo vận dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt trước làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”[11].

Đây là sự sáng tạo to lớn và có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Giới nghiên cứu nước ta căn bản thống nhất với nhau về điều này: TTHCM là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Khác với nhiều người, khi tìm hiểu nghiên cứu các lý thuyết, HCM luôn tìm ra bản chất, linh hồn, tinh thần của học thuyết đó, tiếp thu cái cốt của học thuyết từ đó vận dụng sáng tạo vào thực tế, đồng thời bổ sung để hoàn thiện hơn đối với học thuyết.

Điều này được HCM bộc bạch trong đoạn trả lời các nhà báo:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện của nước ta.

Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”.

Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”[12].

Tư duy sáng tạo của HCM, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp[13] thể hiện ở chín luận điểm lớn, đó là:

1) “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người… sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc”[14];

2) HCM là có cống hiến to lớn trong nghiên cứu chủ nghĩa thực dân và vấn đề đấu tranh giải phóng thuộc địa;

3) Luận điểm cách mạng ở các nước thuộc địa có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc;

4) Luận điểm tiến hành cuộc cách mạng không ngừng, từ cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa;

5) Nêu cao tư tưởng thống nhất nước nhà: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”; “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”;

6) Luận điểm về đảng cộng sản ở một nước thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu;

7) Những luận điểm sáng tạo về lực lượng, về bạo lực cách mạng và các hình thức đấu tranh, về sự thống nhất giữa tư tưởng bạo lực với lòng nhân ái, tinh thần nhân văn, yêu chuộng hoà bình;

8) Luận điểm liên quan đến tư tưởng nhân văn, về con người. Người cho rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”;

9) HCM đã “bổ sung, phát triển phương pháp luận Mác-Lênin, hình thành nên những quan điểm có tính phương pháp luận, với những nét đặc sắc riêng biệt”[16].

Ngoài ra còn nêu các luận điểm quan trọng khác: về chiến lược đại đoàn kết và chính sách Mặt trận dân tộc thống nhất; về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; xây dựng nhà nước pháp quyền; về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, v.v…;

Từ lâu nhân loại tiến bộ đã thừa nhận HCM là một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà hoạt động lỗi lạc trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Nhân kỷ niệm 100 năm sinh, UNESCO đã vinh danh Người với hai danh hiệu – Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất.

Điều gì đã làm nên một HCM như vậy?

Có nhiều yếu tố kết hợp tạo nên một HCM, trong đó có tư duy sáng tạo của Người. Đối với những người Mácxít-lêninít, HCM được xem là một trong số không nhiều lãnh tụ cách mạng trong thế kỷ XX đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin.

Muốn vận dụng thành công và phát triển đối với một học thuyết như chủ nghĩa Mác-Lênin thì dứt khoát phải là người có trí tuệ và bản lĩnh hơn người, đặc biệt là phải có phẩm chất, năng lực sáng tạo.

HCM là một trong những người có được phẩm chất và năng lực sáng tạo đáp ứng được yêu cầu của thời đại.

3. TTHCM là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng nước ta trong gần thế kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, TTHCM là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của dân tộc ta không chỉ trong quá khứ mà còn trong hiện tại và tương lai.

Để có được vị trí, vai trò to lớn như vậy, TTHCM được hình thành bắt nguồn từ những gì là tinh hoa của nhân loại, của dân tộc, được sàng lọc, đúc kết từ thực tiễn hoạt động và đặc biệt qua sự tiếp biến của trí tuệ HCM.

Tư duy sáng tạo (và nếu nói đầy đủ hơn là tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo) của HCM đã góp phần đáng kể trong việc tạo thành TTHCM – một di sản tinh thần có giá trị to lớn, không chỉ với Việt Nam, mà còn ở một mức độ nào đó, có giá trị không thể phủ nhận đối với nhân loại.

Chính vì thế, chúng ta, những hậu sinh của HCM rất cần tìm hiểu, và nếu có điều kiện thì, nghiên cứu sâu về tư duy sáng tạo của HCM để vận dụng vào không chỉ vào sự nghiệp cách mạng chung và vận dụng vào các lĩnh vực cụ thể của đời sống thường nhật của mỗi chúng ta.

Tài liệu tham khảo

01. Phan Dũng: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới, Nxb Trẻ, 2010.

02.https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/T%C6%B0_duy_l%C3%A0_g%C3%AC: Tư duy là gì?

03. GS Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, 2004.

04. Đỗ Hoàng Linh, Vũ Kim Yến: Phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2014.

05. GS Song Thành: Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, 2005.

04. Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990.


[1] – Phan Dũng: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới, Nxb Trẻ, 2010, tr. 63.

[2]https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/T%C6%B0_duy_l%C3%A0_g%C3%AC: Tư duy là gì?

[3] – Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, 2004, tr. 140.

[4] – Phan Dũng: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới, Nxb Trẻ, 2010, tr. 21.

[5] – Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, sđd, 2004, tr. 141.

[6] Mạch Quang Thắng: Phong cách tư duy sáng tạo, bài đăng trên: http://tapchiqptd.vn/vi/theo-guong-bac/phong-cach-tu-duy-ho-chi-minh/9640.html.

[7] Xin tham khảo sách Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh (do GS Đặng Xuân Kỳ chủ biên, Nxb Lý luận chính trị xuất bản năm 2004) và Chỉ thị số 05-CT/TW (15-5-2016) của Bộ Chính trị về «đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh», in trong Tạp chí Cộng sản, số 884 (6-2016).

[8] Đoạn trình bày trên dựa vào cứ liệu trong cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên viết, Nxb…

[9] Sau này, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai, từ tháng 5-1946 đến tháng 9-1946, HCM đã dịch tóm lược cuốn « Binh pháp tôn tử » sang tiếng Việt làm tài liệu cho cán bộ, bộ đội và nhân dân ta tham khảo.

[10] Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, 2004, tr. 144.

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 312.

[12] Dẫn theo Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 43.

[13] Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb… tr. 314.

[16] Võ Nguyên Giáp: Nghiên cứu, học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Công an nhân dân, 2006, tr. 203.

TẠO HỨNG THÚ CHO SV KHI HỌC MÔN TTHCM

1. Albert Einstein – nhà bác học vĩ đại của nhân loại – đã cho rằng: “Nghệ thuật quan trọng nhất của người thầy là đánh thức niềm vui trong lao động và trong nhận thức”, “Cần có cách dạy làm sao để học sinh cảm thấy những điều họ được học là một quà tặng quý giá chứ không phải là một nhiệm vụ ngán ngẩm”[1].

Còn GS Hồ Ngọc Đại chủ trương: “Đi học là hạnh phúc”, “Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui”[2] trong hệ thống trường thực nghiệm của ông, v.v…

Như vậy, xem ra việc tạo sự hưng phấn, hứng thú trong học tập là điều hết sức cần thiết của hoạt động dạy học. Bởi vì, “từ hứng thú” sẽ dẫn đến “tài năng”, nói giản dị hơn, có hứng thú thì học tập mới đạt kết quả tốt đẹp.

Theo hướng suy tư như vậy, bài viết này sẽ trình bày một vài suy nghĩ trong việc tạo hứng thú cho sinh viên khi giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh (TTHCM) ở các trường đại học, cao đẳng không chuyên ngành hiện nay.

2. Chúng ta đều biết, TTHCM là một trong những môn học thuộc về lĩnh vực lý luận chính trị, có chức năng cung cấp, trang bị cho sinh viên những tri thức cơ bản nhất về lý luận chính trị thông qua việc học tập, nghiên cứu tư tưởng của một CON NGUỜI vĩ đại, tiêu biểu cho tinh hoa, khí phách của dân tộc Việt Nam – người đã được UNESCO phong tặng hai danh hiệu cao quý (1990): Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chính nhờ tư tưởng của Người mà trong gần thế kỷ qua, cách mạng Việt Nam đã vượt qua bao sóng gió, thác gềnh và giành được những thắng lợi to lớn như ngày nay.

Phải thừa nhận rằng, đây là một môn học mà nội dung của nó bao chứa rất nhiều kiến thức của những lĩnh vực khác nhau, từ triết học, chính trị học, sử học, văn hoá học, xã hội học cho đến các lĩnh vực khác như quân sự, ngoại giao, khoa học kỹ thuật, v.v…

Có thể nói, TTHCM là một môn học mang tính tổng hợp/tích hợp của nhiều bộ môn khoa học. Nó là một hệ thống tri thức vừa nặng về lý luận, gắn chặt với chính trị, lại vừa trừu tượng và ít độ “cởi mở”, thông thoáng như nhiều môn học khác.

Trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng không chuyên ngành, TTHCM thuộc khối kiến thức đại cương, nên thường được bố trí giảng dạy cho sinh viên vào năm học thứ nhất hoặc thứ hai.

Trong bối cảnh, sinh viên vừa mới chân ướt chân ráo bước vào đại học, cao đẳng. Hầu hết với tuổi đời còn trẻ, phương pháp, kinh nghiệm học tập ở bậc đại học chưa có, độ trải nghiệm cuộc sống chưa nhiều, thì đây chính là những “rào cản” đối với họ khi học tập, nghiên cứu môn học.

Có một thực tế trong những năm qua là phần lớn sinh viên đều gặp khó khăn và ít có hứng thú khi học tập, nghiên cứu môn học này[3].

Từ đó một vấn đề được đặt ra, để biến một môn học khô khan, trừu tượng, khó học, khó hiểu và ít thu hút được sinh viên thành môn học được nhiều sinh viên thích thú là công việc không hề dễ dàng.

Qua thực tế cho thấy, việc thích hay không thích một môn học nào đó không phụ thuộc vào người học mà chủ yếu do người thầy giảng dạy môn học đó quyết định. Nếu có kiến thức chuyên môn sâu rộng và vững vàng, kết hợp với khả năng sư phạm tốt thì người giáo viên vẫn có thể biến một môn học trừu tượng, khô khan, khó học thành môn học được sinh viên yêu thích.

Vậy làm thế nào để biến Tư tưởng Hồ Chí Minh thành một môn học thu hút được sinh viên và khi học tập, nghiên cứu họ cảm thấy hứng thú?

Chúng ta đều biết, hoạt động dạy và học luôn liên quan đến ba yếu tố: người học, người dạy và môi trường. Tạm gác hai yếu tố người học và môi trường sang một bên để chỉ tập trung vào xem xét, phân tích nhằm làm nổi bật vai trò, tầm quan trọng của người thầy trong việc tạo ra hứng thú cho người học…

Qua thực tiễn mấy chục năm đi học và đi dạy (đại học), bản thân tôi nhận thấy, để tạo ra hứng thú cho sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu thì cần phải thực hiện tốt các công việc sau đây:

– Thứ nhất: Phải chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc giáo án, bài giảng, tài liệu liên quan cùng các phương tiện, thiết bị dạy học cần thiết cho mỗi tiết giảng.

Chuẩn bị càng công phu, chu đáo, nghiêm túc bao nhiêu thì càng có cơ sở để thực hiện thành công giờ giảng, buổi giảng bấy nhiêu. Chỉ khi chuẩn bị tốt người thầy mới cảm thấy tự tin, chủ động và tạo cho mình được hứng thú khi đứng trên bục giảng.

Theo quan niệm dạy học mới, người thầy không thể đơn thuần là người thuyết trình mà chủ yếu là MC dẫn dắt người học trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, phương pháp, kỹ năng của môn học.

Và để dẫn dắt, thu hút, thu phục được người học thì việc nắm chắc kịch bản (giáo án, bài giảng), cùng với việc sử dụng thuần thục các phương tiện, thiết bị hỗ trợ, các thủ thuật, phương pháp… mới tạo nên thành công cho bài học.

– Thứ hai: Phải biết kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố, phương tiện, phương pháp, công cụ… khác nhau để truyền đạt kiến thức, kỹ năng cơ bản của môn học đến sinh viên một cách hiệu quả.

Trên đại thể, giáo viên cần thiết phải sử dụng ngôn ngữ, các phương tiện (thô sơ hoặc hiện đại, hoặc kết hợp cả hai) để thực hiện nhiệm vụ của mình. Mỗi công cụ được sử dụng đều có một thế mạnh riêng.

Tuy nhiên, vấn đề ở đây là sử dụng những công cụ nào, sự kết hợp giữa chúng ra sao, đến mức độ nào để đem lại kết quả như mong muốn là do người giáo viên căn cứ vào tình hình dạy học cụ thể để quyết định.

– Thứ ba: Theo lập luận đã trình bày ở trên, dưới đây xin nêu vài ý kiến trong việc sử dụng một số công cụ, phương tiện chính trong giảng dạy môn TTHCM:

Sử dụng ngôn ngữ: Đối với bất cứ môn học nào, khi giảng dạy người giáo viên cũng phải sử dụng đến ngôn ngữ (ngôn ngữ nói và viết, hay động tác, ký hiệu – ngôn ngữ cơ thể) để trình bày các nội dung, các vấn đề của môn học.

Để đạt hiệu quả và tạo nên hứng thú cho người học, giáo viên phải biết phối kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn các ngôn ngữ nêu trên.

Đối với môn TTHCM, ngôn ngữ nói được sử dụng nhiều nhất, vì đây là môn học không có công thức, từ ngữ phải trình bày nhiều ở trên bảng như các môn: Toán, Tin học, Ngoại ngữ…

Để thu hút và truyền được cảm hứng cho người học, người giảng cần lưu ý đến các khía cạnh khi thuyết giảng, trình bày như: âm lượng (to, nhỏ), tốc độ (nhanh, chậm, trung bình), nhịp điệu, sắc thái (du dương, ấm áp, trầm hùng, đanh thép), v.v… của lời nói (hay ngôn ngữ nói).

Nếu một giảng viên có khả năng sư phạm tốt, giàu kinh nghiệm, khi giảng bài với một chất giọng phù hợp và luôn có sự điều tiết, biến đổi thích hợp trong từng bài, trong mỗi một nội dung thì chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cao và tạo được hứng thú cho người học.

Ngược lại, người học sẽ cảm thấy buồn ngủ khi giáo viên từ đầu đến cuối một buổi giảng, hay một tiết giảng chỉ nói bằng mỗi một ngữ điệu, một giọng điệu – đều đều thì sẽ dễ dàng đưa người học vào trạng thái buồn ngủ mà thôi!

Theo tôi, mỗi giáo viên cần thiết phải nhận thức được, mình có những thế mạnh và những hạn chế gì để từ đó, có cách xử lý các khía cạnh trên đây cho phù hợp mới mong gặt hái được thành công trong việc tạo nên được hứng thú cho sinh viên khi học tập. 

Trong giảng dạy, cần lưu ý đến việc sử dụng từ ngữ, câu chữ cho phù hợp. Nếu biết sử dụng những từ ngữ, những câu chữ chọn lọc, hình ảnh, dễ hiểu, “sáng giá” và hợp với tâm lý lứa tuổi của người học sẽ có tác dụng tạo ấn tượng và hiệu quả cao trong giảng dạy.

Có thể nói, đây chính là một trong những hình thái biểu thị sự tương tác giữa giáo viên – sinh viên có tác dụng tích cực, mang lại hiệu quả trong hoạt động dạy học.

Đưa các mẩu chuyện vào bài giảng: Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có lợi thế hơn so với một số môn học khác ở chỗ có rất nhiều mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong khi giảng, nếu giáo viên biết chọn lọc một số mẩu chuyện hay, có ý nghĩa giáo dục, rồi khéo léo đưa vào bài giảng sẽ tạo nên sự sinh động, hấp dẫn, vừa tạo hứng thú, vừa tăng tính thuyết phục đối với sinh viên.

Một ví dụ, khi giảng chương 1, tôi thường kể cho sinh viên nghe câu chuyện Anh thanh niên Nguyễn Tất Thành rủ một người bạn cùng đi ra nước ngoài với mình; người bạn hỏi Anh: lấy tiền ở đâu để đi? Anh Thành đã giơ hai bàn tay của mình ra và nói: Tiền đây!…

Sau đó, tôi phân tích để sinh viên thấy tinh thần yêu nước lớn lao và dũng khí của Hồ Chí Minh trong thời điểm ra đi tìm đường cứu nước. Người quyết tâm ra đi với hai bàn tay trắng, thông qua lao động của mình để kiếm sống và hoạt động cách mạng.

Một mẩu chuyện nhỏ nhưng là một bài học quý giá cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, về dũng khí… Bài giảng trở nên sinh động và tăng tính thuyết phục hơn, đồng thời cũng tạo thêm hứng thú cho sinh viên.

Đặt các câu hỏi trong bài giảng: Rất cần phải đặt ra các câu hỏi xoay quanh nội dung, vấn đề đang học để sinh viên suy nghĩ, tìm câu trả lời.

Câu hỏi đặt ra là để kích thích sự suy nghĩ độc lập của sinh viên, buộc họ chủ động tham gia vào bài học và cao hơn để thực hiện một sứ mệnh mới – dạy phương pháp học, phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề – một triết lý mới đang được thế giới hiện đại cổ suý và thực hiện.

Sử dụng các phương tiện hiện đại: Không thể nghi ngờ gì nữa, việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại trong giảng dạy hiện nay là rất cần thiết. Bởi các công cụ, phương tiện, công nghệ mới này sẽ hỗ trợ rất tích cực, hiệu quả cho việc dạy học[4].

Tuy nhiên các phương tiện, công nghệ mới phải được sử dụng một cách thích hợp trong sự kết hợp với các yếu tố khác mới đem lại kết quả như mong muốn.

Trong những năm gần đây, với những nỗ lực để chuyển mình theo hướng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và thương hiệu của mình, trường ta (trường Đại học Thương mại) đã đầu tư thích đáng hơn về cơ sở vật chất kỹ thuật so với trước đây.

Với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có như vậy, giáo viên các bộ môn có thể sử dụng những trang thiết bị này để giảng dạy môn học mình phụ trách một cách hiệu quả hơn.

Dựa trên cơ sở dữ liệu (bộ đĩa CD) được Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp, giáo viên giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh cần tìm kiếm, khai thác thêm các đĩa DVD, VCD khác có chứa các tư liệu văn bản, film ảnh, ca nhạc về Hồ Chí Minh để sử dụng vào dạy  học sẽ đem lại kết quả tốt hơn.

Trong năm học 2007-2008 đến nay, ở nhiều lớp chính quy, tại chức, bản thân tôi đã khai thác các đĩa DVD, VCD – “Một nét danh nhân”, “Hồ Chí Minh, chân dung một con người”, v.v… để giảng dạy.

Những đoạn film tư liệu, có hình ảnh, âm thanh, những bài hát ca ngợi Hồ Chí Minh sẽ giúp cho bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn hơn rất nhiều.

Qua thực tế cho thấy, nếu biết kết hợp hài hoà, hợp lý các công cụ là ngôn ngữ, các mẩu chuyện, các đoạn video clip, film ảnh, ca nhạc, v.v… trong giảng dạy sẽ đem lại tác dụng tích cực, tạo nên sự hấp dẫn đáng kể đối với sinh viên khi học tập, nghiên cứu môn học này.

3. Tóm lại, tạo hứng thú cho người học là một việc cần làm. Vẫn biết nói bao giờ cũng dễ; nhưng làm và làm được thì khó hơn nhiều. Song qua thực tế giảng dạy thử nghiệm trong hai năm nay, tôi có cơ sở để lạc quan và tin tưởng rằng, bản thân tôi (cũng như các đồng nghiệp của tôi) sẽ nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, trở ngại và vượt lên chính mình để trong tương lai không xa, biến một môn học trừu tượng, “rất chính trị” và không dễ học trở thành một môn học sinh động, thu hút và tạo được hứng thú nơi người học.

Tài liệu tham khảo

1. Albert Einstein: Thế giới như tôi thấy, Nxb Tri thức, 2007.

2. Hồ Cúc Phương: GS.TSKH Hồ Ngọc Đại: Người không xuôi dòng, Tạp chí Truyền hình Việt Nam, số 174, kỳ II, tháng 5/2010.

2. Guy Palmade: Các phương pháp sư phạm, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002.

3. Jean-Marc Denommé & Madeleine Roy: Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác, Nxb Thanh niên, Tạp chí Tri thức & Công nghệ, 2000.

4. Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên): Học và dạy cách học, Nxb Đại học sư phạm, 2002.

5. Đại học quốc gia, Khoa Sư phạm: Giáo dục học đại học, Hà Nội, 2003.

6. TS Vũ Ngọc Am (Chủ biên): Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2009.

7. Lê Thị Sáu: “Một số lưu ý khi giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng”, trong Tạp chí Giáo dục, số 213 (kì 1 – 5/2009).

8. Giáo sư Song Thành: Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, 2005.

(Đã đăng tạp chí Giáo dục và in trong sách “Góp phần phát triển văn hóa và giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, 2016)

TS. Bùi Hồng Vạn


[1] – Albert Einstein: Thế giới như tôi thấy, Nxb Tri thức, 2007, tr.49 và 52.

[2] – Dẫn theo Hồ Cúc Phương, GS.TSKH Hồ Ngọc Đại: Người không xuôi dòng, đăng trên Tạp chí Truyền hình Việt Nam, số 174 – Kỳ II, tháng 5/2010, tr. 22.

[3] – Tình trạng này không chỉ xẩy ra đối với môn Tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn đối với cả các môn học Lý luận chính trị khác như: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (trước đây), hay các môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay.

[4] – Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Sư phạm: Giáo dục học đại học, Hà Nội, 2003, tr.138-139.

ĐỨC PHẬT – BẬC “ĐẠI SƯ” CỦA NHÂN LOẠI

1. Nói theo ngôn ngữ Phật giáo thì tựa đề bài viết này nên/phải là “Đức Phật truyền bá (hay xiển dương) đạo pháp”, nhưng truyền bá cũng tức là dạy học. Cho nên bài viết giật “tít” là “Đức Phật dạy học” cũng không sai…

Tuy nhiên câu chuyện Đức Phật dạy học là cả một đề tài lớn mà trong khuôn khổ một bài báo nhỏ không thể luận bàn hết được. Vì thế tác giả bài viết này quyết định khuôn vấn đề lại trong vài khía cạnh thuộc về phương pháp dạy học của Đức Phật mà thôi.

Nếu ai quan tâm tìm hiểu Đạo Phật đều biết, Đức Phật vốn là thái tử con vua nước Tịnh Phạn thời cổ ở Ấn Độ. Khi chưa xuất gia, Ngài sống một cuộc đời sung sướng, đầy đủ trong nhung lụa, có vợ đẹp con ngoan. Vậy mà vào năm 29 tuổi Ngài quyết chí từ bỏ tất cả để xuất gia, đi tìm con đường giải thoát cho mình và cho chúng sinh[1].

Sau 6 năm trải bao khó khăn, gian khổ Thái tử Tất Đạt Đa (tên Đức Phật thời trẻ) đã đắc Đạo (giác ngộ), thành Phật. Sau ba lần Phạm Thiên (một vị trời) khẩn cầu, Ngài quyết định vận bánh xe pháp (Chuyển pháp luân) – truyền bá chân lý mình chứng ngộ để hướng dẫn chúng sinh trên con đường giải thoát.

Theo truyền thuyết, Đức Phật còn ở lại dưới gốc cây bồ đề 21 ngày nữa để suy ngẫm và hân hưởng đạo lý mình chứng ngộ. Đây cũng là thời gian Ngài truyền bá Đạo pháp cho chư Thiên.

Sau đó Đức Phật rời gốc Bồ đề bước vào cuộc đời hoằng pháp của một bậc đạo sư. Năm anh em nhà Kiều Trần Như là những người được Đức Phật truyền pháp đầu tiên, họ nhanh chóng chứng quả A la hán[2]. Từ đây, tăng đoàn Phật giáo bắt đầu hình thành và càng ngày càng lớn mạnh.

2. Tri kiến mà Đức Phật chứng ngộ là vô cùng lớn, nhưng Ngài chỉ truyền dạy cho chúng sinh một phần nhỏ trong số đó. Ngài nói: “Này các Tỳ kheo, điều ta biết thì quá nhiều, nhưng những gì ta dạy cho các ông thì rất ít; song đó là những gì cần thiết và căn bản cho sự giải thoát. Những gì ta dạy cho các ông? Chính là “Đây là Khổ”, “Đây là Khổ tập”, “Đây là Khổ diệt”, “Đây là con đường đưa đến Khổ diệt”[3]”.

Quan điểm của Đức Phật rất rõ, chỉ dạy những gì thiết thực nhất cho việc giải thoát chúng sinh khỏi đau khổ, bất như ý. Quan điểm này tương đồng với quan điểm dạy học của trường phái thực dụng trong giáo dục học hiện đại, mà tiêu biểu có thể kể đến là John Dewey[4].

Để giúp chúng sinh tu đạo hướng đến giải thoát, Đức Phật đã tạo ra và sử dụng 84 ngàn pháp môn. Không biết con số này xác thực đến đâu? Rất khó xác minh. Ở đây chúng ta chỉ cần ghi nhớ một điều – Đức Phật đã dùng rất nhiều phương cách để giúp chúng sinh tu hành đạt thành chính quả.

Đức Phật dùng nhiều pháp môn như vậy là vì chúng sinh đa dạng, có căn tính, trình độ nhận thức rất khác nhau… Do đó phải dùng nhiều phương pháp cho phù hợp với mỗi loại đối tượng, song cái đích mà Đức Phật nhắm tới vẫn chỉ có một, đó là giải thoát: “Này hỡi Tỳ-Khưu, cũng như nước của đại dương hùng dũng chỉ có một vị là vị mặn của muối. Giáo pháp chỉ có một vị là vị Giải thoát (Vimutti)”[5].

Đức Phật truyền bá đạo pháp cho tất cả những ai muốn theo học và tu hành, không hề có sự phân biệt. Các đệ tử của Phật có nguồn gốc xuất thân rất phong phú, đa dạng, bao gồm đủ loại chúng sinh.

Chỉ nói riêng về “Nhân”, tức người, cũng đã phong phú rồi: Vua chúa, thương nhân, nông dân, thợ thủ công, đạo sĩ, sa môn, trộm cướp, giang hồ, đĩ điếm, v.v…

Việc chấp nhận mọi đối tượng để giáo hoá, cứu vớt rõ ràng là tư tưởng và hành động tiến bộ vượt bậc mà không một nhà giáo dục, nhà tư tưởng nào thời cổ có trong lịch sử nhân loại. Cùng thời ở Trung Hoa, Khổng tử cũng có hướng tới đại chúng, nhưng Ngài không chủ trương thu nạp phụ nữ vào đội ngũ giáo hoá của mình.

Nội dung Đức Phật dạy là những tri kiến phản ánh chân thực về vũ trụ, nhân sinh, đồng thời vạch ra con đường giải thoát đúng đắn cho chúng sinh. Đó là Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên, Vô thường, Vô ngã, Tam vô lậu (Giới, Định, Tuệ)…

Đạo phật là những tri kiến cao siêu, do đó không phải ai cũng có thể dễ dàng lĩnh hội. Từ thực tế này, Đức Phật đã sáng tạo ra rất nhiều cách thức, phương pháp, phương tiện (thiện xảo) khác nhau để truyền bá chánh pháp, hướng tới đạt mục tiêu và hiệu quả. Thời nay, chúng ta sử dụng rất nhiều cách thức, phương tiện, kỹ thuật khác nhau và kết hợp chúng với nhau trong dạy học. Các hình thức – thuyết giảng, nêu vấn đề, đàm thoại, thảo luận, tự học, tự nghiên cứu trên nền tảng kết hợp sử dụng các loại máy móc, công nghệ như máy tính, internet, truyền hình, radio, video… được áp dụng phổ biến.

Thời Đức Phật khoa học công nghệ chưa phát triển. Để truyền bá đạo pháp, Đức Phật và các đệ tử của Ngài chủ yếu dùng lời nói để dạy học. Thông qua thuyết giảng, đàm thoại… Đức Phật truyền tải chánh pháp cho các đệ tử, chúng sinh. Chánh pháp rất cao siêu vi tế, không phải mọi người đều có thể dễ dàng lĩnh hội. Vì thế, Đức Phật phải tuỳ theo căn cơ, trình độ và hoàn cảnh cụ thể của chúng sinh để có cách thức hướng dẫn, dìu dắt họ tiến đến mục tiêu giải thoát.

Một trong những cách thức mà Đức Phật đã làm là phân đối tượng thành 5 loại. Các tài liệu Phật học gọi là “ngũ thừa giáo”. Theo đó, mỗi loại trong ngũ thừa được Đức Phật truyền dạy một loại giáo lý phù hợp với căn cơ, trình độ của đối tượng. Cụ thể là:

1) Với những người có trình độ nhận thức thấp kém, nông cạn và còn bị nhiều đòi hỏi của dục vọng, tham sân si thì Đức Phật đem Tứ diệu đế giảng cho họ. Mục đích là để loại bỏ dần những dục nhiễm và  đồng thời khai sáng tâm trí cho họ.

2) Với những người có trình độ kiến thức tương đối cao (trí thức), Đức Phật thuyết giảng về Lý nhân duyên (thuyết duyên khởi, Thập nhị nhân duyên). Mục đích là giúp những người này nhận thấy rõ mối tương quan, tương duyên chặt chẽ trong đời này và đời trước giữa họ với người thân trong gia đình và với mọi người trong xã hội.

Từ sự hiểu biết ngọn nguồn như thế sẽ giúp họ sống có ý nghĩa, giải quyết mọi việc theo cách tốt đẹp nhất và xây dựng một xã hội an vui, hạnh phúc.

3) Với những người trong quá khứ đã từng trồng những căn lành và đã phát huy được trí tuệ vô lậu[6]. Do phước đức như vậy khi tái sinh trên cõi đời này họ có những điều kiện rất tốt đẹp như thông minh, khoẻ mạnh, có thành tựu rất cao về cả vật chất, tinh thần, địa vị xã hội và họ có đời sống phạm hạnh xứng đáng là biểu tượng cho mọi người kính ngưỡng.

Đối với những người này, họ đang tiếp bước trên con đường đạo, Đức Phật sẽ hướng dẫn họ thực hiện sáu ba la mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ) để tiến tới Niết bàn, thành tựu quả vị giác.

4) Đối với hàng nhân thừa (những người bình thường trong xã hội), Đức Phật truyền dạy cho họ nguyên tắc sống theo Tam quy (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng), Ngũ giới (Không sát sinh, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không nói dối, Không uống rượu) để họ tu tập trở thành người tốt trong xã hội.

5) Còn với những người có điều kiện có thể vươn cao hơn so với vị trí của loài người, tức hàng Chư Thiên thì Đức Phật dạy họ mười điều lành để trở thành biểu tượng được chúng sinh tôn kính[7].

Việc phân đệ tử thành 5 loại này cũng giống như trong giáo dục đào tạo ngày nay khi ta chia học sinh thành các loại khác nhau, từ đó có phương pháp giáo dục tương ứng với khí chất, trình độ, khả năng để hoạt động dạy học đạt hiệu quả.

Đức Phật còn dùng cách dạy học mà thời nay dường như chúng ta không thấy trong các nhà trường hiện đại (trừ hệ thống giáo dục Phật giáo), đó là không sử dụng đến ngôn ngữ nói. Trong Truyện cổ Phật giáo có ghi lại mẩu chuyện:

“Một hôm lúc đang thuyết pháp trên đỉnh núi Linh Thứu, Đức Phật nói với chúng sinh rằng, không lâu nữa Ngài sẽ nhập Niết bàn, nếu vị nào muốn hỏi pháp thì mau nói ra những điều còn khúc mắc trong lòng. Mọi người ngồi im.

Lúc đó, có vị Đại Phạm Thiên vương chủ cõi Ta Bà dâng lên Đức Phật một bông hoa sen sắc vàng. Sau đó lui lại đảnh lễ và thưa: “Trong khoảng năm mươi năm từ lúc Đức Thế Tôn thành Phật đến nay, Người đã thuyết vô vàn giáo lý để khai thị cho chúng sinh, cũng như hoá độ cho tất cả chúng sinh đủ mọi căn cơ. Nếu như có một đại pháp nào còn chưa nói, khẩn thỉnh Thế tôn hãy vì chúng con và những hành giả tu Bồ Tát đạo sau này, hoặc chúng sinh phàm phu muốn tu Phật đạo mà diễn bày pháp ấy”.

Nói xong Đại Phạm Thiên vương hoá thân thành một toà báu rất trang nghiêm, thỉnh Thế Tôn ngồi lên trên ấy.

Đức Phật nhận và ngồi lên toà báu ấy mà không nói năng gì, nhưng Ngài đã hướng về đại chúng và cầm cành hoa sen đưa lên. Lúc đó đại chúng đưa mắt nhìn nhau mà không hiểu hành động của Như Lai là gì.

Duy chỉ có mỗi trưởng lão Ma ha Ca Diếp hiểu được sự khai thị của Đức Phật, đó là pháp môn vô thượng, nên ngài đã mỉm miệng cười, rồi sau đó đứng dậy, chắp tay đứng ngay ngắn và cũng im lặng không nói gì cả.

Lúc này, Đức Thích Ca tuyên thị với đại chúng rằng: “Đúng vậy! Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, không lập văn tự, truyền ngoài giáo lý, tổng trì nhậm trì, phàm phu thành Phật, đệ nhất nghĩa đế, nay phó chúc cho ông Ma ha Ca Diếp[8]”.

Chuyện trên có tên là “Niêm hoa vi tiếu”, rất nổi tiếng trong Đạo Phật. Những kinh điển, những sách viết về Phật giáo, nhìn chung rất khó hiểu.

Bạn đọc chả nên bận tâm đến những từ ngữ khó hiểu đó làm gì, chỉ cần lưu ý – câu chuyện trên phản ánh một kiểu dạy học đặc biệt, mà về sau được các bậc đạo sư, nhất là các vị theo trường phái Thiền đốn ngộ hay dùng, đó là kiểu dạy học “tâm truyền tâm” (còn được gọi là “truyền mật và nhận mật”), “không qua văn tự ngôn ngữ, dĩ tâm truyền tâm”[9]. Theo cách dạy này, người thầy truyền đạt tri kiến của mình một cách trực tiếp cho học trò không dùng ngôn ngữ nói, song học trò vẫn lĩnh hội được điều thầy muốn truyền đạt. Trong truyện, mặc dù có rất đông chúng sinh tham dự, nhưng chỉ có Ma ha Ca Diếp (người đã chứng được thực tướng) có khả năng hiểu được ý của Đức Phật, Ngài chỉ mỉm cười, chắp tay đứng yên mà không nói gì…

Trong các bài thuyết giảng, Đức Phật hay dùng hình thức đặt câu hỏi để khuyến khích đệ tử suy tư, từ đó nhận thức được nội dung bài học (Socrate, Đức Khổng tử cũng thường làm như vậy) hoặc bằng cách dẫn dắt để cuối cùng Ngài đưa ra kết luận của mình.

Khi thuyết kinh Vô ngã tướng, Đức Phật liên tiếp đặt ra các câu hỏi: – Này các Tỳ kheo, nếu sắc thân có ngã tướng (vô ngã) thì sắc thân không phải chịu đau khổ, bệnh hoạn, già nua, hoại diệt. “Thân ta có thể như thế này, thân ta cũng có thể không phải như thế này”, cả hai trường hợp đều có thể được. Nhưng vì sắc không có ngã, nên sắc phải chịu đau khổ, và không thể xác định “Thân ta thế này, thân ta không phải thế này”. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô ngã, không có thật thể. Cả năm uẩn đều luôn luôn biến đổi không ngừng. Vậy, này các Tỳ kheo, các thầy nghĩ thế nào? Thân này là thường hay vô thường?

– Bạch Đức Thế Tôn, là vô thường.

– Cái gì vô thường là hạnh phúc hay đau khổ?

– Bạch Đức Thế Tôn, là đau khổ.

– Vậy, có hợp lý chăng, nếu nghĩ đến cái gì vô thường, đau khổ và tạm bợ với ý tưởng: “Cái này của tôi; cái này là tôi; cái này là bản ngã của tôi”?

– Bạch Đức Thế Tôn, chắc chắn là không hợp lý.

– Cũng vậy, này các Tỳ kheo, thọ, tưởng, hành và thức đều là vô thường và đau khổ. Có hợp lý chăng, nếu nghĩ rằng những cái vô thường, đau khổ và tạm bợ đó là “của tôi, chính tôi, bản ngã của tôi”?

– Bạch Đức Thế Tôn, chắc chắn là không hợp lý.

– Như vậy, này các Tỳ kheo, đối với tất cả sắc thân, dù ở quá khứ, hiện tại hay vị lai, dù ở trong hay ở ngoài, thô kệch hay vi tế, thấp hay cao, xa hay gần, các thầy đều nên nhận thức đúng với thực tế của nó: “Thân này không phải tôi, thân này không phải là tôi, thân này không phải là bản thể của tôi. Tất cả thọ, tưởng, hành, thức, dù ở quá khứ, hiện tại hay vị lai, dù ở trong hay ở ngoài, thô kệch hay vi tế, thấp hay cao, xa hay gần, các thầy đều nên nhận thức đúng với thực tế của chúng:

Những thứ này không phải của tôi, những thứ này không phải là tôi, những thứ này không phải là bản thể của tôi. Bậc thánh đệ tử nhận thức được như vậy sẽ nhàm chán sắc thân, thọ, tưởng, hành, thức; xa lìa năm uẩn nhơ nhớp, và được giải thoát khỏi mọi ràng buộc.

Vị ấy sẽ tự biết rõ ràng: Ta đã được giải thoát, không còn tái sinh nữa, đời sống phạm hạnh đã được thành tựu, những điều phải làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa”[10].

 Đức Phật cũng thường kể một câu chuyện ngụ ngôn về đạo đức hoặc cùng tranh luận với đệ tử một cách nhã nhặn, sau đó đưa ra những câu kệ ngắn gọn mà trong đó Ngài đã đúc kết cô đọng những lời thuyết giảng để mọi người dễ nhớ. Hình thức dạy học này tỏ ra rất phù hợp, đắc dụng trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ. Bởi trong thời Đức Phật tại thế, việc dạy học hoàn toàn truyền khẩu, không có ghi chép gì.

 Đức Phật không bao giờ cưỡng ép trong giáo dục. Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật khẳng định mục tiêu mà Ngài hiện hữu trên cuộc đời này là để “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”[11].

Thực hiện sứ mệnh đó, Ngài truyền bá chánh pháp cho chúng sinh với tâm thế khuyên bảo mọi người nên theo điều thiện, bỏ điều ác, tinh tấn tu hành theo phật pháp để được giải thoát chứ tuyệt không hề thúc bách, cưỡng ép đối với bất cứ một ai…

Giáo dục theo tinh thần của Đức Phật là tự giác, tự nguyện và tự do tư tưởng. Điều này hết sức quan trọng trong giáo dục, không chỉ xưa mà cả ngày nay. Tinh thần này được nhiều thế hệ hậu sinh chia sẻ. Chẳng hạn như Albert Einstein:

“Giáo dục nhồi nhét tất yếu dẫn tới sự nông cạn và vô văn hoá. Cần có cách dạy làm sao để học sinh cảm thấy những điều họ được học là một quà tặng quý giá chứ không phải là một nhiệm vụ ngán ngẩm”[12].

3. Đức Phật được người ta dùng rất nhiều danh hiệu để gọi Ngài: Bậc Đại hùng, Đại lực, Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại xả[13]

Từ góc độ giáo dục, ta có thể gọi Ngài với danh hiệu là bậc Đại sư. Đức Phật là bậc đại sư, một bậc chân sư vĩ đại của nhân loại. Những cách thức, phương tiện, phương pháp mà Ngài sử dụng để truyền bá đạo pháp được đề cập vắn tắt trong vài viết là một ít minh chứng cho nhận định trên.

Giáo lý mà Đức Phật truyền bá cho chúng sinh có giá trị vô cùng to lớn, vì thế, nhà bác học vĩ đại bậc nhất của nhân loại là Albert Einstein đã cho rằng: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo của toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên, trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có đạo Phật đáp ứng đủ các điều kiện ấy[14]”.

Như phần mở đầu đã nói, nội dung bài viết không luận về giá trị của Đạo Phật mà chỉ phân tích một số khía cạnh liên quan đến phương pháp truyền đạo của Đức Phật. Mặc dù cách ngày nay gần 2.600 năm, nhưng những phương pháp mà Đức Phật đã dùng so với những phương pháp giáo dục thời nay cũng không có nhiều khác biệt.

Tìm hiểu và chắt lọc những tinh hoa trong “84 ngàn pháp môn” mà Đức Phật đã sử dụng rồi vận dụng vào sự nghiệp giáo dục ngày nay, thiết nghĩ là điều chúng ta nên/cần làm.

Tài liệu tham khảo

01. Đoàn Trung Còn: Phật học từ điển, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2009.

02. Thích Chơn Thiện: Tăng già thời Đức Phật, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2000.

03. Nàrada Thera: Đức Phật và Phật pháp, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999.

04. HT Thích Trí Quảng: Phật giáo nhập thế và phát triển, Nxb Tôn giáo, PL 2552-2008.

05. Pháp sư Thánh Nghiêm: Niêm hoa vi tiếu, Công ty sách Thời đại & Nxb Hồng Đức, 2014.

06. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Hoằng pháp Trung ương: Phật học cơ bản (Chương trình hàm thụ), Tập 1, Nxb Hồng Đức, 2013.

07. John Dewey: Dân chủ và giáo dục (Phạm Anh Tuấn dịch), Nxb Tri thức, 2008.

08. Trần Hữu Danh: Sự tích Đức Phật Thích ca, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2011.

09. Cư sĩ Nguyên Giác: Thiền Đốn ngộ và Những lời dạy từ các Thiền sư Việt Nam xưa, Nxb Hồng Đức, 2014.

10. Albert Einstein: Thế giới như tôi thấy, Nxb Tri thức, 2007.


[1] – Theo Đoàn Trung Còn: “Chúng-sanh là những loài có sanh ra”, “Chúng-sanh là vì chưa tự tỉnh, nên mãi luân chuyển trong sáu nẻo: Thiên (tiên), A-tu-la (thần), Nhơn (nhân, người), Địa ngục, Ngạ-quỉ (ma đói), Súc sanh” (Phật học từ điển, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2009, tr. 319-320).

[2] – Đây là quả Thánh thứ tư, người đắc quả này không còn lẫm lỗi, thoát khỏi phiền não, đạt tới sức mạnh huyền vi, tư tưởng tự do, tâm trí tự tại, biết hết tất cả… (Theo Đoàn Trung Còn: Phật học từ điển, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2009, tr. 98-99).

[3] – Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban hoằng pháp Trung ương: Phật học cơ bản (Chương trình Phật học hàm thụ), Tập 1, Nxb Hồng Đức, 2013, tr. 91.

[4] – Xin xem John Dewey: Dân chủ và Giáo dục (Phạm Tuấn Anh dịch), Nxb Tri thức, 2008.

[5] – Nàrada Thera: Đức Phật và Phật pháp (Phạm Kim Khánh dịch), Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, tr. 262.

[6] – “Vô lậu”: Một quan niệm của Phật giáo là không có các mối phiền não; đây là những bậc thánh, đã dứt mọi phiền não, thoát ra ngoài vòng luân hồi.

[7] – HT Thích Trí Quảng: Phật giáo nhập thế và phát triển, Nxb Tôn giáo, LP 2552-2008, tr. 86-87.

[8] – Dẫn theo PS Thánh Nghiêm: Niêm hoa vi tiếu, Công ty sách Thời đại & Nxb Hồng Đức, 2014, tr. 208-209.

[9] – Cư sĩ Nguyên Giác: Thiền Đốn ngộ và Những lời dạy từ Thiền sư Việt Nam xưa, Nxb Hồng Đức, 2014, tr. 5.

[10] – Dẫn theo Trần Hữu Danh: Sự thích Đức Phật Thích Ca, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2011, tr. 83-84.

[11] – HT Thích Trí Quảng: Phật giáo nhập thế và phát triển, Nxb Tôn giáo, LP 2552-2008, tr. 85.

[12] – Albert Einstein: Thế giới như tôi thấy, Nxb Tri Thức, 2007, tr. 49.

[13] – Gia Tuệ: “Lịch sử Đức Phật thích ca mâu ni” trong sách Phật học cơ bản (chương trình Phật học hàm thụ), tập 1, Nxb Hồng Đức, 2013, tr. 55.

[14] – Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban hoằng pháp Trung ương: Phật học cơ bản (Chương trình Phật học hàm thụ), Tập 1, Nxb Hồng Đức, 2013, tr. 29.

(Bài đã đăng tạp chí Dạy và Học ngày nay)

TS. Bùi Hồng Vạn

KHÁI NIỆM “TRUYỀN THỐNG” VÀ KHÁI NIỆM “TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG”

1. Giáo dục “truyền thống cách mạng” cho thế hệ trẻ và cho mọi người dân hôm nay là điều hết sức cần thiết. Nếu không, tiếp theo những di sản, di tích lịch sử ngàn xưa của dân tộc vừa bị phá huỷ sẽ là những di sản, di tích lịch sử của thời cách mạng hiện đại cũng dễ dàng chịu chung số phận như thế trong tương lai!

Đảng ta, người kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc luôn quan tâm và khẳng định rằng: “Cần phải kết hợp chặt chẽ yếu tố dân tộc với yếu tố quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để đưa đất nước đi lên”; “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước… chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên của chủ nghĩa xã hội”[2].

Thấm nhuần tinh thần trên, Bộ môn Lịch sử Đảng, trường Đại học Thương nghiệp Hà Nội, từ năm học 1990-1991 đã đề xuất nghiên cứu đề tài khoa học: “Giáo dục truyền thống cách mạng cho sinh viên thông qua môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở trường Đại học Thương nghiệp Hà Nội”.

Đề tài này triển khai trong nhiều năm, trong giai đoạn đầu, một phần nội dung được triển khai nghiên cứu là: Tìm hiểu khái niệm “truyền thống cách mạng” và những biểu hiện của nó trong Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đã có những buổi thảo luận ở Bộ môn về hai nội dung này; nhưng vẫn chưa đạt được sự thống nhất trong quan niệm chung của các thành viên tham gia, nhất là trong việc hiểu khái niệm “truyền thống cách mạng”. Bài này được tác giả viết ra nhằm nêu lên suy nghĩ ban đầu đóng góp vào cuộc thảo luận về cách hiểu khái niệm “truyền thống cách mạng”.

2. Rõ ràng để hiểu khái niệm “truyền thống cách mạng”, chúng ta phải bắt đầu từ việc hiểu khái niệm “truyền thống”. Bởi lẽ hai khái niệm này có mối quan hệ với nhau. Nếu xét theo giác độ ngoại diên của khái niệm thì khái niệm “truyền thống cách mạng” là một lớp (sự vật) cấu tạo nên khái niệm “truyền thống”. Điều đó có nghĩa là: “truyền thống cách mạng” là một “khái niệm hẹp” và là “khái niệm bộ phận” của “khái niệm rộng” – “truyền thống”.

          Vậy truyền thống là gì?

Đến nay đã có nhiều người giải thích, nêu quan niệm về khái niệm này nhưng dường như chưa có ai đưa ra được một định nghĩa “hoàn hảo” về nó. Xin dẫn ra đây một số quan niệm về khái niệm “truyền thống”:

1) Theo “Từ điển học sinh”, do Nxb Giáo dục ấn hành năm 1971, ở trang 629 giải thích: “Truyền thống. Đức tính tốt đẹp, điều đặc sắc truyền từ đời này sang đời khác”;

2) Còn theo “Từ điển tiếng Việt” do Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1977 thì, “Truyền thống – đức tính, tập quán, tư tưởng, lối sống… được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” (trang 812);

3) Trong cuốn sách “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1980, tác giả là giáo sư Trần Văn Giàu đã giải thích rằng: “Truyền thống là những đức tính, hay những thói tục kéo dài qua nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện còn nhiều tác dụng (tích cực hoặc tiêu cực)”, và “Giá trị truyền thống là chỉ những cái tốt thôi” (trang 50).

4) Trong cuốn “Nghi lễ xã hội chủ nghĩa”, do Nxb Ki-ép, xuất bản năm 1986 lại đưa ra định nghĩa:

“Truyền thống (tiếng Latinh là Traditio – sự truyền đạt, tường thuật). Đó là tất cả những gì được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, được mọi người thừa nhận, được thử thách bằng những kinh nghiệm đã qua, được công nhận một cách tất yếu để bảo đảm sự tồn tại và phát triển tiếp tục của cá thể, tập thể, giai cấp, quốc gia và xã hội. Mục đích của truyền thống là giữ vững, tái tạo cho thế hệ mới phương thức hoạt động của cuộc sống, hình thức tư duy và đạo đức. Khái niệm truyền thống được dùng như một cái tên chung cho những giá trị mà người ta thừa nhận trong chất lượng của di sản” (trang 86).

5) Giáo sư Tương Lai trong cuốn: “Những đặc điểm của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Bungari”, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1987 lại quan niệm:

“Truyền thống là sự lắng đọng tự nhiên của dòng sông lịch sử, mà lịch sử thì luôn luôn là một chuỗi của những giai đoạn tạm thời trong sự phát triển vô cùng tận từ thấp đến cao. Truyền thống chính là sự khẳng định về cái đã có như là một kết quả về mặt thực tế cũng như về mặt tâm lý. Dòng sông lịch sử không ngừng chuyển động, lớp phù sa mới bồi đắp làm màu mỡ mãi lên những gì đã có và đang có (…), là cái truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, truyền thống được mỗi thời đại thừa nhận và bảo vệ.

Như vậy có nghĩa là, giá trị truyền thống còn là giá trị khi điều kiện xã hội của giai đoạn lịch sử mới vẫn còn đủ cho những giá trị đó tồn tại, những giá trị ấy vẫn còn đáp ứng được nhu cầu của sự vận động và phát triển của giai đoạn mới. Một khi mà điều kiện xã hội và nhu cầu của giai đoạn lịch sử mới không còn thích ứng với những giá trị cũ nữa, thì truyền thống cũng không còn là truyền thống nữa, tính tích cực của truyền thống không còn nữa, nó dễ trở thành một gánh nặng đối với thế hệ hiện tại” (trang 191-194).

6) Giáo sư Vũ Khiêu trong cuốn “Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng văn hoá”, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1987 có quan niệm:

“Truyền thống là sự lắp lại những suy nghĩ, những cảm xúc, những hành vi của một tập đoàn xã hội, của một con người hay của một dân tộc. Truyền thống giúp cho con người giữ lại những thành  quả của quá khứ để không phải làm lại từ đầu. Truyền thống vì thế là bậc thang để nhân loại tiến lên phía trước.

Tuy nhiên, truyền thống là một đồng tiền hai mặt: Nó có thể rất tích cực, mà cũng có thể rất bảo thủ. Bởi cái phản ánh bao giờ cũng chậm hơn cái được phản ánh, nên truyền thống bao giờ cũng xuất hiện và biến đổi chậm hơn những điều kiện xã hội sản sinh ra nó. Truyền thống lắm khi như con hải cẩu đã bị bắt nhốt trong chuồng, mà vẫn cứ tiếp tục làm động tác đắp đê” (trang 220).

7) Giáo sư Phan Huy Lê, trong đợt tập huấn cho cán bộ giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) giải thích:

“Truyền thống không phải là tự nhiên sinh ra và cố định, mà là sản phẩm của lịch sử, của cuộc sống trên nhiều mặt; song có tính ổn định tương đối và có tính kế thừa… Truyền thống được hình thành, tồn tại dựa trên cơ sở là toàn bộ tồn tại khách quan của xã hội, trong đó cơ sở quan trọng nhất là sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội”…

3. Các kiến giải về truyền thống trên đây cho ta thấy sự phong phú trong tư duy khoa học. Mỗi một tác giả đều xuất phát từ giác độ nghề nghiệp của mình để nhìn nhận và phát biểu về truyền thống. Tuy nhiên, chưa có cách giải thích nào được xem là hoàn hảo!

Từ cơ sở nhận thức trên, chúng ta có thể xây dựng một quan niệm về truyền thống phù hợp với với phương hướng nghiên cứu đề tài.

Theo lý luận của Lô gích học, để định nghĩa một khái niệm, người ta phải tiến hành hai thao tác sau: Thứ nhất, phân biệt sự vật cần định nghĩa với các sự vật khác gần gũi, tiếp cận với nó. Thứ hai, phải vạch rõ nội dung – những dấu hiệu bản chất – của sự vật cần định nghĩa[3].

Trong khi thực hiện hai thao tác trên ta phải tuân thủ 3 quy tắc sau (để tránh những sai lầm trong thao tác lô gích) là:

“1) Định nghĩa phải cân đối, tức là ngoại diên của khái niệm được định nghĩa phải bằng với ngoại diên của khái niệm định nghĩa;

2) Định nghĩa không được luẩn quẩn;

3) Các định nghĩa phải tuỳ theo khả năng không được là những định nghĩa phủ định”[4].

Vận dụng lý luận vừa nêu, kết hợp với những quan niệm trên của các nhà nghiên cứu đi trước và với suy nghĩ của bản thân, tôi xin đề xuất định nghĩa sau đây về khái niệm “truyền thống”:

Truyền thống là một khái niệm của khoa học lịch sử, thuộc phạm trù ý thức xã hội. Khái niệm này được dùng để chỉ (hay phản ánh) những hiện tượng được phát sinh trong lịch sử và được di truyền (hay được truyền lại) qua nhiều thế hệ (con người) thông qua con đường văn hoá. Những hiện tượng này hiện còn phát huy tác dụng tích cực hoặc tiêu cực.

Với quan niệm như vậy, tôi hy vọng khái niệm “truyền thống” sẽ không bị hiểu lẫn lộn với một số khái niệm gần gũi với nó như: “Truyền thống tốt”, “truyền thống xấu”, “giá trị truyền thống”, “di sản”, “quá khứ”, “phong tục”, “tập quán”, v.v… mà chúng ta thường gặp trong sinh hoạt học thuật và trong cuộc sống hàng ngày.

Từ định nghĩa khái niệm “truyền thống” nêu trên, chúng ta có thể xây dựng cách hiểu về khái niệm “truyền thống cách mạng”.

Cũng như khái niệm truyền thống và một số khái niệm khác gần gũi với nó như: “truyền thống dân tộc”, “truyền thống yêu nước”, “truyền thống đoàn kết”… khái niệm “truyền thống cách mạng” được sử dụng rất phổ biến trên sách báo, các kênh truyền thông.

Nhưng tôi chưa gặp tài liệu nào giải thích khái niệm này theo tinh thần một quan niệm, một định nghĩa khoa học. Vì thế, để có công cụ phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu đề tài, tôi xin nêu quan niệm (hay cách hiểu) của mình về khái niệm này.

Nếu chúng ta quan niệm “truyền thống cách mạng” là một khái niệm nhỏ thuộc về khái niệm lớn là khái niệm “truyền thống” thì ta có thể phát biểu rằng:

“Truyền thống cách mạng” là một loại truyền thống được hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với cuộc cách mạng xã hội, do giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ở Việt Nam, “truyền thống cách mạng” được hình thành, tồn tại và phát triển gắn với cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân Việt Nam, thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Như thế, truyền thống yêu nước, truyền thống dân tộc, truyền thống đoàn kết… đã có từ lâu; nhưng truyền thống cách mạng thì mới chỉ phát sinh từ khi xuất hiện sự lãnh đạo của Đảng ta.

Theo tinh thần như vậy, “truyền thống cách mạng” sẽ có các biểu hiện cụ thể là:

Những mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đã đề ra; những quan điểm về phương pháp cách mạng; về người lãnh đạo; những nhân tố quyết định thắng lợi và hệ tư tưởng chỉ đạo quá trình cách mạng; v.v…

Như vậy, có thể nói, “truyền thống cách mạng” có nhiều biểu hiện cụ thể trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta chỉ cần nắm vững nội hàm của khái niệm “truyền thống” và khái niệm “truyền thống cách mạng” là có thể chỉ ra được những biểu hiện này.


[1] – Bài đăng tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số tháng 3-1992.

[2] – Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội VII – Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 5 và tr. 10.

[3] – Xem Đ.P. Gorki: Lô gích học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1974, tr. 50.

[4] – Đ.P. Gorki: Lô gích học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1974, tr. 56 và 59.

BÙI HỒNG VẠN

TINH THẦN LẠC QUAN HỒ CHÍ MINH

Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Lạc quan” là có cách nhìn, thái độ tin tưởng vào tương lai tốt đẹp[1].

Nếu hiểu theo nghĩa rộng, lạc quan chính là cách nhìn nhận, thái độ ứng xử tích cực đối với hiện thực khách quan vào những lúc khó khăn, cam go của cuộc sống. Đó là loại nhân sinh quan tích cực của con người.

Nhiều người cho rằng, lạc quan là một trong những phẩm chất cần có ở mỗi người. Vì có lạc quan mới giữ được ý chí, tạo ra quyết tâm, nội lực để vượt qua khó khăn, gian khổ mà vui sống, phấn đấu đạt được mục tiêu, lý tưởng đặt ra.

Lạc quan chính là niềm tin dẫn tới thành tựu tốt đẹp, người ta chẳng thể làm được gì nếu thiếu lạc quan. Vua hề Charlie Chaplin khuyên ta: “Khi cuộc đời cho bạn cả trăm lý do để khóc, hãy cho đời thấy bạn có cả ngàn lý do để cười”Còn Mark Twain thì khẳng định: “Lạc quan là hạt giống gieo trồng trên mảnh đất của niềm tin”. 

Hồ Chí Minh là một trong những con người tiêu biểu cho tinh thần lạc quan của nhân loại. Tinh thần lạc quan ở Hồ Chí Minh là tinh thần lạc quan của một con người yêu nước nồng nàn – một nhà cách mạng chân chính, được hình thành trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản; có sự kế thừa, phát triển tinh thần lạc quan của truyền thống Việt Nam và tinh hoa văn hoá nhân loại. Điều này thể hiện rõ trong cuộc đời nhà văn hoá kiệt xuất – anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh.

1. Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, khi cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc Đông Dương đang trong đêm tối chưa có đường ra thì Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thấy: “đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”.

Chính trong giai đoạn đen tối đó Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”[2].

Trong một Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Chúng ta có thể tin tưởng chắc chắn rằng với kinh nghiệm và lòng hy sinh, với quần chúng ở bên cạnh, những người cộng sản nhất định sẽ chiến thắng”[3].

Việc đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của những người cộng sản và khẳng định sự tất thắng của cách mạng Đông Dương là điểm sáng đầu tiên trong nhận thức chính trị của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Qua đó thể hiện rõ tinh thần lạc quan của Người về con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng mới – khuynh hướng cách mạng vô sản đầu thế kỷ XX.

Sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, vào đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc ta.

Trong thời gian sống và hoạt động ở núi rừng Việt Bắc, gây dựng cơ sở cách mạng, Người đã viết nhiều tác phẩm tuyên truyền cổ động cho phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc. Tinh thần lạc quan của Người bộc lộ rõ trong nhiều bài viết của thời kỳ này.

Đặc biệt, khi mới về nước, Nguyễn Ái Quốc sống ở hang Cốc Bó (Pác Bó, Cao Bằng) trong điều kiện hết sức khó khăn, gian khổ. Khí hậu trong hang luôn ẩm ướt, mùa đông gió lùa tê buốt; Người chỉ có một tấm chăn mỏng, dùng lá khô lót chỗ nằm, có khi phải đốt lửa sưởi suốt đêm.

Bữa ăn hàng ngày là rau rừng, ốc suối, cháo bẹ, rau măng; thỉnh thoảng có chút thịt rang mặn với muối ớt… Vậy mà Người vẫn thanh thản sống, thanh thản làm công việc cách mạng và cho rằng: “cuộc đời cách mạng thật là sang”:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang[4]

Có lẽ, chỉ những con người vĩ đại mới có suy nghĩ và hành động lạc quan trong một hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn như vậy!

Một bài thơ khác cũng thể hiện rõ tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh thời gian này là bài Nhóm lửa. Bài thơ nói đến khó khăn của công việc nhen nhóm ngọn lửa cách mạng buổi ban đầu:

Lúc leo lét bắt đầu nhóm lửa,

Biết bao nhiêu là sự khó khăn?

Chỉ đìu hiu một mảy gió xuân,

Cũng lo sợ lửa khi tắt mất…

          Ai cũng biết, khi bắt đầu nhóm lửa (lửa đời thường và ngọn lửa cách mạng) là lúc khó khăn nhất. Bởi gió, mưa, thời tiết không thuận lợi và kẻ thù làm cho lửa tắt. Nhưng nếu vượt qua thời điểm cam go này thì “mưa gió, chi chi cũng cháy”. Bấy giờ không một thế lực nào làm cho lửa tắt.

Tinh thần lạc quan, niềm tin do nhận thức được cái tất yếu và hành động theo cái tất yếu để được tự do (Ph. Ăngghen) đã tăng thêm sức mạnh, giúp Hồ Chí Minh vững bước trên con đường thực hiện lý tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc cao đẹp của mình.

2. Khi nghiên cứu Hồ Chí Minh, một trong những điều ta dễ nhận thấy là Hồ Chí Minh luôn có niềm tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng dân tộc. Niềm tin đó được thể hiện vào những thời điểm khác nhau trong quá trình cách mạng Việt Nam.

Vào đầu năm 1942, từ sự phân tích sâu sắc, đúng đắn về tình hình thế giới và tình hình trong nước, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra dự báo chính xác nước ta sẽ giành được độc lập vào năm 1945[5]. Điều đó đã thành hiện thực.

Từ sau cách mạng tháng 9-1945 đến khi qua đời (9-1969), ở cương vị là người đứng đầu nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Người đã viết rất nhiều tác phẩm để tuyên truyền, cổ suý cho sự nghiệp cách mạng nước ta.

Nhiều bài nói, bài viết, tác phẩm của Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ tinh thần lạc quan đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà.

Với bút anh “CB” Người viết bài “Lòng tin tưởng” đăng trên báo Nhân dân (21/2/1952), trong đó có tới 5 lần Người khẳng định về tiền đồ tươi sáng của cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai.

Từ đó đến cuối đời, ở Người vẫn nguyên một niềm tin tưởng mãnh liệt đối với sự tất thắng của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc đụng đầu giữa dân tộc ta với đế quốc Mỹ (1955-1975), Hồ Chí Minh luôn tin tưởng thắng lợi sẽ thuộc về Việt Nam. Điều này thể hiện rõ trong Thư chúc mừng năm mới đầu năm 1968.

Bằng những câu thơ mộc mạc, Người khẳng định tiền đồ tươi sáng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.

Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào

Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn![6]

Trong bản Di chúc của mình, Người tái khẳng định điều này: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”[7].

3. Ở trên là tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh thể hiện ở sự nhìn nhận và có lòng tin tưởng tuyệt đối vào tương lai tươi sáng của cách mạng Việt Nam.

Còn sau đây là tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh thể hiện trong một đoạn đời đầy cam go, thử thách đối với Người. Đó chính là hơn một năm Người sống trong lao tù của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, Trung Quốc.

Các tài liệu cho biết, ngày 13-8-1942, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc. Mục đích chuyến đi của Người là để thực hiện sự liên minh quốc tế, phối hợp hành động giữa phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào chống Nhật của nhân dân Trung Quốc và các lực lượng đồng minh chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương.

Trên đường đi, ngày 27/8/1942 Người bị tuần cảnh bắt giữ ở Túc Vinh (thuộc Đức Bảo, Quảng Tây). Trong hơn một năm từ khi bị bắt đến lúc được trả tự do, Người bị giải tới, giải lui, bị đày đoạ ở các nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch.

Trong tù Hồ Chí Minh đã làm 113 bài thơ chữ Hán ghi lại những sự việc xẩy ra đối với mình. Những bài thơ này được Viện Văn học dịch và xuất bản năm 1960. Đó chính là Nhật ký trong tù – một tập thơ có giá trị về văn học nghệ thuật đồng thời là một tài liệu lịch sử quý về Hồ Chí Minh trong thời gian từ 13/8/1942 đến 10/9/1943.

Nhật ký trong tù cho ta thấy rõ ý chí kiên cường, tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh. Qua tài liệu này chúng ta biết Hồ Chí Minh đã sống khổ cực như thế nào trong các nhà tù của Tưởng Giới Thạch. Có tới bốn tháng Người không được ăn no, đêm thì thiếu ngủ, quần áo không thay, không được tắm rửa… Kết quả tệ hại xẩy ra với Người: răng rụng, tóc bạc, gầy đen như quỷ đói, ghẻ lở mọc toàn thân…

Trong hoàn cảnh tồi tệ như vậy nhưng người tù Hồ Chí Minh vẫn “không nao núng tinh thần”; ở Người luôn tràn đầy một tinh thần lạc quan cách mạng: “Đáng khóc mà ta cứ hát tràn”. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”; chính điều kiện sống khắc nghiệt, tồi tệ này đã tôi luyện thêm chất thép trong con người Hồ Chí Minh, dũng khí và tinh thần lạc quan ở Người thêm bừng sáng.

Trong tù Người bị cùm, còn khi bị dẫn giải đi nơi khác đều bị trói, bị xích. Thân xác bị hành hạ đau đớn, nhưng khí phách và tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh vẫn hiện ra rất rõ:

Mặc dù bị trói chân tay,

Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;

Vui say, ai cấm ta đừng

Đường xa, âu cũng bớt chừng quạnh hiu

Sau một ngày đi bộ cả chặng đường dài, đêm đến phải “ngồi trên hố xí”, vậy mà Hồ Chí Minh vẫn nghĩ tới một ngày mai tươi sáng:

Năm mươi ba dặm, một ngày trời,

Áo mũ ướt đầm, dép tả tơi;

Lại khổ thâu đêm không chốn ngủ,

Ngồi trên hố xí đợi ngày mai.

Dù chân bị xích treo lên mạn thuyền trên đường bị giải đi Nam Ninh, Hồ Chí Minh vẫn ung dung ngắm cảnh vật: “Làng xóm ven sông đông đúc thế/ Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh”.

Nhà văn Nam Cao từng nói khi một người đau chân thì không nghĩ đến chuyện khác ngoài cái chân đau của mình. Chuyện này không đúng với Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã vượt lên trên những nghịch cảnh, biến những điều bất như ý trong cuộc sống nhà tù thành thuận cảnh. Điều ấy thể hiện rõ trong những câu thơ đầy chất uy-mua (hài hước) của Người:

Ăn cơm nhà nước, ở nhà công

Binh lính thay nhau để hộ tòng

Non nước dạo chơi tuỳ sở thích

Làm trai như thế mới hào hùng

Hài hước chỉ có ở những người có bản lĩnh, dũng cảm, can trường vượt qua được khổ đau, từ đó biến nghịch cảnh thành cái bình thường, cái vui vẻ. Cũng tương tự như vậy, khi nhìn dây trói quấn quanh thân thể mình, Hồ Chí Minh đã liên tưởng nó giống như rồng cuốn, như tua vai của quan võ.

Chân bị xích, mỗi bước đi đều khó khăn, đau đớn; nhưng Hồ Chí Minh không nói đến sợ khổ đau, ngược lại Người còn vui vui với liên tưởng: “Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung”.

Tinh thần lạc quan còn được biểu hiện trong một tâm thế đặc biệt – ngay trong giấc ngủ trưa của Hồ Chí Minh. Người mơ thấy mình “cưỡi rồng lên thượng giới”. Một giấc mơ cao thượng, đối lập với cái thực phũ phàng của nhà tù.

Bị bắt, bị tình nghi làm gián điệp, bị đoạ đày trong lao tù nhưng Hồ Chí Minh vẫn tỏ rõ khí phách, tinh thần lạc quan của một nhà cách mạng chân chính: “Người thoát khỏi tù ra dựng nước/ Qua cơn hoạn nạn rõ ngay gian”.

Câu chuyện về tinh thần lạc quan Hồ Chí Minh kể ra còn dài, trong khuôn khổ một bài báo nhỏ không thể đề cập hết. Chỉ biết người đời (cả người Việt và người nước ngoài) đều thán phục và ca ngợi tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh.

Gioócgiơ Buđaren (Pháp) đã có nhận xét về tinh thần lạc quan của Người: “Cụ (Hồ) đau khổ trong tâm hồn và thể xác. Nhưng không bao giờ Cụ ngã lòng. Ngay trong hầm nhà tù đen tối nhất, Cụ vẫn nhìn thấy ánh sáng. Trong những lúc gian khổ nhất, Cụ vẫn giữ được tinh thần lạc quan và vẻ ung dung tự tại. Cụ biến nước mắt thành lời ca”[8].

Còn Quách Mạt Nhược (Trung Quốc) khi nghiên cứu Nhật ký trong tù đã hạ bút viết: “Một trăm bài thơ, hầu hết bài nào cũng đều toát ra hết sức sinh động hình ảnh một nhà cách mạng lão thành, thanh thoát, tài trí, ung dung, giản dị, kiên cường… tinh thần lạc quan cách mạng của Người trong sáng biết chừng nào!”[9].

4. Tinh thần lạc quan Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trên nền tảng thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản; có sự kế thừa, phát huy truyền thống lạc quan của dân tộc Việt Nam và của nhân loại. 

Tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự nhận thức đúng đắn về những quy luật khách quan (được người diễn đạt qua những câu: “Khổ lắm ắt là đến lúc vui”, “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”, “Hết khổ là vui vốn lẽ đời” trong tập Nhật ký trong tù) và được củng cố, phát triển qua cuộc đời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, thử thách của Người.

Lạc quan là một phẩm chất đáng quý, là một giá trị lớn; nó cùng với những yếu tố khác đã tạo nên danh nhân văn hoá – anh dùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh.

Ngày nay, tinh thần lạc quan Hồ Chí Minh rất cần được mỗi người Việt Nam quan tâm khai thác, phát huy nhiều hơn nữa trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Làm tốt sẽ góp phần đưa đất nước phát triển theo định hướng: “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.

Tài liệu tham khảo

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 1, 1912-1924, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 3, 1930-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 15, 1966-1969, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011.

[4] Nguyễn Như Ý (Cb): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá thông tin, 1999.

[5] GS. Song Thành (Cb): Hồ Chí Minh, tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[6] Hồ Chí Minh – Tác gia, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, Nxb. Giáo dục, 2005.

[7] Trần Đương: Hồ Chí Minh, nhà dự báo thiên tài, Nxb. Thanh niên, 2009.

[8] Vũ Châu Quán, Nguyễn Huy Quát: Những điều chưa biết trong thơ ca chiến khu của Bác Hồ, Nxb. Thanh niên, 2006.

(Đã đăng tạp chí Dạy và học ngày nay)

Hà Nội, ngày 24-12-2018

TS. Bùi Hồng Vạn    


[1] Nguyễn Như Ý (Cb): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 1999, tr. 957.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 1, 1912-1924, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 40.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 3, 1930-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr. 44.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 3, 1930-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.228.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 3, 1930-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 2011, tr.266-267. 

Hồ Chí Minh dự báo năm 1945 nước ta giành được độc lập trong tác phẩm “Lịch sử nước ta”, xuất bản năm 1942.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 15, 1966-1969, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 2011, tr. 532.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, 15, 1966-1969, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 2011, tr. 621.

[8] Gioócgiơ Buđaren: “Một cốt cách cổ điển và những sáng tạo hiện đại”, trong sách Hồ Chí Minh: Tác gia, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, Nxb. Giáo dục, 2005, tr. 986.

[9] Quách Mạt Nhược: “Nay ở trong thơ nên có thép (Cảm tưởng sau khi đọc tập Nhật ký trong tù)”, trong sách Hồ Chí Minh: Tác gia, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, Nxb. Giáo dục, 2005, tr. 989-990.

TÍNH HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA

(Cách đây một hai thập niên, trên các diễn đàn, sách báo, mạng xã hội người ta nói đến hiện tượng “toàn cầu hóa” chả khác gì hiện nay người ta nói đến “cách mạng công nghiệp 4.0”. Toàn cầu hóa trở thành một từ cửa miệng của rất nhiều người, nhất là giới trí thức, chính trị… Vậy toàn cầu hóa là gì? Và phải chăng toàn cầu hóa chỉ đem lại cho các quốc gia những điều tốt đẹp?…. Thông tin này sẽ trả lời hai câu hỏi vừa nêu ở mức sơ giản, nếu xét theo quan điểm học thuật!)

1. Quan niệm về Toàn cầu hoá

Đã có nhiều định nghĩa, quan niệm về toàn cầu hóa (TCH). Chẳng hạn, Uỷ ban châu Âu cho rằng: “TCH có thể được định nghĩa như một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do có sự năng động của việc buôn bán hàng hoá và dịch vụ, cũng như có sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ. Đây không phải là một hiện tượng mới, mà là sự tiếp tục của một tiến trình đã được khơi mào từ khá lâu[1]”. Còn theo Mc. Gren thì: “TCH là việc hình thành một chuỗi vô số các liên kết ràng buộc giữa các chính phủ và các xã hội tạo lập nên một hệ thống thế giới hiện đại. TCH cũng là một quá trình mà ở đó các sự kiện, các quyết định và các hoạt động của một phần thế giới có thể tác động nghiêm trọng đến các cá nhân và cộng đồng ở các phần khác xa của trái đất[2]”.

Thậm chí, TCH còn được định nghĩa một cách khôi hài như sau: “Định nghĩa đúng nhất về TCH là gì? Trả lời: Cái chết của công nương Diana. Hỏi: Sao kỳ vậy? Trả lời: Một công nương Anh quốc, cùng với bạn trai Ai Cập, bị tông xe trong đường hầm của Pháp. Họ được một tài xế Bỉ chở trên một chiếc xe của Đức với động cơ của Hà Lan, người này uống rượu Wisky của Scotland. Họ bị một đám paparazi (báo chí, truyền thông) Ý cưỡi xe môtô Nhật theo sát gót. Sau đó, họ được các bác sĩ Mỹ điều trị, sử dụng thuốc men của Brazin. Tin nhắn được một người châu Phi gửi tới, đang dùng công nghệ của Bill Gates. Và có lẽ bạn đang đọc những dòng chữ này trên máy tính mà made in của nó là Đài Loan và màn hình của Trung Quốc[3]”.

Như vậy đủ thấy, TCH là một khái niệm rộng, phức tạp, đa nghĩa và không dễ gì thống nhất nội hàm một cách tuyệt đối. Để phục vụ cho nội dung bài viết này, tôi mượn một định nghĩa về TCH được nêu trong Wikipedia (Từ điển bách khoa mở trên Internet) làm công cụ phân tích. Wikipedia định nghĩa như sau: “TCH là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ kinh tế, văn hoá, v.v. trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, TCH hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hoá thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin và văn hoá[4]”.

2. Tính hai mặt của toàn cầu hóa

Những người thiết kế TCH kinh tế đầu tiên là các nhà kinh tế học Phương Tây, với mục đích là thông qua TCH để giúp các quốc gia Phương Tây thu được lợi ích kinh tế lớn nhất trong trao đổi quốc tế. Trong thời gian khá dài vừa qua, các nước Phương Tây thực sự đã thu được khoản lời lớn từ tiến trình TCH. Nhưng đồng thời trong quá trình này, tính chất và nội dung của kinh tế của TCH đã bị biến dạng. Khi mới thực hiện, người ta hy vọng rất lớn vào tiến trình này. Nhưng TCH giống như mọi hiện tượng khác trong xã hội, bản thân nó là “con dao hai lưỡi”, có cả mặt tích cực và tiêu cực.

Trước hết xét về mặt tích cực, chúng ta thấy:

– TCH thúc đẩy tự do hoá mậu dịch phát triển. Nhìn lại tình hình buôn bán của các nước trên thế giới hiện nay, hầu như không còn tồn tại tình trạng thị trường đơn nhất ngay cả ở các cường quốc kinh tế phát triển. Giờ đây, hầu như thị trường nội địa của các nước đều gắn với thị trường thế giới, là bộ phận của thị trường thế giới. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước cũng như ngành ngoại thương đóng vai trò rất lớn đối với tăng trưởng tổng sản lượng quốc nội (GDP). Năm 2004, mức độ phụ thuộc của GDP Mỹ vào ngành ngoại thương tới 25,9%; năm 2005, mức độ phụ thuộc của GDP Trung Quốc với ngành ngoại thương và buôn bán đối ngoại tới 61%.

Do tính phụ thuộc vào ngành ngoại thương ngày càng cao, nên mức độ tự do hoá mậu dịch của các nước trong khu vực Đông Nam Á cao hơn của các nước ở Mỹ La-tinh. Bởi vì, tới nay sự phát triển kinh tế của các nước Mỹ La-tinh chủ yếu dựa vào nội thu, trong khi nhân tố nhu cầu nước ngoài thấp hơn nhiều so với các nước Đông Á. Sau 5 năm gia nhập WTO (2001), nền kinh tế Trung Quốc có được nhiều lợi ích từ quá trình này, GDP tăng bình quân hàng năm là 9%. Từ nước đứng thứ 6 Trung Quốc đã nhảy lên hàng thứ 4 về tăng GDP…

– TCH kinh tế đẩy mạnh tiến trình quốc tế hoá lưu chuyển vốn, có lợi cho tự do hoá đầu tư. Trong ba năm 2001-2003, mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm sút rất lớn, nhưng bắt đầu từ năm 2004 đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại. Theo “Báo cáo đầu tư năm 2005” do Hội nghị phát triển mậu dịch Liên hợp quốc công bố, tổng số FDI trên toàn thế giới đã lên tới 648 tỷ USD, tăng 2% so với năm 2003.

Điều này cho thấy xu thế đầu tư quốc tế giảm sút từ năm 2001-2003 đã được ngăn chặn và bắt đầu gia tăng trở lại trên thế giới. Đặc biệt, trong năm 2004, các nước Phương Tây đã tiếp nhận FDI trị giá khoảng 380 tỷ USD, giảm 14% so với năm 2003. Trong khi đó, FDI ở các nước đang phát triển tăng 40%, với tổng giá trị 233 tỷ USD. Riêng Trung Quốc vào năm 2005 đã nhận được nguồn đầu tư từ bên ngoài vào là 72,4 tỷ USD. Như vậy, nếu không có TCH thì không thể quốc tế hoá vốn và di chuyển dễ dàng từ nước này qua nước khác.

TCH kinh tế chẳng những thúc đẩy FDI tăng lên mà còn thúc đầy tự do hoá đầu tư. Mấy năm qua, do môi trường đầu tư được cải thiện, xu thế lưu thông tự do đầu tư đã tăng lên rõ rệt. “Báo cáo của Hội nghị mậu dịch Liên Hợp quốc” năm 2004 cho biết hai nước có lượng FDI đổ vào nhiều nhất là Mỹ và Anh, trong đó Mỹ tiếp nhận tới 96 tỷ USD và nước Anh tới 78 tỷ USD.

Mặc dù các nước đang phát triển đã ra sức mở cửa thị trường vốn của mình và đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài; nhưng do cơ chế và thị trường còn nhiều khâu yếu kém, nên trình độ tự do hoá tiền vốn của các nước đang phát triển kém hơn nhiều so với các nước phát triển. Vì thế các nước đang phát triển cần nghiên cứu và hoàn thiện để tận dụng được cơ hội tốt của TCH.

– TCH kinh tế đã “bật đèn xanh” cho tự do hoá lưu chuyển tiền tệ. Trong điều kiện hiện nay, mọi tổ chức ngân hàng, tài chính, tiền tệ và thị trường chứng khoán của các nước đều phải phát triển theo xu thế TCH. Ba thị trường chứng khoán nổi tiếng là New York, London và Tokyo giờ đây đã len lỏi tới khắp nơi trên thế giới đề thu hút tiền vốn. Thông qua việc không ngừng điều chỉnh tỷ giá hối đoái, những đồng tiền như USD, Euro và đồng Franc của Thuỵ Sĩ đều trở thành đồng tiền dự trữ và có thể tự do lưu hành ở các nước. Tóm lại, tiền tệ được tự do lưu hành như hiện nay là do tác động mạnh mẽ của tiến trình TCH kinh tế.

– TCH đã thúc đẩy phát triển sản xuất xuyên quốc gia. Mấy năm qua, đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động sản xuất quốc tế là sản xuất của các công ty xuyên quốc gia mở rộng mạnh mẽ ra các nước. Đầu năm 1994, Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ vừa mới khởi động, các công ty xuyên quốc gia của Mỹ đã nhân cơ hội này thành lập một loạt công ty con ngay gần biên giới Mehico.

Những công ty này đã lợi dụng nguyên vật liệu, tài lực, vật lực của địa phương sản xuất hàng hoá giá rẻ đưa về thị trường nội địa Mỹ. Hay gần đây, hầu hết các công ty xuyên quốc gia lớn của Mỹ và các nước trên thế giới đều tới Trung Quốc lập văn phòng hoặc trụ sở công ty để tiến hành sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, TCH cũng tạo cơ hội cho các nước giao lưu, tiếp xúc hội nhập về văn hoá, xã hội, giáo dục, chuyển giao khoa học và công nghệ, v.v…

Tuy có những mặt tích cực trên đây; nhưng TCH cũng có nhiều mặt tiêu cực. (Không phải ngẫu nhiên mà trong những thập niên vừa qua, phong trào đấu tranh chống TCH đã diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Pháp, Úc, v.v…). Dưới đây là một số biểu hiện chủ yếu:

– Tình trạng bất bình đẳng và phân hoá giàu nghèo tăng lên. TCH đã làm nhiều quốc gia (chủ yếu là các nước đang phát triển) bị thua thiệt rất nhiều, tạo nên sự phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng mới. Có khoảng 20% dân số thế giới sống ở các nước giàu hưởng tới 80% GDP của toàn thế giới; còn 20% dân số đang sống ở các nước nghèo chỉ hưởng 1% GDP thế giới[5].

Ngay trong thế giới tơ bản chủ nghĩa cũng đang tồn tại “hai thế giới” – một thế giới giàu có, phát triển và một thế giới nghèo nàn, lạc hậu. Của cải tập trung trong tay một số người giàu; còn tuyệt đại dân cư sống trong tình trạng nghèo đói, thiếu thốn. Ngay trong các nước phát triển nhất cũng đang tồn tại những tầng lớp nghèo khổ sống dưới đáy của xã hội. Đối tượng này được gọi là một  cách mỉa  mai là  “thế giới thứ tư”.

– Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch làm cho trật tự tiền tệ thế giới bị rối loạn và các khoản trợ cấp, quỹ hưu trí, phúc lợi giảm sút, thất nghiệp tăng. Tự do hoá tiền tệ và lưu chuyển vốn cũng làm hệ thống ngân hàng tài chính của nhiều nước thế giới thứ ba rối loạn và bị các nước phát triển thao túng. Từ đó, rủi ro và khủng hoảng tiền tệ luôn luôn đe doạ họ. Tại châu Âu, trước mắt, chỉ những nước Trung Âu và Đông Âu được hưởng lợi nhất sau khi EU mở rộng. Những nước này có trình độ kinh tế kém phát triển, mức sống thấp, nên họ thu được nhiều lợi ích kinh tế sau khi gia nhập EU.

Còn những nước phát triển như Đức, Pháp và Italia thì bị thiệt thòi vì họ phải đóng thêm nhiều khoản tiền “chi viện”. Đây là nguyên nhân căn bản để dân chúng Pháp, Hà Lan phủ quyết Hiến pháp EU vì bất mãn với TCH kinh tế. Dư luận ở những nước này đều phàn nàn rằng cách đây 10 năm, kinh tế của họ đứng vào hàng đầu thế giới, nay đã bị tụt hậu đáng kể do phải gánh thêm việc chi viện cho các nước mới gia nhập EU.

– Các nước đang phát triển thì bị thiệt thòi nhất về hàng nông sản trong tiến trình TCH. Do TCH, tự do hoá mậu dịch và mở cửa thị trường, hàng nông sản giá rẻ của các nước phát triển bị điêu đứng, phá sản. Nông dân và người lao động ở Trung Quốc đang chịu thiệt thòi nhất khi nước này tham gia WTO. Việc gia nhập WTO đối với nhiều người dân giống họ đang “khiêu vũ với các loài sói”.

Hiện nay, một năm chính quyền Trung Quốc các cấp đã thu hồi khoảng 200.000 ha đất của nông dân, tức là có khoảng 2 triệu nông dân bị mất ruộng đất. Trung Quốc đã có hơn 40 triệu nông dân không còn ruộng đất và tương lai (đến năm 2020) sẽ có thêm 40 triệu nông dân nữa gia nhập vào đội quân này.

Giáo sư Wen Tiejun, một chuyên gia nghiên cứu về nông thôn Trung Quốc phát biểu: “Vấn đề nông thôn bắt đầu nảy sinh trong quá trình CNH, tuy nhiên nó sẽ trở thành nghiêm trọng hơn với quá trình TCH”. Vấn đề an sinh xã hội ở Trung Quốc cũng nảy sinh vấn đề rất gay go. Với 140 triệu công nhân nông thôn di cư đã làm cho hệ thống an sinh xã hội không bắt kịp với sự thay đổi nhanh về mặt xã hội. Với 1000 tỷ dự dữ ngoại tệ, Trung Quốc cũng không đủ lực để giải quyết vấn đề này…

– Sự huỷ hoại môi trường ngày càng tăng lên. Khi thương mại mở rộng đã làm tăng lượng hải sản đánh bắt, tăng diện tích rừng bị phá huỷ và mở rộng các ngành công nghiệp gây ô nhiễm sang các nước đang phát triển.

Báo cáo tháng 11/05 của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) cho biết, mỗi năm có khoảng 18 triệu mẫu Anh (acres) rừng bị phá huỷ, tức là ngang với diện tích của nước Panama. Hơn 2,5 triệu mẫu Anh rừng nhiệt đới đã bị xoá sạch trong những năm gần đây để lấy đất trồng đỗ tương (cung ứng cho nhu cầu của thị trường Trung Quốc).

Trong khi đó, các chương trình bảo vệ và trồng lại rừng đã không thành công ở nhiều nước. Tổ chức Hoà bình Xanh tố cáo Anh và châu Âu góp phần phá huỷ dải rừng dài 7.000 km, do những người nông dân đã phá để trồng đỗ tương và nuôi gà để bán sang châu Âu.

Sự phát triển kinh tế ngoạn mục của Trung Quốc trong ba thập niên qua có mặt trái của nó. Khối lượng than bị đốt tăng lên và lượng hoá chất sử dụng cho sản xuất đã không chỉ gây ô nhiễm cho môi trường và nguồn nước của Trung Quốc, mà cho cả môi trường của thế giới. Một công trình nghiên cứu năm 2004 đã phát hiện ra dấu vết của các loại hoá chất mà các nhà máy của Trung Quốc thải ra ở cách xa hàng nghìn dặm.

Một nhà nghiên cứu đã tìm ra nguồn gốc của các loại bụi thổi từ châu Á sang tận New England, Mỹ và còn tìm thấy dấu vết của bụi hoá chất do các nhà máy của Trung Quốc thổi vào bầu khí quyển. Đó là một trong những nguồn gốc gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính, trái đất ngày càng nóng lên. Theo báo cáo của nhà kinh tế Nicholas Stern, khi khí hậu Trái Đất ấm lên có thể gây tổn hại tới 20% cho kinh tế toàn cầu, tức là ngang với những tổn thất mà hai cuộc chiến tranh thế giới và thời kỳ Đại suy thoái gây ra trước đây.

Tài liệu tham khảo

01.  “Con dao hai lưỡi” trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế thế giớihttp://www.f.news.f-network.net.

02.  Đánh giá mức độ về toàn cầu hoá (Phần I, II, III), http:// www.vcci.com.vn

03.  GS Nguyễn Đức Bình, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, PGS.TS Trần Xuân Sầm (Đồng chủ biên): Toàn cầu hoá – Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

04.  Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng. Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2004-2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

Hà Nội, ngày 20/05/2008


[1] – Toàn cầu hoá: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, Nxb Chính trị, Hà Nội, 2001, tr.12.

[2] – Toàn cầu hoá – Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb CTQG, HN, tr.69.

[3] – Định nghĩa Toàn cầu hoá, http://www.tuoitrecuoi.com.

[4] – Toàn cầu hoá, http://vi. Wikipedia.org/wiki.

[5] – Toàn cầu hoá – Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 28.

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC TRONG TƯ TƯỞNG HCM

1. Khái niệm Chủ nghĩa dân tộc

Khái niệm, thuật ngữ CNDT được sử dụng rất phổ biến trong các tài liệu liên quan đến lĩnh vực lý luận chính trị, khoa học xã hội, nhân văn trên thế giới và ở Việt Nam. Song bản thân nó lại hàm chứa những ngữ nghĩa, nội dung, nội hàm không phải lúc nào cũng được hiểu giống nhau. Chẳng hạn:

– Trong Đại từ điển Tiếng Việt[1], CNDT được giải thích là: “Hệ tư tưởng chính trị đối lập với chủ nghĩa quốc tế, đặc trưng bằng tư tưởng cơ bản khẳng định dân tộc mình là ưu việt, là hình thức thống nhất xã hội cao nhất, siêu giai cấp”.

– Từ điển bách khoa mở trên mạng (Wikipedia) cho rằng: CNDT nói đến một hệ tư tưởng, một tình cảm, một hình thức văn hoá, hoặc một phong trào tập trung vào quốc gia hay dân tộc. CNDT đã trở thành một động lực chính trị xã hội quan trọng nhất trong lịch sử. Nó đã giữ vai trò ảnh hưởng chính hay nguyên nhân của Đệ nhất thế chiến, và đặc biệt là Đệ nhị thế chiến do sự nổi lên của chủ nghĩa phát xít, một hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cấp tiến và độc đoán.

Do đa số các quốc gia là đa sắc tộc hoặc có nhiều nhóm tự nhận vị thế quốc gia, trong nhiều trường hợp, sự theo đuổi quyền tự chủ mang tính dân tộc chủ nghĩa đã gây ra xung đột giữa nhân dân và các nước, trong đó có chiến tranh (cả nội chiến và ngoại chiến), ly khai và trong những trường hợp cực đoan là diệt chủng.

CNDT là một hiện tượng xã hội mạnh mẽ trên thế giới, khi các quốc kỳ, quốc ca và những sự phân biệt quốc gia là những ví dụ về CNDT sáo rỗng (banal nationalism) mà người ta thường thể hiện một cách vô thức. Hơn nữa, một số học giả cho rằng, CNDT với hình thức tình cảm hoặc văn hoá, mà đôi khi được mô tả bằng từ “bản sắc dân tộc” (nationality) để tránh ảnh hưởng của “hệ tư tưởng”, là nền tảng của xã hội hiện đại. Công nghiệp hoá, dân chủ hoá và sự ủng hộ với sự tái phân bổ kinh tế đã phần nào đóng góp cho sự đoàn kết xã hội mà CNDT mang lại.

– Từ điển bách khoa Việt Nam[1], tập 1, giải thích: CNDT (triết, chính trị), hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc. CNDT hình thành và phát triển gắn liền với quá trình đấu tranh để xây dựng và bảo vệ cộng đồng quốc gia dân tộc. Tuỳ tình hình, đặc điểm dân tộc, giai cấp và lịch sử của từng dân tộc, CNDT mang dấu ấn dân tộc và giai cấp khác nhau. Có CNDT truyền thống thể hiện lòng yêu nước lâu đời của một dân tộc, có CNDT tư sản, có CNDT Xô viết, có CNDT sô vanh nước lớn, có CNDT cách mạng, v.v…

– Từ điển Triết học[1]: Trong mục từ Dân tộc [Chủ nghĩa], khái niệm này được trình bày khá dài: Một trong những nguyên tắc của hệ tư tưởng và chính trị tư sản nhằm tuyên truyền tính biệt lập và tính đặc thù dân tộc của một số dân tộc nào đó, sự ngờ vực của các dân tộc khác và sự thù địch giữa các dân tộc.

CNDT đã xuất hiện trong quá trình hình thành các dân tộc của xã hội tư sản và bị chi phối bởi đặc điểm phát triển của CNTB. Ở đây, trong khi phản ánh các quan hệ qua lại giữa các dân tộc trong CNTB, CNDT biểu hiện dưới hai hình thức: chủ nghĩa sô-vanh nước lớn của dân tộc thống trị mà đặc điểm của nó là thái độ miệt thị các dân tộc khác và CNDT địa phương của dân tộc bị áp bức tiêu biểu với xu hướng bế quan toả cảng và ngờ vực các dân tộc khác.

Đầu cơ về khẩu hiệu quyền lợi “toàn dân tộc”, các nhà tư tưởng tư sản và cải lương sử dụng CNDT làm một phương tiện tinh vi để đè bẹp ý thức giai cấp của nhân dân lao động, chia rẽ phong trào công nhân quốc tế, bào chữa cho các cuộc chiến tranh giữa các dân tộc và cho CNTD. Bất kỳ dưới hình thức nào, CNDT cũng đều không thể chấp nhận được đối với nhân dân lao động, mà chỉ có chủ nghĩa quốc tế XHCN mới phản ánh những quyền lợi chân chính của họ.

Tuy nhiên, trong một giai đoạn nhất định của phong trào GPDT, những người cộng sản cho rằng việc ủng hộ CNDT của dân tộc bị áp bức là có thể biện hộ được về mặt lịch sử, bởi vì CNDT của dân tộc bị áp bức chứa đựng trong nó nội dung dân chủ chung (khuynh hướng chống CNĐQ, sự vươn tới độc lập về kinh tế và chính trị). Song, trong biến thể này của CNDT cũng có cả mặt khác thể hiện hệ tư tưởng và quyền lợi của nhóm cầm đầu bóc lột phản động muốn thoả hiệp với CNĐQ.

Những người cộng sản bác bỏ hoàn toàn mặt này. Với tính cách là đặc điểm thế giới quan, CNDT phổ biến và có nhiều sức sống nhất trong môi trường tiểu tư sản; nó là tiêu biểu cho các tầng lớp xã hội và các chính đảng có hệ tư tưởng tiểu tư sản. Dưới CNXH, sự bình đẳng thực tế giữa các dân tộc đã được thiết lập, những cơ sở xã hội của CNDT đã bị thủ tiêu, còn những biểu hiện của nó chỉ được duy trì với tính cách là những tàn dư của CNTB trong ý thức và hành vi của con người.

            – Trong bài “Vấn đề hình thành dân tộc và CNDT ở Việt Nam”, GS Phan Huy Lê cho rằng[1]:

“CNDT (Nationalizm, Nationnalizme)…là sản phẩm tinh thần của quá trình hình thành và phát triển của dân tộc tư sản. CNDT đã từng giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến, thống nhất quốc gia, dân tộc, giải phóng con người khỏi những quan hệ lệ thuộc phong kiến, xây dựng xã hội dân sự và phát triển văn hoá dân tộc. Tại các nước thuộc địa và lệ thuộc ở châu ¸, châu Phi, châu Mỹ La tinh, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc, CNDT cũng nảy sinh và phát triển, giữ vai trò động lực trong phong trào giải phóng dân tộc.

            Tại Việt Nam, CNDT cũng đã từng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ chống chủ nghĩa thực dân. Nội dung cơ bản của CNDT Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước truyền thống được nâng cao trên cơ sở kết hợp với những nhân tố mới của thời đại, trong bối cảnh và yêu cầu chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc…

Tuy nhiên, trên bình diện lịch sử thế giới, CNDT bên cạnh nội dung chân chính và tích cực của nó, cũng chứa đựng những khuynh hướng phát triển tiêu cực theo chủ nghĩa sô vanh (chauvinisme), CNDT hẹp hòi, CNDT cực đoan, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc…

Trong nhiều vụ xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo trên thế giới hiện nay, CNDT theo các xu hướng tiêu cực trên đang bị khai thác và kích động. Vì vậy, trong cách hiểu thông thường và phổ biến hiện nay, CNDT hay phần tử dân tộc (nationalist) được hiểu theo nghĩa tiêu cực”.

2. Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Nếu tìm trong các trước tác của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy khái niệm CNDT trong các bài sau: “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ”, “Văn minh Pháp ở Đông Dương”, “Hãy nhớ đến những người bị tù đày vì chính trị của chúng ta”, “Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi” (các ngày: 24/12/1926, 31/1/1927, 14/2/1927), “Lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghiã”.

Để nhận thức đúng đắn, đầy đủ về CNDT trong TTHCM, cần thiết phải phân tích các tài liệu trên đồng thời kết hợp với xem xét ý kiến của các nhà khoa học, các chính khách trong và ngoài nước nói về vấn đề này.

Trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ”, CNDT được nhắc tới 10 lần. Như đã giới thiệu ở trên, khái niệm CNDT được HCM sử dụng rải rác trong một số tài liệu và ở những thời điểm khác nhau (thập niên 20 và thập niên 50 của thế kỷ XX). Song giới nghiên cứu khi bàn về CNDT trong TTHCM thì dường như chủ yếu tập trung đề cập đến tài liệu này. Có lẽ đây là tài liệu quan trọng nhất, là cơ sở mà dựa vào đó các nhà nghiên cứu đã khái quát lên một luận điểm lớn mang tính sáng tạo của HCM về CNDT – “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập”.

Trong bài “Văn minh Pháp ở Đông Dương”, khái niệm CNDT được sử dụng duy nhất một lần trong câu: “Trong lần trở về nước của lãnh tụ những người theo chủ nghĩa dân tộc Bùi Quang Chiêu, khi đó đã trở thành một kẻ thoả hiệp nổi tiếng xấu xa…”[1]. Tương tự trong bài “Hãy nhớ đến những người bị tù đày vì chính trị của chúng ta”, khái niệm CNDT cũng được dùng duy nhất một lần, gắn với nội dung “Đông kinh nghĩa thục”: “Như thế này: thời bấy giờ có một hội lớn theo chủ nghĩa dân tộc gọi là “Đông kinh nghĩa thục”. Được thành lập do các nho sĩ có danh vọng nhất ở Bắc kỳ…”[1].

Trong 3 tài liệu đều mang tựa đề “Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi” đã nói ở trên, với nội dung cơ bản là phản ánh tình hình chính trị và phong trao đấu tranh cách mạng ở Trung Quốc của Hồ Chí Minh.

Trong các tài liệu này,  khái niệm CNDT, DTCN (dân tộc chủ nghĩa) được nhắc đi nhắc lại nhiều lần và được dùng để  phản ánh phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Trung Quốc dưới những ngọn cờ khác nhau, nhưng có nội dung chung là đấu tranh hướng tới mục tiêu giành độc lập, tự do trên cơ sở chống chủ nghĩa đế quốc thực dân.

Trong “Lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa”, HCM có dùng khái niệm CNDT bên cạnh các khái niệm Chủ nghĩa sôvanh, Chủ nghĩa giáo điều, Chủ nghĩa xét lại. Song trong tài liệu này, CNDT được dùng gắn liền với từ tư sản – CNDT tư sản[1]…

Vậy CNDT trong TTHCM rốt cục là gì? nên hiểu như thế nào cho đúng? Trong sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, “Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng:

CNDT theo Hồ Chí Minh, hoàn toàn không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc phong kiến, tư sản hay của Quốc tế II, mà là CNDT chân chính, theo lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin gắn dân tộc với quốc tế, dân tộc với giai cấp, hướng tới triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người”[1].

Khi bàn về CNDT trong TTHCM, GS Song Thành đã viết: “Chủ nghĩa dân tộc Hồ Chí Minh nói ở đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính của nhân dân các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, lại được phát động nhân danh quốc tế cộng sản và đang hướng theo chủ nghĩa quốc tế vô sản nên nó khác về bản chất so với chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, sô vanh của phong kiến và tư sản”[1].

Trong Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2009 có viết: “Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủ nghĩa yêu nước chân chính của các dân tộc thuộc địa. Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào”[1].

3. Kết luận

Như vậy, có thể nói rằng: Bên cạnh việc HCM sử dụng khái niệm CNDT để biểu đạt những sắc thái, nội dung khác nhau về tư tưởng, tình cảm, phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân để giành độc lập dân tộc thì về cơ bản CNDT trong tư tưởng HCM mang hàm ý CNDT chân chính, với nội dung cốt lõi là tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước chân chính của dân tộc Việt Nam và các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập khác.

Tài liệu tham khảo

01. Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, HN, 1998.

02. HĐ quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam: Từ điển bách khoa Việt Nam, 1, Trung tâm biên soạn tư điển bách khoa Việt Nam, HN, 1995.

03. Từ điển triết học (bản tiếng Việt), Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1986.

04. Trên http://www.ussh.edu.vnchuyên mục Không gian học thuật.

05. Hồ Chí Minh, Toàn tập, 2 (1924-1930), Nxb CTQG, HN, 2000, tr. 234.

06. Hồ Chí Minh, Toàn tập, 2 (1924-1930), Nxb CTQG, HN, 2000, tr. 238.

07. Hồ Chí Minh, Toàn tập, 8 (1955-1957), Nxb CTQG, HN, 2000, tr. 584.

08. Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 88.

09. GS Song Thành: Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, 2005, tr. 583.

10. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, 2009, tr. 63.

Hà Nội, ngày 25/04/2009

“CÀNG HỌC, CÀNG DỐT” – PHẢI CHĂNG LÀ MỘT NGHỊCH LÝ?

Chủ đề này đã có lần tôi nói đến trên một trang Blog cá nhân. Nay đem ra bàn lại, thêm một số khía cạnh mới. Âu cũng là chuyện bình thường, vì nhận thức luôn là tiến trình tiệm cận chân lý.

Đối với nhiều người, câu thành ngữ “càng học càng dốt” là một nghịch lý, khó hiểu và khó chấp nhận. Theo “lẽ phải thông thường” (chữ dùng của GS Hồ Ngọc Đại), người ta càng học càng phải tiến bộ, hiểu biết nhiều hơn. Sao lại nói: “Càng học càng dốt” nhỉ? Vậy mà đúng là càng học càng dốt đấy, bạn ạ. Mới nghe, câu này là nghịch lý, nhưng đi sâu vào bản chất thì nó không còn là nghịch lý nữa.

“Nghịch lý là những sai quấy và thuẫn nghịch trong nhận thức, dường như đi ngược lại với logic thông thường. Trong tiếng Anh (và nhiều thứ tiếng châu Âu khác), từ “paradox” (nghịch lý) mang tiếp tố “para-“ có nghĩa là “áng chừng”, “lân cận”, “không hẳn”. Cho nên “paradox” ám chỉ một sự “mờ mờ ảo ảo” về một mâu thuẫn nào đó trong nhận thức mà chúng ta chưa “giải mã” được”[1].

Trở lại câu thành ngữ: “càng học càng dốt”. Phải nói ngay rằng đây không phải là một nghịch lý. Bạn thử hình dung khi mình còn nhỏ, đi học tiểu học, rồi lớn dần, học lên trung học, đại học. Nhận thức, hiểu biết của bạn về mọi mặt ngày càng tăng tiến. Rất tự nhiên bạn nghĩ rằng, mình càng học càng tiến bộ. Có chuyện đó. Nhưng câu thành ngữ này muốn nói đến một điều sâu xa và mang tính triết lý, triết học hơn chứ không theo “lẽ phải thông thường” như vậy!

Bây giờ mời bạn hãy tưởng tượng (hay quan sát) khi bơm một quả bóng bay xem điều gì xẩy ra? Ta hãy quy ước với nhau, bề mặt ngoài quả bóng bay biểu thị cho sự hiểu biết của con người, còn khoảng không khí mà mặt ngoài quả bóng tiếp xúc là những điều chưa biết. Khi bóng được bơm ít hơi, diện tiếp túc mặt ngoài của nó với không khí còn nhỏ. Điều đó có nghĩa là sự hiểu biết của con người còn hạn chế (nhỏ, ít).

Nhưng khi quả bóng được bơm căng phình to lên thì diện tiếp xúc bề mặt của nó với không khí (cái chưa biết) cũng lớn hơn khi trước. Bóng càng được bơm to, diện tiếp xúc của bề mặt với không khí càng lớn hơn.

Như vậy, qua hình ảnh quả bóng được bơm to cho ta thấy một nhận thức trực quan sinh động – sự không hiểu biết (tức cái dốt) của chúng ta đã tăng lên theo tỷ lệ thuận với cái biết của ta. Nghịch lý “càng học càng dốt” đã xẩy ra!

Diễn giải ra, ta có thể hiểu – “càng học càng dốt” muốn nói tới một chân lý: Càng học nhiều con người càng nhận thấy sự hiểu biết của mình còn hạn chế, nông cạn. Trong kho tàng văn hoá dân gian, tục ngữ Việt còn có một câu khác diễn đạt một nội dung rất gần với câu thành ngữ này, đó là: “Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung!” Trên thế giới, nhà bác học Anhxtanh cũng khẳng định: “Cái ta biết chỉ như một giọt nước. Cái không biết mênh mông như đại dương”.

Cùng là câu thành ngữ trên, nhưng nếu ta nhìn từ một góc độ khác, từ góc nhìn Đạo Phật chẳng hạn, sẽ cho ta một tri kiến rất thú vị. Trong khi khoa học nhận thức thế giới chủ yếu theo phương pháp thực nghiệm, suy lý, phân loại, trừu tượng hoá và thông qua các khái niệm để tiếp cận và diễn đạt chân lý thì Đạo học phương Đông lại dùng trực giác, đặc biệt là thông qua sự chứng ngộ của bản thân con người để nhận thức, giác ngộ và biểu đạt chân chân lý.

Các thiền sư phương Đông cho rằng, khi mà đầu óc con người chứa đầy những khái niệm, kiến thức, tư tưởng… thì tâm không lúc đó không thanh tịnh. Khi tâm không thanh tịnh thì con người không thể nhận thức đúng đắn hiện thực được. Chỉ khi nào trạng thái tâm của con người như trong sách Đạo của vật lý viết: “Khi óc suy luận phân biệt ngưng bặt thì tâm trực giác sản sinh ra một dạng ý thức đặc biệt. Thế giới chung quanh được chứng thực một cách trực tiếp, không bị sàng lọc bởi khái niệm”[2] khi ấy ta nhận thức được chân lý. Trạng thái này được tạo nên bởi thiền quán.

Trong Đạo học phương Đông có một pháp môn là Thiền quán. Thiền quán luôn đòi hỏi người tu tập phải định tâm, làm cho tâm đạt được nhất tâm và thanh tịnh. Từ đó trí tuệ (Phật giáo gọi là Trí huệ) đặc biệt phát sinh. Trong trạng thái đó, con người tự nhận thức được thế giới, vạn pháp một cách chân thực, đúng đắn và khách quan nhất. Những điều tâm nhận thức trực giác trong trường hợp này chính là những chân lý tuyệt đối (Chân đế khác với những chân lý tương đối là Tục đế).

Khi nói đến điều này, cả Trang Tử và Lão tử (đại diện xuất sắc của Đạo giáo) đều đồng tình với quan điểm của Phật giáo. Trang Tử bảo rằng: “Tâm thức yên tĩnh của thánh nhân như tấm gương phản chiếu trời đất – chiếu rọi muôn vật”. Còn tinh thần câu nói của Lão Tử thì giống như câu thành ngữ mà chúng ta đang bàn. Ngài nói: “Theo học, ngày càng thêm; theo đạo, ngày càng bớt” (“Vi Học nhật ích; Vi Đạo nhật tổn”). Vậy là đã rõ, “càng học, càng dốt” hiển nhiên là một chân – nghịch lý, phải không bạn!

Trong kho tàng văn hoá Việt, có nhiều nghịch lý tương tự như “Càng học, càng dốt”. Chẳng hạn như câu thành ngữ dân gian: “Sinh con rồi mới sinh cha. Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”.

Thoạt nghe, dễ ngộ nhận rằng, đây là một điều phi lý. Nhưng đúng là như vậy. Người ta chỉ có thể trở thành cha, thành ông khi xẩy ra tiền đề hay điều kiện đi kèm là đứa trẻ trong gia đình được sinh ra. Nếu trong gia đình đứa con không được sinh ra, lấy ai gọi ta là cha?

Tương tự nếu đứa cháu chưa ra đời, làm sao ta được gọi là ông? Thế cho nên: “Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà, rồi mới sinh ông” là như vậy. Mới nghe thì tưởng đây là nghịch lý, kỳ thực là thuận lý.

Dưới góc nhìn khoa học, triết học ta luận giải như vậy; hoặc cũng có thể mượn thuyết Duyên khởi của Đạo Phật để giải thích hiện tượng này.

Theo thuyết Duyên khởi, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều không sinh, không diệt, không đầu không cuối. Tất cả chỉ tuỳ duyên mà hiển thị trước các giác quan của con người. Mọi sự đều nương tựa nhau mà hiển thị; sinh diệt luân hồi bất tận giống như chuyện đứa trẻ ra đời thì mới có cha, ông và ngược lại… Nếu không có các nhân và duyên đó thì vạn pháp đều là không…


[1] – Anh Việt – Quang Toàn: Khoa học: nghịch lý, nghịch lý…, Nxb Trẻ, 2001, tr. 7.

[2] – Fritjof Capra: Đạo của vật lý (Một khám phá mới về sự tương đồng giữa vật lý hiện đại & Đạo học phương Đông), Nxb Trẻ, 2001, tr. 51.

ĐẠO PHẬT NÓI VỀ CHỮ “TÀI”

 Chữ TÀI thường được những người hay/chơi chữ, bán/mua chữ nói đến gắn với những chữ khác như: TÀI ĐỨC, TÀI VẬN, TÀI LỘC, TÀI NĂNG…

Trên tường thư phòng của tôi trước có treo hai bức tranh giấy nói về hai chữ ĐỨC-TÀI của Nhà Phật.

Tiếc rằng lâu ngày một bức bị rách phải bỏ đi (bức có nội dung về chữ ĐỨC), còn lại bức nói về TÀI.

Thỉnh thoảng đọc và ngẫm về mười điều Nhà Phật khuyên người ta trong chuyện làm giàu, thấy chí lý lắm (!):

MƯỜI ĐIỀU LÀM GIÀU

01. Lấy cần kiệm mà giàu/ Không từ mọi gian nan khổ cực

02. Lấy trung hậu mà giàu/ Buôn bán công bằng nhiều khách hàng

03. Lấy chăm chỉ mà giàu/ Hàng ngày thức dậy sớm

04. Lấy thời gian mà giàu/ Quán xuyến lo việc gia đình

05. Lấy cẩn tắc mà giàu/ Giữ gìn nhà cửa, đề phòng hỏa hoạn

06. Lấy uy tín mà giàu/ Không làm việc phi pháp

07. Lấy đoàn kết mà giàu/ Trong nhà già trẻ giúp đỡ nhau

08. Lấy chung thủy mà giàu/ Vợ hiền, con ngoan không hà hiếp ghen tuông

09. Lấy tương lai mà giàu/ Dạy con cái biết tạo dựng sự nghiệp 

10. Lấy thi ân mà giàu/ Một lòng tích đức làm điều thiện.

THĂM VĂN MIẾU MAO ĐIỀN

Hình minh họa

1. Văn miếu là hiện tượng văn hoá xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Sau khi Khổng Tử chết, triều đình phong kiến cho sửa lại nơi ông ở để thờ cúng, gọi là Văn miếu. Cùng với sự phát triển, lan toả của Nho giáo, nhiều nước châu Á (Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) cũng dựng Văn miếu.

Trên đất nước ta hiện còn nhiều Văn miếu tồn tại rải rác khắp ba miền, đó là  Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Vinh, Văn Thánh Miếu (ở Thừa Thiên – Huế), Văn Miếu Diên Khánh (Khánh Hoà) và Văn Miếu Trấn Biên (ở Biên Hoà, Đồng Nai). Trong đó, Văn Miếu Mao điền đứng thứ hai về sự nổi tiếng sau Văn Miếu Quốc tử giám (Hà Nội).

Di tích thuộc xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Nhưng xưa kia, Văn Miếu Mao Điền thuộc trấn Đông – một trong tứ trấn (Đông, Nam, Đoài, Bắc) bao quanh Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Văn Miếu Mao Điền là sự tiếp nối Văn Miếu trấn Hải Dương xưa. Văn miếu Hải Dương được xây dựng từ thời Lê Sơ (thế kỷ XV) tại xã Vĩnh Lại, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình Giang). Cùng thời kỳ này, trường thi Hương cũng được xây dựng tại xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng. Thời Tây Sơn (1788-1802), Văn Miếu được di chuyển về xã Mao Điền và nhập vào trường thi Hương ở đây thành một thực thể văn hoá mới.

Vào năm 1807 (thời gia Long), chính quyền và dân địa phương đã triển khai xây dựng Khải Thánh từ (thờ cha mẹ Khổng Tử), gác Khuê Văn, hai nhà Giải Vũ với hai lầu chuông, khánh đối xứng nhau. Đến thời Minh Mệnh, Văn miếu được đại tu trở thành một địa danh văn hoá lớn, nơi diễn ra các hoạt động tế lễ, học hành đông vui. Vậy là, Văn miếu Mao Điền vốn là một trường học nay trở thành trường thi của vùng. Nơi đây đã góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho địa phương và cả nước; đồng thời đây cũng là một trong những địa phương tích cực góp phần nêu cao, phát huy truyền thống “hiếu học”, “tôn sư trọng đạo” của dân tộc ta.

Theo dòng lịch sử, đến năm 1947, Văn Miếu Mao Điền còn khá nguyên vẹn với hai toà nhà Tiền tế, Hậu cung theo kiến trúc kiểu chữ Nhị (=), mỗi toà 7 gian, nhà Đông vu. Do ảnh hưởng của chiến tranh và khí hậu, đến thập niên 1980, di tích xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1991, nhân dân xã Cẩm Điền đã đóng góp công sức tiền của tu bổ lại di tích. Năm 1992, Văn Miếu Mao Điền được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Trong khoảng thời gian từ tháng 6-2002 đến tháng 4-2004, UBND tỉnh Hải Dương đã tiến hành trùng tu và tôn tạo di tích này với quy mô lớn, tái tạo lại gần như diện mạo xưa của Văn Miếu[1].

Hiện nay, du khách đến thăm quan sẽ được chiêm ngưỡng quần thể khu di tích Văn Miếu Mao Điền, bao gồm: Nhà Tiền tế và Hậu cung. Trong Nhà Tiền tế đặt ban thờ công đồng, bên trên có hàng chữ: “Văn hiến tư tại (Văn hiến ở nơi đây) và bên cạnh là danh sách 637 Tiến sĩ Nho học của trấn Hải Dương. Hậu cung là nơi đặt bài vị, bàn thờ các danh nhân nổi tiếng là: Đức Khổng Tử, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Tuệ Tĩnh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Hữu và Nguyễn Thị Duệ (nữ tiến sỹ đầu tiên của nước ta)

2. Để hiểu sâu sắc hơn về Nho học xưa, chúng ta cần có những hiểu biết nhất định về Nho học từ nơi phát sinh ra nó (Trung Quốc). Nho giáo phát sinh từ Trung Hoa cổ đại. Khổng Tử được xem là thuỷ tổ của trào lưu tư tưởng này. Nhưng thực ra, trước thời Ngài đã có những tư tưởng triết học, đạo đức, chính trị theo khuynh hướng Nho giáo. Khổng Tử chỉ là người có công san định, hệ thống hoá để tạo nên hệ thống tư tưởng – về sau mang tên Nho giáo (hay Khổng Giáo). Chuyện này được nhà Đông phương học người Pháp H. Mát-pê-rô (H. Maspéro) nói rõ trong cuốn Đạo giáo và các tôn giáo ở Trung Quốc của ông:

“Từ nhiều trăm năm trước công nguyên, các vương hầu lúc nào cũng phải sử dụng một số người có học thức để làm văn thư. Mặt chữ khó, còn viết trên gỗ, trên đá, vương hầu dốt nát và không chịu khó, càng phải nhờ cậy người hay chữ, những người này làm đủ các việc quan trọng nhưng mà không có chức vị lãnh đạo triều chính như vương hầu. Tình hình đó làm nảy sinh trong óc người hay chữ cái ý muốn thấy một chế độ xã hội, trong đó các tể tướng, các quan to được lựa chọn không theo dòng họ mà theo tài ba. Cho nên, họ điểm tô một thời quá khứ rất tốt đẹp – thời vua Nghiêu chọn Thuấn là người hiền làm vua chứ không chọn con mình. Rồi từ đó lần lần họ tạo thành một học thuyết về đạo lý, về cai trị, lấy Nghiêu, Thuấn làm điển hình. Theo lý thì tư tưởng này gọi là Nho giáo và nảy nở với thời Chu do các nhà học thức kể trên ghi chép trong phong tục tập quán, văn học của đất nước và cả những ước vọng riêng của họ nữa. Đến thời Xuân Thu loạn lạc, nhằm vãn hồi hoà bình, Khổng Tử hệ thống hoá và phát huy những tư tưởng triết lý, đạo đức, cai trị đã có. Những tư tưởng này về sau, khi các trường phái Dương Mặc nổi lên thì được gắn liền với tên tuổi của Khổng Tử, do đó Nho giáo cũng gọi là Khổng giáo”[2].

Nho giáo du nhập nước ta ngay từ đầu công nguyên. Suốt ngàn năm Bắc thuộc, Nho giáo được quan lại, những người Hán di cư sang nước ta truyền bá. Nhiều người Việt đã học và đi thi theo Nho giáo. Trước khi trở thành quốc giáo (từ thế kỷ XV), Nho giáo tồn tại hoà bình cùng với hai trào lưu tư tưởng lớn khác là Phật giáo và Đạo giáo (Lão giáo), tạo thành cái mà một số nhà nghiên cứu gọi là hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”.

Trong thời Lý–Trần, Phật giáo phồn thịnh nhất, “đạo Phật là quốc đạo, chẳng những dân tu mà vua cũng tu”[3]. Nhưng cuối Trần, Đạo Phật mất dần vai trò quốc giáo, đồng thời Nho giáo nổi lên công kích, lấn át và soán ngôi quốc giáo của Phật giáo. Nho giáo trở thành công cụ mà giai cấp địa chủ phong kiến sử dụng để trị quốc, suốt mấy trăm năm từ Lê đến Nguyễn (Gia Long).

Từ thời nhà Lê sơ, giáo dục theo mô hình Trung Quốc đã được nhà nước phong kiến chú trọng. Năm 1428, Lê Lợi cho lập Quốc tử giám ở kinh thành và nhiều trường học ở các đạo. Quốc tử giám là nơi dành riêng cho con em các quan chức to và một số học sinh ưu tú con thứ dân được tuyển qua các kỳ sát hạch ở các đạo.

Trường học ở các đạo thì mở rộng cửa cho con cái của bất kỳ ai có thể đi học được. Chính từ chủ trương này mà nhiều địa phương có điều kiện mở trường, Văn miếu Mao Điền và các Văn miếu ở một số nơi khác đã xuất hiện trong bối cảnh văn hoá – điều kiện lịch sử đó của nước ta.

Năm 1483, Lê Thánh Tông cho xây dựng lại Văn Miếu (Quốc tử giám) và lập nhà Thái học. Nhà này vừa là giảng đường, vừa là thư viện, đồng thời là nơi bảo quản các bản in gỗ quan trọng, ở đây còn có chỗ nội trú cho học sinh. Nhiều thầy đồ và hưu quan mở trường dạy học ở thôn xã. Sĩ tử ngày càng đông, kẻ sĩ dần trở thành một tầng lớp quan trọng trong xã hội.

Ngay từ năm 1434, nhà Lê bắt đầu quy định thể lệ thi cử. Năm 1442, nhà nước mở khoa thi đầu tiên, lấy đỗ 33 tiến sĩ, trong số này có một trạng nguyên, một bảng nhãn, một thám hoa (gọi là “tam nguyên”). Cũng thời kỳ này, để khuyến khích việc học hành, thi cử triều đình đặt lệ xướng danh và vinh quy.

Hai lệ này đã kích thích mọi người trong xã hội đua nhau học giỏi để được ghi danh bảng vàng, được cấp phát áo mão và vinh quy bái tổ về làng. Nhà nước căn cứ vào mức đỗ đạt để bổ nhiệm các chức quan. Đỗ càng cao thì chức càng to, quyền lợi cho bản thân, gia đình, dòng họ và cả làng xóm nữa càng nhiều. Năm 1480, vua Lê Tháng Tông định lệ dựng bia đá ở Văn Miếu, ghi lý lịch các vị tiến sĩ từ khoá 1442 trở đi. Như vậy, học giỏi, đỗ đạt cao thì trở thành như “bất tử”, bia đá muôn thuở nêu danh.

Học và thi Nho giáo dưới triều Lê sơ dần đi vào quy củ. Ở các đạo, cứ ba năm một kỳ thi hương; ở kinh thành ba năm một kỳ thi hội. Ngoài ra không định hạn, triều đình mở các cuộc thi “Minh kinh”, “Nho thần” nhằm kiểm tra học lực của quan lại, Thỉnh thoảng mở kỳ thi “Lại điển” thi hai môn viết chữ và làm toán để tuyển lựa thư lại viên chức cho triều đình.

Học và thi trở thành chỗ ganh đua của đông đảo thần dân trong xã hội, thành nấc thang trèo lên cao trong xã hội phong kiến. Chỉ tính thời trị vì của Lê Thánh Tôn, trong 37 năm, triều đình đã mở 12 khoa thi hội, lấy 501 tiến sĩ. Kỳ thi hội năm 1475, có đến 3.000 thí sinh; kỳ thi hương năm 1462, ở riêng trấn Sơn Nam số trúng tuyển có khoảng 1.000 người[4].

Học hành, thi cử theo mô hình Nho giáo được duy trì và phát triển suốt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. Tài liệu học và thi là hai bộ sách kinh điển – Ngũ kinh và Tứ thư của Trung Quốc. Hai bộ kinh điển đã có ảnh hướng rất lớn đến đời sống văn hoá giáo dục ở Việt Nam. Nhiều tác phẩm Nho giáo của Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm đã lấy Tứ thư và Ngũ kinh làm đối tượng trực tiếp để nghiên cứu, luận giải về tư tưởng Nho giáo.

Trong lịch sử, từ khi đạt tới độ cực thịnh dưới thời Lê sơ, Nho giáo và Nho học đã chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ thiết chế nhà nước, hoạt động chính trị đến kinh tế, quân sự, văn học nghệ thuật, kiến trúc, đạo đức tín ngưỡng, giáo dục khoa cử, v.v… Ảnh hưởng của Nho giáo từ các sĩ phu trí thức lan toản đến mọi tầng lớp nhân dân, trở thành phong khí xã hội, lâu dần thành phong tục tập quán trong dân gian[5].

Bộ Ngũ kinh được Khổng Tử san định để dạy học trò. Trong đó, Kinh Thi là bộ giáo trình chính trị – luân lí hàng đầu của Trung Quốc cổ đại. Nó được coi là văn bản “kinh phu phụ, thành hiếu kính, hậu nhân luân, mỹ giáo hoá, di phong tục” (Uốn nắn đạo vợ chồng, hình thành lòng hiếu kính, xây đắp nhân luân, tô đẹp giáo hoá, đổi thay cả phong tục). Còn Kinh Thư bao gồm những cáo (chính lệnh), Thệ (quân lệnh), mệnh (chỉ thị), huấn (báo cáo với cấp trên), mô (lời bàn mưu) của vương thất hai đời Thương Chu, được sử quan ghi lại và được biên soạn, bảo tồn như những hồ sơ lưu trữ, có thể xem là tổng tập văn kiện quan phương cổ xưa nhất của (Trung Quốc).

Lễ (Kinh) vốn là lời xướng trong lễ tế tôn giáo, dùng để tỏ rõ quan hệ tôn ti trên dưới của những người tham gia điển lễ và những hình thức “lễ” như nghi trình vũ nhạc để biểu hiện sự kính trọng đối với tổ tông thần linh. Kinh Dịch, vốn là tên chung của các sách bói thời Thượng cổ ở Trung Quốc. Về sau các sách này thất truyền chỉ còn lại bản thời nhà Chu, gọi là Chu Dịch. Kinh Dịch đứng đầu các Kinh và có một quá trình diễn sinh lâu dài.

Tác giả của Kinh Dịch gồm rất nhiều người (có danh và vô danh) sáng tác, sưu tập chỉnh lý trong suốt một thời gian dài dằng dặc. “Dịch” có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa biến dịch là cơ bản nhất. Kinh Dịch kiến tạo được một hệ thống lý luận hoàn bị, với một hệ thống khái niệm, phạm trù độc đáo có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Giới học giả coi Kinh Dịch là một pho sách triết học uyên thâm bác đại, có ảnh hưởng sâu xa đến các ngành học của Trung Quốc xưa.

Cuối cùng là Kinh Xuân Thu. Đây là tên gọi chung của quốc sử biên niên các nước chư hầu từ cuối nhà Tây Chu đến thời Đông Chu. Tên Xuân Thu lấy theo hai mùa “xuân” và “thu” ghép lại với ý nghĩa là “hằng năm”. Xuân Thu được coi là bộ sách có ý nghĩa cao xa nhất trong Ngũ Kinh, vì nó là bộ biên niên sử đầu tiên, hơn thế nó chép việc thiên về “bình đoán” (bình luận và phán xét), sự bình luận phán xét này được biểu đạt bằng một hình thức được mệnh danh là “bút pháp Xuân Thu”. Mỗi Kinh có nét đặc sắc, công năng riêng; nhưng chúng đều có đặc trưng chung là khuynh hướng nhân văn và phong cách hiện thế rõ rệt, ít có màu sắc và ham muốn xuất thế thoát tục[6].

Tứ thư gồm: Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung, Đại học. Trong đó: Nội dung của Đại học là “Tam cương lĩnh, Bát điều mục” (Tam cương lĩnh: Minh minh đức, Thân dân, Chỉ chí thiện; Bát điều mục: Cách vật, Trí tri, Thành ý, Chính tâm, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ). Còn Trung dung là sách do Tử Tư (cháu Khổng Tử) làm ra. Nội dung chính của sách này bàn về Trung dung, Trung hoà, chí Thành; bàn về sự tu dưỡng, về đạo trị thiên hạ…

Luận ngữ là những lời của Khổng Tử trả lời học trò và người đương thời, cùng những lời các học trò hỏi đáp với nhau để tiếp nhận lời của thầy, được các học trò ghi lại. Bộ Luận ngữ hiện lưu hành do Chu Hy tập chú, trong đó trình bày lời nói sâu sắc, rất có giá trị của Khổng Tử đề cao việc học tập, giáo dục, xử thế, đạo làm người, đạo làm thầy… Sách Mạnh Tử do Mạnh Tử soạn, nội dung bàn về đạo đức, nhân nghĩa ở tầm vĩ mô (“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, v.v…).

Ngũ Kinh, Tứ Thư có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Người theo Nho học xưa phải học Tứ Thư, Ngũ Kinh để đi thi. Nếu đỗ đạt được bổ nhiệm vào hệ thống quan lại của nhà nước thì đó là cẩm nang để họ hành xử trong công việc và trong cuộc sống. Ở Việt Nam, bộ Tứ Thư được Chu Văn An đời Trần biên soạn làm tài liệu dạy học gọi là Tứ Thư thuyết ước. Sách này giá trị, nhưng tiếc đã thất truyền…

Một trong những đóng góp nổi bật của Nho giáo là chú trọng giáo dục. Nho học chủ trương lấy đức dục làm gốc, trí dục làm ngọn. Mô hình giáo dục này có những ưu điểm nhưng đi kèm là những hạn chế. Vì không chú trọng nhiều đến những kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật cùng với lối dạy học tầm chương trích cú nên căn bản không tạo được những con người năng động, sáng tạo có khả năng đột phá để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ. Có thể nói, đây là điểm yếu cốt tử của nền giáo dục cũ theo cách nhìn hiện đại – phương Tây. Nhưng nền giáo dục và khoa cử Nho học đề cao tinh thần hiếu học, coi trọng việc học và đạo đức làm người lại là những mặt ưu điểm vượt trội mà nền giáo dục phương Tây cần tham cứu, học hỏi. 

3. Văn Miếu Mao Điền – một trong những biểu tượng cho nền giáo dục xưa – giáo dục Nho giáo của dân tộc. Thăm Văn Miếu Mao Điền là ta ngược dòng lịch sử, trở lại với cội nguồn văn hiến của đất nước. Hồi tưởng và suy ngẫm về Nho học chúng ta thấy, tuy nền giáo dục này có những khiếm khuyết; nhưng nó đã góp phần giúp dân tộc ta tồn tại, phát triển trong hàng ngàn năm lịch sử… 

Tài liệu tham khảo

01.  Ban QLDT huyện Cẩm Giàng: Văn Miếu Mao Điền trấn Hải Dương, Sở Văn hoá thông tin Hải Dương, tháng 11-2012.

02.  http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/1705-1776-633438673312773750/100-loi-giai-dap-ve-van-hoa-Viet-Nam/Van-Mieu-la-gi.htm.

03.  Nguyễn Hiểu: Văn miếu nào cổ nhấthttp://petrotimes.vn/van-mieu-nao-co-nhat-viet-nam-213241.html

04.  PGS.TS Đinh Khắc Thuân: Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam (qua các tài liệu Hán Nôm), Nxb Khoa học xã hội, 11-2009.

05.  Trần Quốc Vượng: Văn hoá Việt Nam, Nxb Thời đại & Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, 2013.

06.  GS.NGND Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

07.  Nguyễn Q. Thắng: Khoa sử & Giáo dục Việt Nam, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2005.

08.  Trần Văn Giàu: Tổng tập, Tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám, Nxb Quân đội nhân dân, 2008.

09.  Viện nghiên cứu Hán Nôm: Ngữ văn Hán Nôm, Tập 2, Ngũ kinh, Nxb Khoa học xã hội, 2004.

10.  Viện nghiên cứu Hán Nôm: Ngữ văn Hán Nôm, Tập 1, Tứ thư, Nxb Khoa học xã hội, 2004.

11.  Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, Viện Harvard-Yenching Hoa Kỳ: Nghiên cứu Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành, Nxb Thế giới, 2009.

                                                    Ngày 20/12/2015

                                                  TS. Bùi Hồng Vạn


[1] Ban QLDT huyện Cẩm Giàng: Văn Miếu Mao Điền trấn Hải Dương, Sở Văn hoá thông tin Hải Dương, tháng 11-2012. 

[2] Trần Văn Giàu: Tổng tập, Tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám, Nxb Quân đội nhân dân, 2008, tr. 48.

[3] GS.NGND Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 123. 

[4] Trần Văn Giàu: Tổng tập, Tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám, Nxb Quân đội nhân dân, 2008, tr. 59.

[5] Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, Viện Harvard-Yenching Hoa Kỳ: Nghiên cứu Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành, Nxb Thế giới, 2009, tr. 8. 

[6] Trần Văn Giàu: Tổng tập, Tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám, Nxb Quân đội nhân dân, 2008, tr. 71.

OSHO NÓI VỀ SÁNG TẠO

SÁNG TẠO (tiếng Anh: Creativity) là khái niệm được đề cập đến trong tất cả các bộ môn khoa học. Người ta bàn, luận giải về sáng tạo trên nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau. Từ đó tạo ra những ý niệm, quan niệm, khái niệm khác nhau về nó.

Trên thế giới có học giả gần như dành cả đời để nghiên cứu – truyền bá về lý thuyết sáng tạo, đó là GS. Altshuller (Liên Xô cũ; ông là nhà sáng chế, đồng thời là tác giả của Lý thuyết giải các bài toán sáng chế TRIZ = sáng tạo). PGS Phan Dũng (một trong những học trò của GS. Altshuller) đã rất nỗ lực truyền bá Lý thuyết sáng tạo này vào nước ta. Và nó cũng tạo được chút ảnh hưởng đối với xã hội Việt Nam; nhưng rồi chìm dần, đến bây giờ ít người biết/nhắc đến nó.

Tuy vậy, sáng tạo vẫn là vấn đề muôn thuở của nhân loại. Trong mọi thời đại, con người muốn tồn tại và phát triển thì dứt khoát và luôn phải sáng tạo. Nhưng để sáng tạo có hiệu quả lại cần có quan điểm, lý thuyết soi đường… Một trong những quan điểm về sáng tạo mà tôi đọc được và thấy thích đó là quan điểm của Osho. Sau đây là một số đoạn trong cuốn “Sáng tạo bừng cháy sức mạnh bên trong” của OSHO:

“Sáng tạo là sự nổi loạn ngoạn mục nhất trong cuộc sống. Để sáng tạo, bạn phải thoát khỏi mọi khuôn phép; bằng không sự sáng tạo của bạn chỉ là một bản sao chép không hơn không kém. Bạn cũng chỉ có thể sáng tạo khi bạn tồn tại như một cá thể riêng biệt, độc đáo và tách rời khỏi tâm lý đám đông. Tâm lý đám ông hoàn toàn phi sáng tạo. Đó chỉ là một kiểu sống mòn, không vũ điệu, không tiếng hát, không niềm vui – hết sức máy móc.

Người sáng tạo không thể bước theo lối mòn cũ kĩ. Anh ta phải vạch ra hướng đi riêng cho mình, phải tự khám phá những bí ẩn của cuộc đời. Anh ta phải dấn thân, phải vượt ra khỏi tâm trí của đám đông. Tâm trí của đám đông là loại tâm trí bầy đàn, a dua, a tòng, thấy đám đông chạy mình cũng chạy, thấy đám đông dừng mình cũng dừng mà không hiểu vì sao. Tâm trí này thiếu sự trải nghiệm và phân tích.

Tuy vậy tính bầy đàn cũng có sức cám dỗ của riêng nó: những ai cho rằng lựa chọn của đám đông là hướng đúng đắn duy nhất thì sẽ được tôn trọng, kính nể. Chính vì thế từ lâu đã tồn tại quy luật hà khắc, đó là những người làm công việc sáng tạo như: họa sĩ, vũ công, nhạc sĩ, nhà thơ, nhà điêu khắc… chớ có mơ tưởng đến việc được trọng vọng. Họ phải sống một cuộc đời du mục, môt cuộc đời nay đây mai đó – điều kiện duy nhất để họ mặc sức sáng tạo…

Nỗ lực của tôi là phá vỡ định kiến của đám đông và giải phóng cho mỗi cá nhân để họ được là chính mình… Trên thực tế, loài người chỉ thật sự được sinh ra vào cái ngày mà mỗi cá nhân đều được tôn trọng bởi chính sự “trở lại” của mình… Loài người cần có một mảnh đất mới, mảnh đất của tự do. Chủ nghĩa du mục, một lối sống không chiều theo quy tắc xã hội, là một kiểu phản ứng tất yếu.

Nhưng nếu tầm nhìn của tôi trở thành hiện thực, khi đó chủ nghĩa du mục sẽ không còn tồn tại nữa, bởi sẽ không còn tồn tại cái gọi là tâm trí đám đông luôn tìm cách thống trị con người. Mọi người sẽ cảm thấy thoải mái, dễ chịu hơn. Khi đó chỉ có sự sáng tạo. Sáng tạo chính là hương thơm của tự do. Người sáng tạo là người có sự hiểu biết thấu suốt, có thể nhìn thấy những điều chưa ai từng thấy trước đó và nghe thấy những điều chưa ai từng nghe…”.