“Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô”

Xây dựng, quản lý hình ảnh/tượng của mình trong thời đại ngày nay trở thành một vấn đề đã, đang và sẽ được nhiều người quan tâm.

Inggrid Zhang là một chuyên gia xây dựng hình ảnh thương mại, bà đã viết và cho xuất bản cuốn sách “Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô”. Sách được dịch và xuất bản ở Việt Nam năm 2013 (513 trang, in khổ: 13,5 x 20,5 cm).

Đây là cuốn sách hay về chủ đề xây dựng hình ảnh/tượng bản thân. Ngoài phần mở đầu và phần cuối, nội dung của sách được chia thành 6 phần, với các chương cụ thể như sau:

* Phần I: Khí chất (gồm 6 chương, trong đó Chương 1: Hình tượng của bạn phải giống người thành đạt; Chương 2: Không ai có thể thành công nếu thiếu tự tin; Chương 3: Khi bạn chưa gặt hái được thành tựu vĩ đại như Bill Gates; Chương 4: Thế giới hai phút – ấn tượng đầu tiên; Chương 5: Mọi người đều muốn mình trông giống người trung thượng lưu; Chương 6: Anh nhiệt tình với tôi, tôi sẽ quý mến anh – Nhiệt tình là phẩm chất cuốn hút nhất của mỗi con người).

* Phần II: Trang phục và phụ kiện (gồm Chương 7: Những người ăn mặc luộm thuộm không thể tạo ra ảnh hưởng lớn đối với xã hội – Trang phục của bạn chính là bạn; Chương 8: Công dụng lớn nhất của trang phục – Không phải để giúp bạn trông đẹp hơn mà giúp bạn tự tin hơn; Chương 9: Đừng để vợ đóng hộp cho bạn; Chương 10: Cavat – Tuyên ngôn cái tôi của đàn ông; Chương 11: Đừng bao giờ trao tiền bạc cho những kẻ đi đôi giày cũ rách; Chương 12: Sau khi vứt bỏ những bộ vest sang trọng và chiếc cavat đắt tiền, cuộc chiến trong phòng họp Hội đồng quản trị chưa bao giờ chấm dứt – Quần áo giản tiện không có nghĩa là có thể ăn mặc tùy tiện; Chương 13: Đồng hồ, thắt lưng da – Công cụ nâng cao hay hạ bệ giá trị bản thân; Chương 14: Ma quỷ ẩn náu trong từng tiểu tiết – Hãy cắt ngắn lông mũi của bạn; Chương 15: Phụ nữ ăn mặc không phù hợp, chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại).

* Phần III: Giao tiếp (Chương 16: Giọng nói của anh làm tôi nhức đầu – Giọng nói là nhạc cụ có sức lôi cuốn mạnh nhất trong quá trình giao tiếp của loài người; Chương 17: Chỉ cần nói chuyện, tôi có thể hiểu về anh – Hình tượng của bạn khi nói chuyện phiếm; Chương 18: Đừng bao giờ để tốc độ của lưỡi vượt qua tốc độ tư duy – Hãy học nghe trước khi học nói; Chương 19: Diễn thuyết trước công chúng – Thời khắc quý báu để thu hút sự chú ý của người khác; Chương 20: “Nghe” thấy hình tượng của bạn qua điện thoại; Chương 21: Anh quý mến tôi, tôi cũng sẽ quý mến anh – Nguyên tắc vàng để thu hút đối tượng giao tiếp: yêu quý và tán dương).

* Phần IV: Ngôn ngữ cơ thể (gồm các chương – Chương 22: Năm giây ngắn ngủi mang lại hiệu ích kinh tế lớn lao – Không nên bắt những bàn tay đuồn đuột như cá chết; Chương 23: Hãy bước đi như những nhà tỉ phú – Tác dụng của ngôn ngữ cơ thể; Chương 24: Nụ cười của bạn đáng giá triệu đô – Nụ cười là ngôn ngữ không có đường biên; Chương 25: Đôi mắt có khả năng biểu đạt phong phú như chiếc lưỡi; Chương 26: Đừng đánh giá con người chỉ thông qua vẻ bề ngoài – Văn hóa, cử chỉ giúp ta phân biệt người này với người khác; Chương 27: Mặt biến đổi theo tâm – Không thể che kín vòng sáng tâm hồn).

* Phần V: Phong cách (gồm Chương 28: Trong khi bạn thưởng thức đồ ăn, người khác thưởng thức bạn; Chương 29: Học đòi phong nhã, giả danh quý tộc – Hiệp sĩ sân golf; Chương 30: Người sai hẹn không đáng tin – Người đúng hẹn là giữ uy tín; Chương 31: Mọi người đều kỳ vọng nhân vật vĩ đại là người tràn trề sức sống – Xây dựng hình tượng lành mạnh; Chương 32: Ba thế hệ mới tạo ra một thiên tài nghệ thuật – Tiền không mua được khí chất; Chương 33: Hàng tỉ người đang dõi mắt theo bạn – Hình tượng trên phương tiện thông tin đại chúng).

* Phần VI: Phần kết (Chương 34: Chỉ có những điều chưa nghĩ ra, không có điều gì không thể làm được; Chương 35: Thành tín – Hình tượng của bạn đáng giá triệu đô)…

Mặc dù Inggrid Zhang dựa vào cơ sở dữ liệu của các nước phương Tây và Trung Quốc để viết cuốn sách. Nhưng người Việt ta có thể đọc, suy ngẫm và vận dụng một cách phù hợp vào cuộc sống thì vẫn đem lại nhiều lợi ích.

Tuy vậy, bạn đọc cũng cần lưu ý đến lời khuyên của tác giả: “Nếu bạn không khát khao một cuộc đời siêu việt, không kì vọng vào sự nghiệp thành công; nếu bạn không muốn nổi bật xuất chúng, lôi cuốn mọi ánh nhìn và dành sự tôn trọng của người khác; nếu bạn không để tâm đến thành tích trong công việc, không hi vọng thăng tiến; nếu bạn không kì vọng vào tiền đồ của con trẻ, không tin tưởng vào kì ngộ trong tương lai thì xin bạn đừng mở cuốn sách này!“…

Hà Nội, ngày 03/02/2020

Bùi Tâm Văn

Thuật bắt tay

Chữ “thuật” trong những văn, ngữ cảnh khác nhau sẽ mang ý nghĩa khác nhau. Điều đó không có gì lạ. Ở đây, chữ thuật, đơn giản được hiểu là cách thức, phương pháp thủ thuật làm một cái gì đó cho đúng cách, đem lại hiệu quả. Vậy thôi!

Bắt tay là một hành vi trong cuộc sống người. Bắt tay đúng cách đem lại giá trị. Vì thế, một trong những chuyên gia xây dựng hình ảnh cá nhân, đồng thời là nhà tư vấn tâm lý và nhân cách – Ingrid Zhang, đã có lời khuyên về “thuật bắt tay” sao cho tốt.

Ingrid Zhang khuyên chúng ta hãy giới thiệu về bản thân trước khi đưa ta ra bắt tay người khác. Và khi thực hiện hành vi này thì lưu ý:

* Những người có địa vị cao, phụ nữ, người lớn tuổi thường giơ tay ra trước. Nếu họ không chủ động đưa tay ra bắt thì bạn nên chờ đợi. Nếu người khác chủ động đưa tay ra, bạn phải nắm lấy tay họ. Nếu không sẽ khiến người ấy cảm thấy không được tôn trọng, đồng thời thể hiện bạn không hiểu phép lịch sử tối thiểu.

* Khi bắt tay, phải nhìn thẳng vào mắt đối phương, miệng tươi cười. Nhìn thẳng thể hiện sự tôn trọng và tình tình của bản dành cho đối phương, đồng thời đây cũng là cách thể hiện sự tự tin, đàng hoàng của bạn và có thể quan sát biểu hiện trên khuôn mặt của đối phương.

* Khi đưa tay ra bắt, lòng bàn tay và ngón tay cái tạo thành một góc nhưng khi bạn bắt tay đối phương thì toàn bộ bốn ngón tay và ngón cái nên nắm lấy bàn tay đối phương. Đặc trưng của phương thức bắt tay “cá ươn” là không nắm ngón cái vào tay đối phương.

* Phải nắm chặt và mạnh một chút khi bắt tay đối phương nhằm thể hiện bạn là người kiên định, có sức mạnh và thái độ nhiệt thành. Cái bắt tay không có lực sẽ khiến nó trở thành loại hình bắt tay “cá ươn”. Nhưng nếu nắm quá chặt sẽ khiến đối phương khó chịu và nghĩ là bạn có ý đồ mờ ám.

* Thời gian nên kéo dài khoảng 5 giây, dưới 5 giây, cuộc bắt tay bị coi là quá vội vàng; nhưng nếu kéo dài quá 5 giây thì cũng bị coi là quá nhiệt tình. Đặc biệt khi nam giới bắt tay phụ nữ, không nên nắm quá lâu, dễ khiến họ nảy sinh tâm lý đề phòng.

* Nếu tay bạn dễ ra mồ hôi, hãy nhớ lau sạch trước khi bắt tay người khác!

[Đoạn trên được trích từ cuốn sách Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô của Ingrid Zhang (xuất bản tiếng Việt, 2013) để bạn nào có nhu cầu thì tham khảo, thực hành thuật bắt tay, giúp bản thân tăng thêm khả năng thành công trong cuộc sống].

Hà Nội, 25/01/2020

Bùi Tâm Văn

TIỂU THUYẾT LÀ GÌ?

Thú thực có lúc tôi định bỏ nghề giáo, theo nghề văn. Nhưng do không có năng lực, lại không có duyên với nghề/nghiệp này nên tình yêu đối với văn chương chỉ dừng lại ở độ nửa chừng (xuân) vậy thôi…

Nhưng, do còn nặng lòng với văn, nên tôi vẫn hay đọc những cuốn sách văn học mình yêu thích. Các tác giả trong văn chương người Việt hấp dẫn tôi phải kể đến Nam Cao (hồi học cấp 2), Nguyễn Huy Thiệp (khi đã đi làm) và Đỗ Lai Thúy (gần đây)…

Còn trên thế giới, với nước Tàu thì tôi “mê” Ngô Thừa Ân (với Tây du ký), La Quán Trung (với Tam quốc diễn nghĩa), Thi Nại Am (với Thủy Hử), Tào Tuyết Cần (với Hồng Lâu Mộng). Nước Nga thì thích Lép Tôn-xtôi (với Chiến Tranh và Hòa bình), Puskin (các bài thơ tình), Sô-lô-khốp (Đất vỡ hoang), Ốt-xtơ-rốp-xki (với Thép đã tôi thế đấy), Ai-rơ-man-tốp (Đa-ghet-xtan của tôi)…

Còn nhiều nữa các tác giả nước ngoài, như Vích-to Huy-gô (với Những người khốn khổ), Sếc-xpia (với Ham lét), Giắc-Lơn-Đơn (với Tiếng gọi nơi hoang dã), v.v… Kể ra không hết được, vả lại định hướng của bài viết không phải nói về điều này.

Bài viết đề cập đến quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp (một nhà văn Việt mà tôi yêu thích) về thể loại tiểu thuyết.

Vậy, Nguyễn Huy Thiệp quan niệm thế nào về tiểu thuyết?

Mục “2. Tiểu thuyết là gì?” thuộc chùm bài viết về tiểu thuyết có tên “Thời của tiểu thuyết” in trong tập tiểu luận “Giăng lưới bắt chim” (xuất bản 2010) sẽ trả lời câu hỏi vừa nêu. Mời bạn cùng đọc nhé:

Độ dày và tạp của tiểu thuyết có một cái gì đấy “hấp dẫn” (có lẽ hấp dẫn người viết hơn là người đọc).Tiểu thuyết vừa là một “sự tha hóa, xuống cấp” của truyện ngắn vừa là một sự “phát triển, bứt phá lên” của truyện ngắn. Nói ra điều này thật buồn cười, có phần khó hiểu với người ngoại đạo. Nếu như truyện ngắn đòi hỏi tinh lọc, thậm chí khắc nghiệt thì tiểu thuyết tạp đến nỗi cái gì cũng có thể thâu nạp vào được. Tiểu thuyết như một nồi lẩu nóng hổi của nghệ thuật.

Khi từ viết truyện ngắn chuyển sang tiểu thuyết, nhà sáng tác có phần nào dễ dàng hơn, “thênh thang” hơn. Không phải tự dưng các nhà cổ điển khuyên các nhà văn trẻ hãy bắt đầu từ truyện ngắn. Việc rèn luyện kỹ năng từ các bài tập truyện ngắn giúp cho các nhà sáng tác khi viết tiểu thuyết nhiều thuận lợi hơn.

“Thời kỳ truyện ngắn” của hơn thập niên qua đủ độ dài cho các nhà sáng tác ở ta có kinh nghiệm chuyển sang “thời kỳ tiểu thuyết”.

Tiểu thuyết là gì? Tôi ngờ ngợ võ đoán tương lai trên văn đàn ở ta sắp tới sẽ có mấy dạng sau đây:

* Tiểu thuyết tự vấn (chữ của nhà văn Nguyên Ngọc) dành cho những nhà văn loại một có “tư tưởng”. Tôi nghĩ rằng đây sẽ thuộc về những nhà văn khoảng độ tuổi “đầu 5”. Trẻ hơn rất khó “tự vấn” vì kinh nghiệm sống không đủ cho họ có thể xem xét nội tâm của mình và nội tâm xã hội.

Ý thức công dân và bản lĩnh của thế hệ nhà văn này theo tôi là chẳng có gì đáng ngại trừ những thằng điên thực sự. Chiến tranh và những kinh nghiệm lịch sử, ký ức, hồi ức, ẩn ức… với độ dài về thời gian sẽ giúp họ có thể xây dựng những tác phẩm có giá trị. Đòi hỏi về tự do tư tưởng của lối tiểu thuyết tự sự, tự vấn này rất lớn và cũng không phải ai cũng “nuốt được thuốc đắng”.

Với lối tiểu thuyết này, điều cơ bản không phải là những đề tài, những vấn đề mổ xẻ “tấn trò đời” (có quá nhiều nguyên liệu dành cho nó) mà việc tìm ra một giọng điệu mới sẽ quan trọng hơn.

Viết theo lối mòn của tiểu thuyết cũ thì chẳng ai đọc được. Đây sẽ là kiểu tiểu thuyết đòi hỏi rất nhiều “võ” (ý tôi muốn nói về kỹ thuật viết văn). Những nhà văn xoàng đừng dại đâm đầu vào lối viết này. Văn chương có điều oái oăm là không phải cứ có ý chí là sẽ làm cho nó hay được. Nhưng thật trớ trêu, đối với các nhà văn xoàng thì càng khó, họ sẽ lại càng đâm đầu vào viết. “Điếc không sợ súng” cũng là một chân lý có thực trong văn học.

Gần đây, người ta thấy nhan nhản các bộ tiểu thuyết, thậm chí trường thiên tiểu thuyết ra đời liên tiếp. Chỉ nhìn qua thống kê trong cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004 của Hội Nhà văn Việt Nam người ta cũng đủ giật mình: con số tiểu thuyết được viết ra trên dưới ba chục cuốn dù cho cuộc thi mới đi được nửa chặng đường!

Trong số các nhà văn viết dài thì Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Đình Chính nổi lên như những “kiệt hiệt”. Những cố gắng không mệt mỏi của Lê Lựu, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Nguyễn Việt Hà, v.v… cũng đáng nể phục…

* Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng, rồi đây thành công của tiểu thuyết Việt Nam sẽ không phải là ở dạng tiểu thuyết “chính thống” kiểu tự vấn, tự sự mà có khả năng sẽ rơi vào dạng tiểu thuyết “mua vui cũng được một vài trống canh”: tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết phiêu lưu, trinh thám hoặc cái gì từa tựa như thế.

Thực tế, một khi xã hội ổn định, đời sống vật chất tinh thần tăng dần lên thì người ta sẽ không còn băn khoăn quá nhiều về “lý tưởng” hoặc “chân lý” gì nhiều nữa (ở đây tôi muốn nói đến lý tưởng sống chung chung và chân lý phàm tục thường nhật chứ không muốn ám chỉ về khía cạnh chính trị).

Có thể nhìn rộng ra thêm ở các hoạt động âm nhạc biểu diễn để so sánh: các ca khúc thu hút giới trẻ (nhạc trẻ) vẫn thường ăn khách ở những tụ điểm vui chơi nhiều hơn “ca khúc truyền thống”. Sẽ là tương tự như thế, những tiểu thuyết best seller hấp dẫn người ta với những chủ đề vô thưởng vô phạt rồi đây sẽ chiếm thế thượng phong.

Tôi cũng nghĩ rằng những nhà văn tiên phong hàng đầu trong lối viết này (nhất là ở giai đoạn đột phá) sẽ phải là những nhà văn tài năng số một. Việc ra đời hàng loạt các tờ báo, tạp chí sẽ tạo điều kiện để các tiểu thuyết fenilleton xuất hiện. Thực tế trong văn học sử nước ta, Thế Lữ, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài, v.v… cũng từng đã viết như thế.

Tại sao tôi nói phải là những nhà văn tài năng số một đột phá vào dạng tiểu thuyết này? Vì nhiều lẽ: một là, thường ở những nhà văn tài năng thì sự nhạy cảm về thời vận ở họ là điều hiển nhiên. Họ chẳng dại gì khư khư một kiểu, một lối mà không đổi mới chính mình; hai là, bởi sức ì của thói quen “đọc văn học” rất ghê gớm, buộc độc giả thay đổi một thị hiếu thì phải có tác phẩm lớn thực sự, thậm chí phải có “thiên tài” đi đầu đột phá. Nếu “võ công” không cao, khó mà thuyết phục được họ!

* Tóm lại, kiểu gì thì kiểu không có một tài năng khai phá thì chẳng thể làm trò trống gì được với thị hiếu – vốn “vô tư”, nhẹ dạ và bạc bẽo, lại cũng hay thay đổi…

Hà Nội, ngày 22/1/2020

Bùi Tâm Văn

Nhà văn như Thị Nở (1)

BÌA CUỐN SÁCH

Nếu ta đọc sách văn học (truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch…) mà không có những người dẫn lối, hướng đạo thì khó mà cảm thụ, nhận thức được hết mọi nhẽ hay, đẹp của một tác phẩm văn chương.

Tác phẩm là cái số 1, nhưng cần có cái thứ 2 là các bài viết, những cuốn sách của các nhà phê bình, nghiên cứu “tư vấn” cho người đọc…

“Nhà văn như thị nở” là cuốn sách đầu tiên của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, tập hợp 51 bài viết của ông về những gương mặt văn chương nổi trội, được chia thành hai phần: phần I viết về “người của hôm qua” và phần II viết về “người của hôm nay”.

Người của hôm qua là những người đã khuất như: Thế Lữ, Nam Trân, Hải Triều, Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Hàn Mặc Tử, Trương Tửu, Nam Cao, Hữu Loan, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Thâm Tâm,… = 35 người.

Còn “người của hôm nay” bao gồm: Tô Hoài, Việt Phương, Nguyên Ngọc, Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Ma văn Kháng, Dương Tường, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Quang Lập…, tổng cộng = 16 người.

Sách do Nxb Hội nhà văn kết hợp với Cty sách Nhã Nam in ấn, phát hành năm 2014 với số lượng 3.000 bản, khổ 15×24 cm, 404 trang.

Trang bìa 2 có hai câu thơ của Cao Việt Dũng đề tặng tác giả: “Viện Văn có một Phạm Xuân/Nguyên là cán bộ cử nhân phê bình”.

Trang bìa 3 có bốn câu của nhà thơ của Hoàng Nhuận Cầm: “Kiếp sau vứt bút phê bình/Làm tên thi sĩ thất tình mà chơi/Trả trang giấy trắng cho người/Biết đâu Từ Thức còn ngồi đợi anh”.

Rất thích khi đọc cuốn này…

Cảm ơn tác giả nhiều…!!!

Hà Nội, ngày 20-21/12/2019

Bùi Tâm Văn

Nhà văn như Thị nở (2)

Tôi được nghe giảng về Chí Phèo, về Thị Nở ở phổ thông và rất thích văn Nam Cao. Cái thích ấy càng được nhân lên khi đọc bài “Nhà văn như thị nở” của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên:

“Chí Phèo sẽ là gì nếu không có Thị Nở? Câu hỏi đó cứ hiện ra mỗi lần tôi đọc xong tuyệt tác này của Nam Cao. Thì hắn vẫn chỉ là kẻ cố cùng liều thân. Hắn sẽ không được thức tỉnh ý muốn trở lại làm người. Hắn sẽ không có cơ hội đi đòi lương thiện. Hắn sẽ không làm được hành động đâm chém lần cuối cùng mang ý thức cá nhân rõ rệt và ý nghĩa xã hội mạnh mẽ. Và rốt cuộc hắn sẽ không được thành một Chí Phèo bất hủ lừng lững trong văn chương và trong cuộc đời. Tôi dám đoan chắc như vậy.

Nếu như không có Thị Nở…

Bạn cứ ngẫm mà xem. Truyện “Chí Phèo” có thể dừng lại ở đoạn tác giả nhắc lại cảnh chí phèo vừa đi vừa chửi như ở đoạn mở đầu. Đến đó đã đủ một truyện ngắn hẳn hoi và hay rồi. Thân phận thằng Chí Phèo nổi chìm thế nào nữa người đọc đã có thể đoán biết, đã có thể suy nghĩ ở phía ngoài trang sách, đằng sau những dòng chữ.

Kết ở đó Chí Phèo sẽ cứ say bất tận, sẽ cứ chửi vô hồi, sẽ cứ rạch mặt ăn vạ, cứ đâm chém lung tung. Và rồi hắn sẽ bị chết như một công cụ trong tay các phe cánh ở cái làng Vũ Đại ấy, nơi hắn có sinh mà không có sống.

Một truyện ngắn như vậy với một nhân vật như vậy kể cũng đã là một điều khao khát trong đời cầm bút của không ít người.

Nhưng, thưa các bạn, điều tôi vừa nói chỉ là sự giả thiết, chỉ là ý tưởng có thể của tôi, của bạn, hay của ai khác nữa, nhưng nhất định không phải là ý đồ của Nam Cao.

Ông đau đớn nhân sinh nhiều hơn chúng ta, ông nghĩ ngợi kiếp người sâu hơn chúng ta, ông viết văn vì đời đậm hơn chúng ta. Chỗ chúng ta có thể bằng lòng dừng lại thì ông bước đi tiếp.

Văn hào Dostoevsky nói đại ý: suốt đời tôi, tôi chỉ làm mỗi một việc là đẩy tới tận cùng cái mà các vị chỉ dám làm một nửa. Chính lẽ đó mà truyện Chí Phèo phải có thêm Thị Nở. Cái Thị ấy là ai? Xin thưa: Thị Nở – chính là Nam Cao. Thị Nở – chính là nhà văn. Thị Nở – chính là sứ mệnh của văn chương.

Người cầm bút chỉ mong làm được cái việc bình thường mà cao cả như Thị Nở đã làm cho Chí Phèo…

Trong xóm, ngoài làng không ai dám gần Chí Phèo, ai cũng sợ hắn và tránh mặt hắn. Thị Nở thì không sợ Chí Phèo, bởi lẽ Thị Nở có ba cái không sợ ai phạm đến: xấu xí, nghèo đói và ngẩn ngơ. Đó là chân dung vật chất và tinh thần của Thị Nở.

Hình dung đó gợi tôi nhớ đến một vẻ mặt “nhàu nát vì đau đớn” như chân dung khắc họa số kiếp văn nhân ở xứ sở này. Có phải văn nhân là người như thế: không làm ai sợ và không sợ ai?

Chỉ như thế mới có thể thấu hiểu và đồng cảm được với thế nhân khốn cùng, mới nâng đỡ và vực dậy con người. Chợt nhớ Chế Lan Viên có lần viết “nhà thơ cái con mẹ điên”.

Chính ba cái nói trên của mình đã làm cho Thị Nở không sợ cái thằng mà cả làng phải sợ, hơn thế quen rồi lại thấy hắn có vẻ hiền. Về sau khi Chí Phèo chết, dân làng bàn tán đủ điều, riêng Thị Nở vẫn thầm nghĩ về cái hiền của hắn… Nếu không tin hắn hiền làm sao Thị dám yêu thương hắn như một tình yêu.

Tình yêu của Thị Nở và Chí Phèo? Vâng, dù thực sự trong truyện là cuộc cưỡng dâm của Chí Phèo với Thị Nở. Nhưng cái sự hớ hênh của Thị khi ngủ quên trong vườn chuối “cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nây” phơi ra dưới ánh trăng sáng, “rười rượi những ánh trăng”, khiến cho Chí trong cơn say nhìn thấy bỗng “run run” thì đó là cảm giác người được đánh thức.

Chí thành một Chí Phèo là hậu quả của sự bức tử tính người, chất người trong con người ở cái xã hội làng Vũ Đại. Hắn từ người biến thành thú, bị mất tiếng nói và ký ức, chỉ sống đời con chứ không phải đời người, rạch mặt mà không thấy đau, quăng quật mà không bị ốm. Cuộc làm tình với Thị Nở đã trả lại cho Chí Phèo ký ức và tiếng nói. Trước hết hắn bị cảm – cơn bệnh lý này là của con người, đó là bệnh người.

Và tình yêu của Thị Nở là ở bát cháo hành, một tình cảm người.

Lòng yêu đó của Thị Nở đã giúp Chí Phèo dứt cơn say. Tỉnh dạy Chí Phèo thấy lại cuộc đời bình dị và ấm áp qua tiếng chim hót vui vẻ, tiếng người cười nói xôn xao. Và hắn thấy ra hắn cô độc chứ không mạnh như vẫn tưởng. Cô độc còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau. Nam Cao thật sâu sắc và tâm lý.

Nhà văn phải đánh thức con người đến tận miền cô đơn, bé bỏng của nó. Văn học là phát hiện cho con người thấy rằng nó vốn yếu ớt, cô lẻ, nên nó mới có nhu cầu khát khao hạnh phúc, hòa hợp.

Chí Phèo suýt khóc và hắn đã khóc khi được thức tỉnh về điều này. Bát cháo hành của Thị Nở vào lúc đó là đỉnh điểm hạnh phúc của Chí Phèo, đồng thời cũng là khởi điểm tấn bi kịch làm người của hắn.

Hắn đã được yêu nên hắn tự biết. Hắn không say được nữa rồi dù có uống lại bao nhiêu rượu. Thị Nở đã khơi dậy trong hắn mơ hồ cảm thức về quyền con người được lương thiện. Bát cháo hành Thị Nở đã thổi bùng đốm lửa hiền trong con người hắn thành lửa dữ là chính vì cái câu hỏi không có câu trả lời này.

Hơi cháo hành thoang thoảng mà đúc sức mạnh át cả mùi rượu sặc sụa, mà khiến tâm linh thức tỉnh, mà buộc thằng lưu manh phải vùng lên tìm cách đòi quyền sống. Văn học phải là cái hơi đó. Nhà văn làm sao tỏa được cái hơi đó. Sao cho mỗi trang văn là một bát cháo hành Thị Nở cho người đọc văn.

Cuối cùng Chí Phèo chết, thế tất là vậy. Hắn quen rạch mặt mình để ăn vạ, coi tất cả mọi người là thù địch, lần này hắn đâm chết một kẻ thù cụ thể rồi tự đâm chết mình.

Dân làng Vũ Đại chỉ thấy Chí Phèo chết mà không tường tận cái chết của hắn. May ra Thị Nở hiểu. Và Thị vẫn không nghĩ về hắn khác hơn là một người hiền.

Ngòi bút nhà văn nhân đạo cao cả “tẩy rửa” cho con người là ở chỗ này đây. Con người yếu đuối, bất lực và có thể độc ác nữa, nhưng một khi con người đã hướng thiện, một khi tính thiện đã trỗi dậy trong con người, thì văn học phải truyền giữ và phát huy tinh thần đó của con người, cho con người…”.

[Nguồn: Phạm Xuân Nguyên, Nhà văn như Thị Nở (Nguyên văn 1), Nxb. Hội Nhà văn, Nhã Nam, 2014]

CẢM NHẬN KHI ĐỌC “VẪY VÀO VÔ TẬN” CỦA ĐỖ LAI THÚY

Không tính bìa, cuốn sách có độ dày 463 trang, khổ 13,5×20,5, được Nxb. Phụ nữ xuất bản quý II năm 2014.

Tôi không có chuyên môn về văn học, nhưng là người yêu thích văn nên hay tìm mua/đọc sách về lĩnh vực này.

Khi đọc xong Vẫy vào vô tận, tôi nhận thấy đây là cuốn sách viết về chân dung những người nổi tiếng thuộc giới tinh hoa Việt thế kỷ XX. Với 17 chân dung (học thuật) “đại diện” cho nhiều lĩnh vực:

01. Nguyễn Trường Tộ “nghịch lý canh tân”

02. Trương Vĩnh Ký “mở đầu đối thoại Đông Tây”

03. Nguyễn Văn Vĩnh “người [Việt] nam mới đầu tiên

04. Phạm Quỳnh “ngọn gió [N] nam

05. Phan Khôi “thầy cãi”

06. Nhất Linh “công trình hiện đại hóa”

07. Đinh Gia Trinh “tinh thần khoa học”

08. Nguyễn Hiến Lê “tự làm nên mình”

09. Thanh Lãng “cái nhìn thế hệ”

10. Nguyễn Khắc Dương “tìm mình qua những xung đột văn hóa”

11. Nguyễn Tài Cẩn “từ ngôn ngữ đến văn hóa”

12. Hoàng Ngọc Hiến “triết lý hai bàn chân”

13. Đặng Tiến “những vũ trụ thơ”

14. Đặng Nghiêm Vạn “đi tìm một tổng thể”

15. Nguyễn Văn Trung “dấn thân trí thức”

16. Văn Tâm “khối mâu thuẫn lớn”

17. Hà Văn Tấn “theo dấu các văn hóa cổ”

(Trong văn bản gốc không đánh số và các cụm từ đi kèm với tên người không nằm trong ngoặc kép. Tôi thêm số thứ tự và đưa các cụm từ liên quan vào trong ngoặc kép chỉ để tiện trình bày và nhấn mạnh ý mình muốn nói)

Tôi đã đọc Đỗ Lai Thúy khá nhiều và có cảm nhận chung – đây là một học giả tài danh của nước Việt.

Tôi không võ đoán, các bạn thử hình dung xem, ông phải là một người như thế nào mới có được một gia tài học thuật như thế này chứ:

* Về sách viết:

Có: Mắt thơ (xuất và tái bản: 1992, 1994, 1997, 2000, 2012); Từ cái nhìn văn hóa (1999); Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999, 2010); Chân trời có người bay (2003, 2005); Văn hóa, nhìn từ mẫu người văn hóa (2005);

Bút pháp của ham muốn (2009, 2010, 2011); Phê bình văn học, con vật lưỡng thế ấy (2010); Thơ như là mỹ học của cái khác (2012); Vẫy vào vô tận (2014).

* Về sách biên soạn:

Có: Nghệ thuật như là thủ pháp (Lý thuyết văn chương của Chủ nghĩa hình thức Nga, 2002); Sự đỏng đảnh của phương pháp (2004); Theo vết chân những người khổng lồ (2006); Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật (2000, 2004);

Phân tâm học và văn hóa tâm linh (2002, 2005); Phân tâm học và tình yêu (2003); Phân tâm học và tính cách dân tộc (2007).

* Dịch, BT, viết giới thiệu:

Có: Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức (của Trần Đức Thảo, 1997); Huyền thoại về nguồn gốc của lửa (của J. Frazer, 2001); Văn hóa học, những xu hướng nhân học văn hóa (của Belik, 2001); Văn hóa nguyên thủy (của E.B. Tylor, 2001); Luận về xã hội học nguyên thủy (của R. Lowie, 2001, 2008);

Tuyển tập V. Propp (2002, 2004); Cành vàng (của J. Frazer, 2007); Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy (của Levy Bruhl, 2008); Khảo về quà tặng (của M. Mauss, 2010); Những tiếng nói đã mất (của J. Duvignaud, 2011); Những cấu trúc xã hội học của Bouthoul (2011).

Tuy chưa đọc hết sách của Đỗ Lai Thúy; nhưng qua những cuốn đã đọc, cảm nhận chung của tôi là rất thú vị và bổ ích... Đỗ Lai Thúy quả là một học giả vừa uyên bác, lại vừa uyên thâm…

Vỗ vào vô tận là một cuốn sách hay của Đỗ Lai Thúy. Bạn đọc nào quan tâm đến giới tinh hoa nước nhà trong khoảng một thế kỷ nay rất nên tìm đọc…!!!

Từ Thường Châu đến vô địch AFF cup

Đây là cuốn sách hay viết về bóng đá. Nó cung cấp cho người đọc những gì “ẩn chứa” phía sau trái bóng tròn và những trận cầu mà mọi người đã xem trên sân cỏ, trên truyền hình và trên các phương tiện truyền thông khác trong gần hai năm qua.

Sách do Lê Huy Khoa và Trương Anh Ngọc viết.

Trong đó, Lê Huy Khoa vừa là dịch giả, người nghiên cứu về Hàn Quốc, vừa là người biên soạn cuốn từ điển Hàn – Việt đầu tiên ở Việt Nam.

Ông đã từng làm việc tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, đã giảng dạy tại đại học Shunchonhyang (Hàn Quốc), Đại học Hồng Bàng và Nguyễn Tất Thành (Việt Nam).

Lê Huy Khoa là trợ lý ngôn ngữ đội tuyển bóng đá Quốc gia U23, đội tuyển bóng đá nam Việt Nam. Hiện ông đang là trợ lý ngôn ngữ cho HLV Park Hang Seo tại SeaGamese 30 (Philippines)…

Trương Anh Ngọc là một nhà báo làm việc tại Thông tấn xã Việt Nam, người có nhiều bài viết hay về bóng đá Việt Nam và thế giới. Ông cũng là Nhà báo duy nhất đại diện cho Việt Nam bỏ phiếu danh hiệu Quả bóng vàng Thế giới.

Sơ lược về hai tác giả để thấy đây là cuốn sách đáng đọc. Sách hay thể hiện ở nội dung, bên cạnh còn phản ánh ở tên sách, người viết và Nxb…

Tôi không tiếc vì đã bỏ tiền mua cuốn sách này!

Sách dày 240 trang, được in đẹp và có giá bán hợp lý (99.000 VNĐ/1 bản). Cuốn sách được Nxb. Lao động và Hanoibooks liên kết ấn phát hành quý I-2019.

Nội dung được trình bày trong 4 chương:

  • Chương 1: THƯỜNG CHÂU QUA HÌNH ẢNH
  • Chương 2: HÀNH TRÌNH ASIAD 2018
  • Chương 3: HƯỚNG TỚI AFF CUP 2018 VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN HẬU TRƯỜNG
  • Chương 4: NHÀ BÁO ANH NGỌC VỚI HƠI THỞ AFF CUP

KẾT LUẬN:

Đây là cuốn sách hay, chỉ hơi tiếc do sách không làm mục lục, nên khi muốn tìm nhanh nội dung thì người đọc gặp… khó khăn!

Tối này (10/12/2019), lúc 19h00, đội tuyển U22 Việt Nam sẽ có cuộc “tái đấu” với U22 Indonesia để tranh HCV SeAgames môn bóng đá nam.

Đọc “Từ Thường Châu đến Vô địch AFF” sẽ tăng thêm niềm tin cho mỗi chúng ta về chiến thắng của U22 Việt Nam trong buổi tối nay.

Tôi dự báo: Tỷ số 2-1 nghiêng về U22 Việt Nam

SÁCH “TỨ THƯ BÌNH GIẢI” CỦA LÝ MINH TUẤN

Cần phải nhận rằng, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Trung Quốc.

Ngày xưa, thời phong kiến, giới nho sĩ nước ta chủ yếu được đào tạo những kiến thức nằm trong hai bộ sách kinh điển: Tứ thưNgũ kinh. Trong đó Tứ thư, theo một ý nghĩa nào đó, giống như sách gối đầu giường của Nho gia.

Ngày nay, người Việt ít người đọc loại sách này. Những ai muốn hiểu lịch sử tư tưởng, rộng hơn là lịch sử văn hóa Việt Nam thì không thể bỏ qua bộ Tứ thư

Trước đây đã có những học giả nổi tiếng dịch thuật, chú giải về Tứ thư (như: Đoàn Trung Còn, Nguyễn Hiến Lê…), nay thêm Lý Minh Tuấn.

BÌA TRƯỚC

Sách Tứ thư bình giải được Nxb. Tôn giáo ấn phát hành năm 2011, khổ lớn (A4), có dung lượng 1.567 trang, đóng bìa cứng. (Theo tôi, đây là một cuốn sách quý).

BÌA SAU

Trong sách, Lý Minh Tuấn đã giới thiệu, bình chú đầy đủ nội dung bộ Tứ thư.

ĐỘ DÀY CỦA SÁCH

Lý Minh Tuấn là người am hiểu Tứ thư và có nhiều năm giảng dạy về Nho giáo. Tứ thư bình giải là công trình hệ thống hóa các bài giảng của ông.

Mục đích của tác giả khi soạn sách là cung cấp cho người đọc những hiểu biết nhất định về tư tưởng Nho giáo.

Từ đó khơi dậy những giá trị đạo đức, tinh thần tốt đẹp đã bị lãng quên trong bối cảnh xã hội đang thiên về lối sống vật chất hiện nay.

Lý Minh Tuấn là bậc thầy cao niên, nhưng với tấm lòng yêu người, thương đời ông đã cống hiến một công trình học thuật rất đáng trân trọng.

Tứ thư bình giải sẽ đem đến nhiều điều tốt đẹp cho những ai biết khai thác những giá trị ẩn tàng trong nó…

Còn ai đọc “Hai sắc hoa Ti-gôn” nữa không?

Nhân dọn dẹp tủ sách (vì chưa đầy 2 tháng nữa lại Tết đến – Xuân về), tôi gặp lại tập thơ tình chọn lọc, in khổ nhỏ này…

Bên trong là 102 bài thơ TÌNH của các nhà thơ tài danh thuộc nhiều thế hệ thời hiện đại.

Tôi lật mở, đọc một số bài mình thích và gặp lại những câu thơ:

Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng/ Bóng chiều không thắm, không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?” (Thâm Tâm);

“Người ấy thường hay vuốt tóc tôi/ Thở dài những lúc thấy tôi vui/ Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ/ Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!” (T.T.KH);

Bảy năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng”, “Anh đi bộ đội, sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm” (Vũ Cao);

Anh đứng trên cầu đợi em/ Đứng một ngày đất lạ thành quen/ Đứng một đời đất quen thành lạ/ Nước chảy… kìa em, anh đợi em” (Vũ Quần Phương);

“Đất nước đau buồn chưa hết, Mỵ Châu ơi!/ Lông ngỗng bay như số phận giữa trời/ Trọng Thủy đứng suốt đời không hết lạ/ Vệt lông ngỗng con đường tình trắng xóa/ Có ai hay thăm thẳm giếng khôn cùng…” (Hoàng Nhuận Cầm).

Và còn đây “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ: “Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/ Tươi như cánh nhạn lai hồng /…

Và người chồng ấy, đã ra đi…/ Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào/ “Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau!”/

Nhưng tôi biết, cái màu đỏ ấy,…/ Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi/ Trên đỉnh dốc cao, vẫy gọi đoàn người!/ Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp/ Một làng xa giữa đêm gió rét…/

Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi/ Như không hề có cuộc chia ly…”.

Thời thế đã đổi thay, theo đó cảm xúc, cảm thụ, tình yêu thơ cũng nhiều thay đổi. Đó là lẽ thường!

Vậy mà, những bài thơ trong “Hai sắc hoa Ti-gôn” vẫn làm cay cay sống mũi một người còn nặng lòng với quá khứ, như tôi!

LẠI NÓI VỀ SÁCH

Chiều tối qua, trên lộ trình đi bộ, tiện đường tôi ghé vào Nhà sách Trí Tuệ (cạnh trường ĐH Thương mại, Hà Nội).

Mục đích xem có gì mới, chứ không có ý định mua. Vì trong khoảng 2 tháng nay, tôi đã khuân về mấy chục cuốn sách các loại. Tiền mua sách đã vượt khá nhiều so với “ngân sách” phân bổ cho sách rồi.

Vậy mà khi vào bên trong, ham muốn trong tôi trỗi dậy, kết quả tôi móc ví, mua 5 cuốn: “Khảo về quà tặng” (Marcel Mauss), “Gương chiến đấu” (Nguyễn Hiến Lê), “Nghệ thuật ngày thường” (Phan Cẩm Thượng), “Lịch sử nhìn lại dưới góc độ Y khoa” (Bùi Minh Đức) và “Lý luận và phê bình văn học” (Trần Đình Sử).

Tổng tiền trả nhà sách là 305 ngàn NVĐ…

Đôi điều về mấy cuốn này:

1) Cuốn “Khảo về quà tặng” đọc rất khó, vì đây là loại sách nghiên cứu của học giả nước ngoài trình bày về thành tựu nghiên cứu thuộc chuyên ngành Nhân học văn hoá (Dân tộc học).

Sách trích dẫn nhiều công trình chuyên môn sâu, rồi giải thích nhiều nội dung liên quan đến điều tra thực địa thuộc nhiều nơi trên thế giới.

Đọc cuốn này chả khác gì đọc “Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước” do Ph. Ăng-ghen viết vậy!

Song vì đây là tác phẩm tiêu biểu của nhà nhân loại học bậc thầy liên quan đến chuyên ngành xưa tôi được đào tạo ở đại học Tổng hợp. Chả lẽ không mua, không đọc?

2) “Gương chiến đấu” của Nguyễn Hiến Lê đọc không “đau đầu” như “Khảo về quà tặng”, lại rất thú vị.

Khi cầm cuốn này ở hiệu sách, tôi định không mua; nhưng xem qua nội dung thấy “có vẻ được”, nên lại thay đổi quyết định = mua.

Tôi đã đọc nhiều sách của Nguyễn Hiến Lê. Tôi rất khâm phục ông và ở một khía cạnh nào đó, tôi còn chịu ơn học giả này.

Vào nửa cuối thập niên 1980, do gặp nhiều áp lực của cuộc sống, tôi mắc bệnh, sức khỏe giảm sút rất nhiều…

Đúng thời điểm cam go tôi gặp cuốn “Quẳng gánh lo đi mà vui sống” (do ông dịch ra tiếng Việt).

Cuốn sách đã “cứu” tôi trong đoạn đời bi đát đó… Nguyễn Hiến Lê là một học giả – một tài năng lớn của nước Việt.

3) Cuốn “Nghệ thuật ngày thường” của Phan Cẩm Thượng, lúc ở hiệu sách, cầm cuốn sách này tôi khá băn khoăn cân nhắc có nên mua hay không?

Lí do cũng đơn giản, tôi chưa đọc cuốn sách nào do ông viết. Lại nữa, lướt qua mục lục nội dung thì thấy có vẻ tản mạn, kiểu viết như tản văn.

Nhưng rồi có cái gì đó (rất khó giải thích) đã “mách bảo” tôi nên mua cuốn này… Và tôi đã mua. Khi đọc thấy quyết định mua là đúng.

Sách viết theo lối tản văn, các bài viết được xếp theo 4 chủ đề:

1. Suy nghĩ về nghệ thuật;

2. Nghệ thuật ngày thường;

3. Tản văn nhàn đàm;

4. Nông thôn và kiến trúc

Các bài trong sách đã được đăng trên một số tạp chí, báo…

Cách viết nhẹ nhàng, tác giả như thủ thỉ tâm sự cùng bạn đọc. Nhưng càng đọc càng thấy thú vị!

Cũng từ đây, tôi thường để ý đến các ấn phẩm mang tên Phan Cẩm Thượng khi đi mua sách…

4) “Lịch sử nhìn lại dưới góc độ Y khoa” của bác sĩ Bùi Minh Đức là một cuốn sách hay. Những kiến giải về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật trong lịch sử Việt Nam và thế giới dưới góc nhìn Y khoa được trình bày trong cuốn sách thật độc đáo, đọc rất thú vị.

Sách được GS. Sử học Phan Huy Lê viết lời giới thiệu. Với tác phẩm này, bác sĩ Bùi Minh Đức đã trở thành người Việt Nam đầu tiên gây dựng môn khoa học liên ngành mới: Y học – Lịch sử!

5) Cuối cùng là quyển “Lý luận và phê bình văn học” của Trần Đình Sử, được xuất bản lần đầu năm 1996.

Năm 1997 cuốn này được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam; sau đó đến năm 2000 thì nó trở thành một trong 4 cuốn sách thuộc “cụm công trình” được tặng giải thưởng Nhà nước của GS.TS Trần Đình Sử.

(Đủ thấy “Lý luận và phê bình văn học” là một cuốn sách giá trị).

Vậy là, vào một buổi chiều tà, do cơ duyên, tôi có thêm “5 người bạn”. Đời còn gì vui hơn…???

(Đã đăng trên Blog – YUME.VN/BUIDAVID, 29/7/2012)

BÀI PHÁT BIỂU CỦA NV NGUYỄN HUY THIỆP KHI NHẬN GIẢI THƯỞNG QUỐC TẾ

[Cũng trên trang Blog này có lần tôi bộc bạch với bạn đọc – nhà văn tôi yêu thích nhất (number one) là Nguyễn Huy Thiệp. Tôi đã đọc nhiều tác phẩm văn chương của ông; với tôi văn ông có sức cuốn hút lạ thường… Một trong số tác phẩm tôi thích chính là bài phát biểu trong lễ nhận giải Nonio… Slogan trên trang blog của tôi là: CUỘC SỐNG = CHIA SẺ = HẠNH PHÚC! Vì thế chủ ý của tôi khi post bài này lên chỉ là để chia sẻ với những người có chung cảm nhận, suy nghĩ về văn chương của Nguyễn Huy Thiệp mà thôi…].

BÀI NÓI TRONG LỄ NHẬN GIẢI NONINO

              Kính thưa các quý bà,

              Kính thưa các quý ông,

          Tôi là Nguyễn Huy Thiệp, một nhà văn đến từ Việt Nam. Tôi rất hạnh phúc khi có mặt ở đây để nhận giải thưởng “Nonino Risit D’Âur Prize 2008”. Đây thật sự là một vinh dự to lớn đối với tôi. Tôi không phải là người giỏi tưởng tượng, vì thế – không nói ngoa khi cho rằng giải thưởng này ngoài sức tưởng tượng của tôi.

              Kính thưa các quý vị,

          Tôi sinh ra, lớn lên, sống và viết văn ở một nước nông nghiệp nghèo. Khi tôi sinh ra (1950), dân số nước tôi khi ấy có chừng 30 triệu người và có đến 90% họ bị mù chữ. Hiện nay tình hình khác trước  rất nhiều: dân số nước tôi hiện có chừng hơn 80 triệu và số người mù chữ có lẽ chỉ có khoảng 15%. Ở Việt Nam, văn học (giống như mọi lĩnh vực khác ở trong đời sống kinh tế, xã hội) đang phát triển với tốc độ phi thường. Trước kia truyền thống văn học ở nước tôi rất gần với “đạo” (một khái niệm có thể hiểu tương tự như tôn giáo). Ở thế hệ mẹ tôi, các bà già nông dân khi ra đường trông thấy những mảnh giấy có viết chữ thì họ thường cẩn thận nhặt lên, vuốt phẳng phiu và thận trọng cất nó vào những cái bồ vẫn dùng để đựng thóc gạo như một vật bí hiểm thiêng liêng. Ở thế hệ anh tôi, có thi sĩ đã từng viết ra câu thơ cảm động: “nhà ta quý sách hơn vàng”. Nhà văn là những người luôn được coi như người khác thường, được quý trọng bởi những điều họ viết ra ắt hẳn có ánh sáng, ắt hẳn có cái gì như một sự khai hóa nhân sinh nào đó cho mọi người. 

          Nửa thế kỷ trôi qua, văn học Việt Nam bắt đầu hòa nhập cùng thế giới, sự phong phú trong cách viết, trong lối nghĩ của các nhà văn cũng khác xa ngày trước. Cách đây hơn 10 năm, vào năm 1997, Internet đã đến Việt Nam và tới nay đã có tới 25% người dân biết sử dụng nó.

          Tôi là một nhà văn sinh ra ở nông thôn, mẹ tôi là nông dân. Hiện nay tôi sống ở Thủ đô, các con tôi không còn biết đến những dụng cụ làm nông nghiệp nữa, chúng đọc sách, rồi chúng chán sách, bây giờ chúng chỉ đọc những thông tin trên mạng Internet và chơi game.

          Hồi còn bé, khi mới tập viết văn, ông ngoại tôi (vốn là một nhà Nho) có kể cho tôi nghe một câu chuyện khiến tôi nhớ mãi. Câu chuyện như sau:

          Ở nơi kia cây cối xum xuê, con người thuần phác, có một đạo sĩ rất là thánh thiện. Ông ta ngồi viết văn, dạy trẻ con học và tự mình gieo trồng để lấy cái ăn. Mọi người đều quý mến ông, luôn đến hỏi ý kiến ông về mọi việc và ông thường cho họ những lời khuyên rất chí thánh. Cuộc sống của ông nghèo túng, ông chỉ trùm một cái chăn để che thân. Khi ngồi làm việc, những con chuột hôi hám, quái ác vẫn thường chạy đến cắn rách cái chăn, chúng làm ông rất khổ sở bực mình. Thấy vậy, có một người đi qua thương tình biếu cho ông một con mèo để nó bắt chuột. Dân làng vốn thương ông nên thương luôn con mèo, họ vẫn thường mang sữa đến cho con mèo ăn. Một hôm, có một bà hành hương giàu có nghe tiếng thơm nhân đức của ông bèn mang đến tặng cho đạo sĩ một con bò sữa để nuôi con mèo. Dân làng thấy vậy làm cho con bò một cái chuồng để nó có chỗ ở tránh lúc nắng mưa.

          – “Nhưng bò có nhà mà đạo sĩ lại không có nhà! Để thế sao được?” – Dân làng nói với nhau như thế và họ xúm lại làm cho ông một cái am nhỏ để ở. Từ ngày ấy, ông đạo sĩ không còn nhiều thời giờ để tu niệm và viết văn nữa, ông bận rộn nuôi bò để lấy sữa nuôi con mèo, còn con mèo đi đuổi lũ chuột. Thấy ông đạo sĩ bận rộn không có thì giờ tu niệm và viết văn như trước, dân làng tốt bụng lại gửi đến cho ông một người đàn bà để chăm nuôi con bò. Thế là đạo sĩ đã có tấm vải che thân, đã có con mèo bắt chuột, đã có con bò cho sữa, lại có cả người đàn bà chăm sóc cho mình. Ông đạo sĩ không còn giữ được sự yên ổn trong lòng mình. Ông ta có hết cả rồi, ông ta đầy đủ như một phú ông. Ông ta lấy người đàn bà làm vợ. Ít lâu sau ông ta bắt đầu hay cáu gắt, hay văng tục và nói những điều nhảm nhí. Ông ta còn uống rượu, đánh người và đuổi theo các cô gái bằng tuổi con mình. Con đường tu hạnh của ông đạo sĩ đến đây chấm dứt!

               Kính thưa các quý vị,

           Câu chuyện của ông đạo sĩ ở trên khá giống với sơ đồ tha hóa của nhiều nhà văn trong một đất nước nông nghiệp lạc hậu đang tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại như ở Việt Nam. Ở Việt Nam, với tốc độ phát triển như hiện nay, nông thôn đang bị phá vỡ, dân chúng không còn đất nữa, cả nước đang như một công trường ngổn ngang. Cuộc sống mới với rất nhiều cơ hội mới đang ào ạt ập đến từng thôn xóm, đến từng gia đình, đến từng người. Không thể nói điều ấy là không tốt. Điều ấy còn quá tốt nữa là khác. Tuy nhiên, rất nhiều điều khác cũng đang đặt ra đối với mọi người. Ở Việt Nam cứ 20 phút lại có một người nhiễm HIV, cứ 15 phút có một người chết bởi tai nạn giao thông. Văn học tham dự vào cuộc sống mới hiện đại đang phát triển như thế nào, giữ vai trò gì luôn là câu hỏi đặt ra cho mỗi người cầm bút hôm nay.

             Kính thưa các quý vị,

         Hôm nay tôi đến đây để vinh dự nhận giải thưởng đặc biệt này, tôi không hi vọng viết lại được câu chuyện của ông ngoại tôi theo một kết thúc khác, nhưng quả thật tôi cũng thích có những vị đạo sĩ vừa viết văn được, vừa có chăn ấm, vừa có mèo, vừa có bò, lại vừa có người đàn bà hạnh phúc của mình. Thượng đế anh minh vẫn ban cho cuộc sống rất nhiều phép màu không ai biết trước được!

             Kính thưa các quý vị,

          Xin cảm ơn các quý vị đã lắng nghe những lời nói tầm thường nhưng chân thật này của tôi. Xin cảm ơn Ban tổ chức giải thưởng Nonino, xin cảm ơn ông bà Maurizo Gatti và Nhà xuất bản ObrarO đã tạo điều kiện tốt nhất để cho tôi có mặt ở nơi đây.

          Xin cảm ơn tất cả!

————————–

 * Ghi chú: Premio Nonino là một giải thưởng văn học quan trọng ở Italia. Nonino là một thương hiệu rượu nho grappa nổi tiếng có từ năm 1897. Giải thưởng Nonino được công ty này lập ra từ 1977. Nhiều cây bút văn học nổi tiếng thế giới từng được nhận giải thưởng này như Jorge Amado (tác giả của “Những con đường đói khát”), Claude Levi-Strauss (nhà văn đạt giải Booker 2005), Mạc Ngôn (nhà văn Trung Quốc), V.S Naipaul (Nobel văn học 2001)…

(Nguồn: trong sách “Giăng lưới bắt chim”, 2010)

NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP BÀN VỀ THƠ VIỆT NAM

Trong các nhà văn Việt Nam, nhà văn tôi thích nhất chính là Nguyễn Huy Thiệp. Tôi là người yêu văn học, nhưng không được làm nghề mình yêu thích. Chính vì thế những lúc rảnh rỗi hay mang sách văn học ra đọc.

Hôm nay đọc lại tập tiểu luận “Giăng lưới bắt chim” của Nguyễn Huy Thiệp, tôi vẫn thích thú như những lần đọc trước đây. Có nhiều bài do thích tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, trong đó có bài “Nhân ngày thơ, bàn về thơ”… 

Theo tôi biết khi Nguyễn Huy Thiệp đăng bài này trên báo Văn hóa Thể thao (2/2006) có nhiều người phản đối… Nhưng với tôi, đây vẫn là một bài hay bàn về thơ Việt. Vì lẽ đó, xin phép nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb. Thanh Niên cho tôi post lại bài này lên blog cá nhân để thỉnh thoảng đọc lại, nghĩ suy về thơ Việt.


“Nói về thơ (cũng là về nghệ thuật) có lẽ ít ai nói hay được như A.Rimbaud: “Tôi đặt cái đẹp lên đầu gối/ Và tôi thấy nó cay đắng quá/ Và tôi nguyền rủa nó!”. Cái đẹp của thơ từ xưa đến nay không ai phủ nhận, không phải bàn. Nhưng cái cần bàn là thế nào mới gọi là thơ đích thực?


Hiện nay ở ta, tình trạng lạm phát thơ rất tệ hại, ai cũng làm thơ, danh hiệu nhà thơ bị rẻ rúng. Ngày thơ Việt Nam được tổ chức đến nay là năm thứ ba đã lộ rõ sự dung tục, nhiều lố bịch, không văn minh.

Thơ, đấy phải là của tuổi trẻ, của sáng tạo, của tình yêu, của cái mới, đam mê và khát vọng. Tôi đã nhiều lần nói đến ba loại người làm thơ. Loại một của những người trẻ, những “thiên thần”.

Trong lịch sử thơ ca, những bài thơ tuyệt diệu nhất đều là của những trai tân, gái tân, những thần đồng (trường hợp của Huy Cận, Tế Hanh, Chế Lan Viên và nhiều tác giả “Thơ Mới” cũng như vậy. Trần Đăng Khoa thời “nhí” và Vi Thùy Linh thời chưa biết đến “mùi đời” cũng như vậy).

Thơ của họ như giọt sương mai, nó là cái đẹp, ta cảm nhận được ngay. Không cần phân tích. Nó chính là đạo tự nhiên, đạo phác. 


Loại hai đấy là khi người ta không còn trẻ nữa, bắt đầu vào đời, lăn lộn trong “chốn giang hồ”, ngày xưa các cụ gọi loại thơ đó là “thi ngôn chí”. Khi bộc lộ chí, tức là thơ sẽ đề cập đến một khu vực mạo hiểm và nhạy cảm nhất mà chúng ta vẫn quen gọi là tâm hồn. Tâm hồn là thứ rất cá nhân, nhìn chung nên giấu kín.

Ngày xưa Tống Giang buồn tình viết lên vách lầu Tầm Dương mấy câu: “Thân ở Giang Đông, thân tại Ngô/ Mấy phen than thở, mấy giang hồ/ Mai sau như thỏa lòng non nước/ Mới thấy Hoàng Sào cũng trượng phu!”. Chỉ vì mấy câu thơ vớ vẩn đó mà Tống Giang bị tóm cổ vào tù. Cái hại nhãn tiền sờ sờ ra đấy.


Ở ta có thể thấy các nhà thơ vẫn hay bộc lộ tình yêu trai gái trong thơ, nói trắng phớ ra là tính hiếu dâm (chí tình). Giở báo “Văn nghệ” ra, ta luôn thấy các cụ ông cụ bà tình tứ một cách “rất mất dạy”. Những câu “anh anh em em” du dương có một cái gì đó thật khả ố và nực cười.

Tình yêu nên dành cho tuổi trẻ, chúng ta là cựu chiến binh, chúng ta nên làm những việc khác có tính chất tu dưỡng đạo đức. (“Chiến trường thích cựu chiến binh/ Ái tình thích kẻ chiến chinh lần đầu” – thơ Nguyễn Bảo Sinh). Thơ nói chung, nhất là thơ tình yêu nên dành cho tuổi trẻ. 


Ngoài loại một, loại hai vốn là thơ đích thực, còn lại là thơ chính trị, thơ tâm lý chiến, thơ tầm phào, thơ của “đám giặc già lăng nhăng thơ phú”.

Chiến tranh đã lùi xa, chúng ta cần phải có cách nhìn nhận đúng về các giá trị chân lý thường nhật, phải gọi đúng tên thật của nó (thí dụ thơ Phạm Tiến Duật, thơ Nguyễn Đức Mậu, thơ Xuân Sách, thơ Thu Bồn, v.v… thực chất là thơ tâm lý chiến, có đóng góp to lớn trong chiến tranh, đấy không phải là thơ giải trí).

Khi các lối thơ thù tạc, “tình yêu” và lăng nhăng vớ vẩn quá lạm phát, quá phát triển thì người đời phần nào cũng cảm thấy “ghê ghê” các nhà thơ.


Từ xưa, các nhà Nho theo nghiệp thi cử đã từng coi trọng những người giỏi phú và văn sách hơn những người làm thơ là rất có lý. Người làm thơ thường bị coi là hạng phóng dật, thiếu đứng đắn, bê tha.

Thơ quá phát triển là dấu hiệu của phong hóa suy đồi và đạo đức xã hội đi xuống chứ chẳng phải hay ho báu bở gì.


Trong thơ, việc quy định niêm luật chặt chẽ (hai-ku, xon-nê, lục bát, Đường luật, thất ngôn, tứ tuyệt, v.v…) chính là một cách đội lên đầu vành kim cô “rèn rũa kỷ luật tâm hồn”, là hình thức giáo dục “lễ” cho người làm thơ. 

Ở ta, nhiều người “dân tộc chủ nghĩa” cực đoan cho lục bát mới là thơ, thơ chính là lục bát cũng có lý của họ. Một nhà thơ Việt Nam không biết làm thơ lục bát cho hay thì còn “đậm đà bản sắc dân tộc” gì nữa! 

Trong ba loại người làm thơ, buồn thay, loại ba bao giờ cũng chiếm số đông nhất (có đến 99% là như vậy). Thơ đích thực rất hiếm, bởi thế nó quý. “Và tôi thấy nó cay đắng quá/ Và tôi nguyền rủa nó!”.

Trong truyện chưởng Kim Dung, có hình ảnh kiếm khách võ lâm thấy đám tục tử nghiệp dư ba lăng nhăng cũng học đòi đeo kiếm đi đi lại lại làm mất hình ảnh võ lâm trên giang hồ thế là tức mình vung kiếm chém sạch bọn này.

Trong thơ cũng thế, tôi đã thấy có nhiều cao thủ phải nuốt bồ hòn làm ngọt đi trong ngày thơ, thở dài sườn sượt.


Con đường của nhà thơ là con đường khó khăn: hết giai đoạn thơ, hết giai đoạn thiên thần, họ phải đi đến triết học. Đi đến triết học thì chí ít họ phải bắt buộc trở thành một nhà tâm lý học trước đã.

Và như vậy, công việc tu thân của một nhà thơ là một công việc lâu dài, lâu bền, mất cả đời người. “Cơm áo không đùa với khách thơ”. Đấy cũng là một chân lý.


Nhân ngày thơ, bàn về thơ cũng là để “mua vui cũng được một vài trống canh”. Thơ thật cao quý nhưng thật ra thơ cũng chỉ là một thể loại có phần “tráo trở và mập mờ” nhất trong các thể loại văn học “đứng đắn”.

Thơ cũng chỉ là một trong mười tám ban binh khí mà thôi. Để cả một ngày cho thơ thật phí, thật xa xỉ. Có lẽ ngày 15 tháng Giêng nên gọi là “ngày văn học” thì sẽ có ý nghĩa hơn nhiều. Người ta sẽ diễn kịch ở trong ngày đó, bán các thứ hàng hóa văn học và liên quan đến văn học, gặp gỡ các nhà văn trong và ngoài nước.

Nếu quốc tế hóa thì đó nên là một Festival văn học, trong điều kiện nước ta nghèo thì không nên năm nào cũng tổ chức mà nên để hai hoặc ba năm một lần, có ban tổ chức chuyên nghiệp và thu hút được các nhà tài trợ trong và ngoài nước.

Cũng chỉ nên làm ở một nơi cho nó ra trò chứ không nên bày đặt ra tất cả các tỉnh thành như kiểu hội hè đình đám hiện nay. Nhưng thôi, đấy là tôi lại trót làm thơ mất rồi!


“Lộ phùng kiếm khách, tu trình kiếm/ Bất thị thi nhân mạc hiến thi” (Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm/ Không phải nhà thơ chớ hiến thơ)”.

(8/2/2006)

TUỔI 60 – TUỔI “KHỞI SINH”

Đó là tên cuốn sách nổi tiếng thuộc bộ Happy Life, bộ sách bán chạy nhất tại “đất nước mặt trời mọc” của Ken Honda. Sách đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng.

Tại Việt Nam, cuốn sách được Nguyễn Thùy Linh dịch sang tiếng Việt và được nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản quý I năm 2018.

Ảnh bìa trước cuốn sách

Sách gần 200 trang, in khổ 12x18cm, 5.000 bản. So với nhiều ấn phẩm khác đây là cuốn sách “bé”; nhưng là “Bé hạt tiêu/Bé bé nhỏ bé xiêu lòng người” (Xuân Diệu), “bé nhưng nó có võ”…

Cuốn sách như một lời khẳng định tuổi 60 chưa phải là già. Ngày xưa Cụ Hồ cũng đôi lần nói theo kiểu uy-mua (hài hước) về cái tuổi này:

Chưa năm mươi tuổi đã kêu già

Sáu ba mình nghĩ vẫn là đương trai…

Cụ Hồ thuộc “típ” người lạc quan nên Người nói và sống như vậy là phải.

Còn nói đến tuổi 60, Đức Khổng Tử nói kiểu khác: “Lục thập nhi nhĩ thuận”.

Những người sống đến độ tuổi 60 thì đã từng trải, nếm đủ mọi đắng cay, ngọt bùi. Họ nghe gì cũng lọt tai… và hầu như không còn ganh đua và tham vọng. Mặc thiên hạ ai nói/làm gì; họ đứng ngoài mọi cuộc chơi, sự lý của đời sống.

Tất nhiên triết lý sống của Khổng Tử có người theo, người không theo. Vì con người đa dạng về tính cách, nhân sinh quan, thế giới quan; nên chọn lối sống lạc quan hay bi quan là tùy từng người…

Trong cuốn “Tuổi 60 khởi sinh”, Ken Honda chủ trương tuổi lục thập nên/cần làm những việc này: “Làm những việc bạn muốn làm năm 20 tuổi”, “Gặp lại bạn bè”, “Bỏ đi suy nghĩ thôi vậy”, “Nhận định rõ ràng mối quan hệ với bạn đời”, “Không bám víu vào công việc”, “Đừng để mình đau đầu về vấn đề tiền bạc”, “Có sở thích cá nhân”, “Có những người bạn trẻ tuổi”, “Đừng đếm số tuổi hưởng dương của bố mẹ bạn”, “Đi du lịch”, “Học những điều mới”, “Tìm kiếm những phương pháp giữ gìn sức khỏe phù hợp với bản thân”, “Tìm ra lẽ sống của cuộc đời mình”, “Không can thiệp vào cuộc sống của con cái”, “Đầu tư cho tương lai”, “Nói lời yêu thương”…

Những việc Ken Honda nêu trên xét cho cùng là sự khẳng định: Tuổi 60 cần lựa chọn một cách sống sống tích cực, để không phải hối hận

Tôi thực sự cảm ơn Ken Honda vì đã cho ra đời cuốn sách này. Càng đọc, càng ngẫm mới thấy đây là cuốn sách hay; “trung thư hữu ngọc”.

Cuốn sách có giá trị kích hoạt tinh thần, giúp tôi phấn chấn hẳn lên.

Vậy là tuổi 60 không như mình (và nhiều người khác) vẫn nghĩ.

Tuổi 60 cũng là “thời điểm khởi sinh, thời điểm bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới”… Cảm ơn ông Ken Honda thật nhiều!