TẢN MẠN CHUYỆN MUA ĐIỆN THOẠI

Hôm qua sau khi thăm bạn bè, đồng nghiệp về tôi quyết định đi mua điện thoại mới, coi như món quà tự thưởng cho mình sau một năm vất vả…

Theo phân tầng xã hội, tôi thuộc diện “dân nghèo thành thị”. Vì thế, khi mua sắm tôi luôn phải suy nghĩ, cân nhắc. Nào lên mạng tìm hiểu, nào tham khảo con cái, bạn bè… Là dân nghèo, trời lại “ban” cái tính cẩn thận nên tôi đến mấy nơi bán điện thoại để xem hàng, khảo sát, so sánh giá cả rồi mới quyết định “mở ví”…

Sau khi khảo sát, tôi định mua hàng ở một siêu thị gần nhà. Đây là nơi tôi đã nhiều lần mua hàng (điều hòa, ti vi, tủ lạnh, tủ đông, điện thoại, v.v…). Mới chiều tối ngày 29 Tết tôi còn mua điện thoại cho “bà xã” ở đây. Theo chính sách của siêu thị này thì tôi được xem là “khách hàng thân thiết!”.

Dự định hôm nay sẽ sắm vai khách hàng thân thiết thêm lần nữa, nhưng điều này không thực hiện được! Lý do rất đơn giản – tôi không hài lòng với cung cách phục vụ của một nữ nhân viên bán hàng tại đây…

Văn minh thương mại luôn đề cao việc tôn trọng khách hàng, coi “khách hàng là thượng đế”, “khách hàng luôn có lý”… Vậy mà nữ nhân viên bán hàng không có tinh thần này. Cô đã không đem lại cho tôi sự hài lòng khi tiếp xúc. Từ vẻ mặt, đến nói năng khiến “thượng đế” không hài lòng… Và thế là “thượng đế” quyết định sang Store Viettel Cầu Diễn, Hà Nội để mua hàng.

Tại đây, chỉ có 1 nữ nhân viên bán hàng và 1 bảo vệ. Hỏi ra thì biết mùng 4 Tết, một số người quê xa được cho nghỉ thêm thời gian. Nữ nhân viên ở cơ sở này thể hiện đúng tinh thần của văn minh thương mại. Cô rất vui vẻ, điềm đạm trả lời, rồi còn tư vấn, hướng dẫn cho một “thượng đế” khó tính như tôi về sản phẩm… Cô khiến tôi rất hài lòng, vì thế quyết định mua “con” Samsung Galaxy A51 (Mede in Viet Nam) với giá 7.490.000 đồng.

Tôi càng vui khi giá “con A51” bán ở đây chỉ 7.490 ngàn đồng, giảm 500 ngàn đồng so với những nơi khác (7.990.000 đồng). Đã thế còn được tặng thêm 1 lock Coca Cola 6 lon nữa, thái độ người bán lại rất Ok…

Hết câu chuyện đi mua điện thoại… Còn bây giờ thì nhân đầu năm mới, Bùi Tâm Văn xin chân thành cảm ơn các bạn gần xa – những độc giả yêu quý – đã ủng hộ trang blog buitamvan.com này. Chúc tất cả các bạn sang năm Canh Tý luôn an khang, thành công, hạnh phúc và mọi sự đều Cát Tường…!!!

Trân trọng!

(Hà Nội, mồng 5 Tết Canh Tý)

Bùi Tâm Văn

Nghe và Nói: Cái nào quan trọng hơn?

“Nghe và Nói” thuộc về kỹ năng (mềm) của con người. Hai kỹ năng này có vai trò quan trọng trong các kỹ năng mà con người cần quan tâm học hỏi, xây dựng và phát triển, phát huy trong cuộc sống. Nếu làm tốt chúng sẽ góp phần hỗ trợ con người thành công trong cuộc sống nói chung, trong sự nghiệp nói riêng.

Thành ngữ Việt có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Câu thành ngữ này nói đến “học ăn” nhưng không thấy nói học “nghe”, học “lắng nghe”! Trong khi đó, khoa tâm lý học giao tiếp phương Tây rất coi trọng chuyện nghe. Các chuyên gia nhấn mạnh: một người giỏi giao tiếp trước hết phải là một người biết lắng nghe. Khi cần mở lời, trước hết anh ta phải biết quan sát phản ứng phi ngôn ngữ của người khác, sau đó sẽ quyết định nên dùng hình thức và nội dung giao tiếp nào.

Thống kê tâm lý xã hội học cho biết có khoảng từ 50% đến 80% thời gian của một người là dùng để giao tiếp với người khác. Trong đó thời gian lắng nghe chiếm tới một nửa toàn bộ thời gian tham gia giao tiếp.

Trong phát triển sự nghiệp cá nhân, “lắng nghe” được coi là kỹ năng giao tiếp quan trọng hơn “nói”. Các chuyên gia còn nhấn mạnh: “Nghe, là cơ hội tốt nhất giúp bạn nâng cao giá trị và tri thức”, “Những gì chúng ta nói có quan hệ mật thiết với những gì chúng ta nghe, thậm chí nó được bắt nguồn từ những gì chúng ta nghe”.

“Lắng nghe” được xem như một bộ môn nghệ thuật mà những người muốn thành công phải biết nắm bắt. Lắng nghe chính là phương pháp đơn giản nhất giúp bạn xây dựng hình tượng đẹp cho bản thân. Các chuyên gia tâm lý giao tiếp luôn đề cao nguyên tắc: “Trước khi học nói, hãy bắt đầu từ học nghe”…

Từ thời cổ đại, ở phương Tây, người ta đã coi trọng việc lắng nghe. Chuyện kể lại rằng: Một thanh niên trẻ đến bái Socrates làm thầy. Thanh niên này muốn ông truyền cho mình kỹ năng diễn thuyết.

Để thể hiện khả năng ăn nói thiên phú và xuất sắc của mình, anh ta thao thao bất tuyệt diễn thuyết trước mặt Socrates. Socrates đã ngắt lời và bảo anh thanh niên phải trả học phí gấp đôi thì ông mới thu nhận làm học trò. Thanh niên kinh ngạc hỏi lại ông: “Vì sao con phải trả học phí gấp đôi?”. Socrates đã trả lời: “Bởi vì tôi phải dạy cho cậu hai môn học: môn thứ nhất là học cách im lặng, không nói, chỉ lắng nghe. Sau đó là môn học mở miệng nói những gì mình nghĩ”…

Vậy là, giữa nghe và nói, nghe được xác định quan trọng hơn nói. Cả hai truyền thống văn hóa Đông Tây đều tương đồng nhau ở điểm này. Lão Tử (của Phương Đông) bảo: “Đại âm hi thanh; đại tượng hi hình” (nghĩa là: Âm thanh lớn chưa hẳn khiến người khác nghe lọt tai; hình ảnh lớn chưa hẳn khiến người khác nhìn lọt mắt). Còn cách ngôn phương Tây thì nói: “Thượng đế ban tặng cho chúng ta hai cái tai và một cái lưỡi, vì muốn chúng ta nghe nhiều, nói ít”… Góp vào kho tàng văn hóa nhân loại về nghe và nói, thành ngữ Việt có câu: “Im lặng là vàng”. Nếu bình tán rộng thì thành ngữ này cũng có ý trùng với tư tưởng Đông Tây nói trên…

Hà Nội, ngày 22/1/2020

Bùi Tâm Văn

Chuyện của Alexandre Đại đế

Ở vùng Trung Đông, sau thời Đức Phật khoảng mấy thế kỷ, có vị đạo sư tên Điôzen. Ông sống đơn giản, trên người chỉ có một mảnh áo che thân, một cái bát uống nước. Có lần ông nhìn thấy một người cúi xuống múc nước bằng tay để uống. Ông cảm thấy cái bát của mình trở nên thừa nên quăng đi…

Dân trong vùng coi ông như một vị Bồ tát, họ rất nể phục ông. Mỗi khi ông khuyên bảo họ điều gì về đạo lý, họ đều cảm thấy mình được hạnh phúc và an lạc. Tiếng lành về Điôzen đồn xa khắp vùng…

Alexandre Đại đế trên đường chinh phục Trung Đông, nghe đồn về Điôzen, bèn tìm gặp. Alexandre Đại đế gặp Điôzen đúng vào thời điểm ông đang ngồi phơi nắng trong một ngày đông lạnh giá.

Từ xa, Alexandre cùng đoàn tùy tùng thấy một ông lão đang ngồi ung dung tự tại, râu tóc dài. Trên người ông chỉ có một tấm áo quấn quanh, đẹp rực rỡ dưới ánh mặt trời. Ông bèn xuống ngựa, chầm chậm đi đến bên ông lão. Khi đến nơi nhà vua hỏi:

* Ngài có phải là Điôzen?

* Phải, Ngài cần gì?, Điôzen từ tốn đáp.

Hai bên chỉ trao đổi vài câu ngắn ngủi; nhưng phong thái ung dung tự tại của Điôzen khiến vua Alexandre cảm phục. Alexandre là một Đại đế bách chiến bách thắng; nghe danh ông, ai cũng sợ hãi. Chỉ có ông già râu ria xồm xoàn này liếc nhìn ông với ánh mắt bình thản, khiến nhà vua vô cùng cảm phục. Sau vài câu ngắn ngủi, vua Alexandre lên tiếng:

* Thưa Ngài, Ngài có cần gì không?

Hỏi như vậy vì ông nghĩ mình là một vị vua bách chiến bách thắng, uy danh khắp thiên hạ. Ông có nhiều tài sản; nếu Điôzen cần gì, ông sẽ tặng ngay.

Nghe hỏi vậy, Điôzen trả lời:

* Có, tôi cần Ngài xích qua một chút, đừng che ánh mặt trời tôi đang sưởi. Rất cảm ơn!

Thì ra, nhà vua và đoàn tùy tùng đi đến từ hướng đông, khi đứng đã vô tình che hết ánh nắng buổi sáng chiếu vào ông. Nghe vậy, vua Alexandre quay sang nói với đoàn tùy tùng: “Nếu ta không phải là Alexandre Đại đế, ta sẽ là Điôzen”…

Câu chuyện trên thật đáng suy ngẫm phải không các bạn. Rốt cục con người nên lựa chọn lối sống nào đây: lối sống của một vị đế vương, lối sống của những người dân thường, hay lối sống của Ngài Điôzen?

Câu trả lời tùy thuộc vào nhận thức, quan niệm của mỗi chúng ta thôi…

Hà Nội, 20/01/2020

Bùi Tâm Văn

Đố vui (có thưởng)

Xưa, con người đã bày trò đố vui có thưởng. Trong bài này tôi cũng bày ra mấy câu đố. Nếu bạn đoán được sẽ không có thưởng. Nhưng điều đó nào có quan trọng gì… Vì khi đoán được những câu đố, niềm vui chiến thắng sẽ đến với bạn. Điều này chẳng phải là phần thưởng cho bạn sao?

Bạn sẵn sàng chưa? Nào chúng ta bắt đầu nhé:

* “Đi đứng, đứng đổ” là cái gì?

* “Vì mày tao phải đánh tao/ Vì tao, tao lại đánh tao, đánh máy” – là cái hay con gì?

* “Gặp nhau đấy, tìm người để lấy/ Lấy được nhau thì bỏ nhau đấy/ Không lấy được nhau thì đưa nhau về” – là gì?

* Xin thưa trước, câu đố này khó, đòi hỏi bạn phải suy tư nhiều hơn:

Xưa, ở một vùng nọ có một tên quan độc ác, bất nhân. Hắn hay nghĩ ra những trò oái oăm để gây phiền nhiễu, làm hại dân chúng. Khu vực viên quan cai trị có một chiếc cầu bắc qua sông. Dân trong vùng thường qua lại trên chiếc cầu này…

Một hôm viên quan nghĩ ra một trò chơi ác. Hắn cho lính đến canh gác hai đầu cầu và đặt ra luật lệ: một người nào muốn đi qua cầu phải nói một câu. Lính canh sẽ xem xét câu nói đó; nếu xét thấy câu đó đúng thì người nói sẽ bị chém đầu, còn nếu xét thấy câu nói sai thì người đó sẽ bị treo cổ…

Một câu nói khi xem xét thường rơi vào một trong hai trường hợp – đúng hoặc sai. Với điều luật quái ác này dân chúng không dám đi qua cầu nữa. Cuộc sống của họ bị đảo lộn, gặp nhiều khó khăn…

May thay, có một nhà thông thái, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ đã tìm ra một câu mà mỗi khi qua cầu nói câu đó thì bọn lính không thể khép tội được. Nhà thông thái đã truyền bá câu nói đó cho người dân trong vùng. Câu đó là câu gì, theo bạn?

Bạn có thể lời giải các câu đố trên cho tác giả bài viết theo email: buitamvan@gmail.com hoặc phản hồi trực tiếp trên trang blog này…

Trân trọng cảm ơn bạn!

Hà Nội, ngày 18/1/2020

Bùi Tâm Văn

6 blog Việt nổi tiếng dành cho các bạn yêu thích blog

Theo Shel Holtz & Ted Demopoulos (tác giả sách “Blog trong kinh doanh”) thì Blog xuất hiện cách nay 14-15 năm. Ngày 2-5-2005 là một bước ngoặt trong lịch sử ứng dụng blog vào kinh doanh.

Trước thời điểm này, chỉ một số nhà kinh doanh sử dụng blog, một số người vẫn đang cân nhắc và một số khác chỉ dừng lại ở mức độ cảm nhận về nó.

Nhiều quản trị viên dù đã có ý niệm mơ hồ blog là gì nhưng vẫn xem nó như một thứ mốt nhất thời rồi lại qua, hay chỉ đơn giản như một công cụ không liên quan mà giới trẻ sử dụng để viết về những vấn đề riêng tư của họ.

Nhưng từ sau ngày 2-5-2005, nhiều nhà kinh doanh đã dần hiểu ra blog là một công cụ cần quan tâm, đồng thời đây là một nhân tố thiết yếu đầy tiềm năng trong vấn đề giao tiếp giữa người với người.

Ngày 2-5-2005, Tuần báo Kinh doanh (Bisiness Week) xuất bản bài “Blog sẽ thay đổi công việc kinh doanh của bạn”. Theo Shel Holtz & Ted Demopoulos blog không phải là một mốt nhất thời. Từ khi ra đời, blog phát triển mạnh mẽ và đã góp phần xứng đáng vào các hoạt động của con người.

Blog là nơi dành cho những cuộc chuyện trò – một trang trao đổi thông tin. Trong kinh doanh, blog góp phần cập nhật thông tin, nó còn là nơi chủ blog – nhà kinh doanh tham gia vào các cuộc hội đàm của khách hàng trên mạng xã hội.

Từ khi ra đời đến nay, blog là một trong những công cụ hữu ích của con người. Nếu bạn có nhu cầu xây dựng cho mình một blog (điều này có lợi cho bạn) thì ở Việt Nam hiện có một số trang mạng giúp bạn việc này. Đó là 6 blog sau:

1. Thạch Phạm (thachpham.com)

Với cộng đồng yêu thích WordPress thì có lẽ Thachpham.com là website khó bỏ qua. Đây được coi như một cuốn từ điển tiếng Việt về tất cả những thứ liên quan trong quá trình sử dụng ngôn ngữ này. Nội dung của blog phần lớn là do chính tác giả và cộng sự gây nên, chúng có tính chuyên sâu và được giải quyết nhanh gọn nhất.

Mục tiêu chính của blog chính là chia sẻ đến người học những thông tin hữu ích, thủ thuật thú vị với website wordpress. Ngoài ra những thông tin về PHP, JavaScript, HTML/CSS cũng được đề cập khá nhiều.

2. Canh Me (canhme.com)

Được đánh giá khá tốt về chất lượng bài viết với tính hữu ích cao cho các lập trình viên, blog canhme.com chia sẻ các kiến thức về làm web, tạo blog trên nền tảng wordpress. Ngoài ra những thông tin cần thiết cho một website hoạt động như đăng ký tên miền, shared host, VPS… đều được hướng dẫn rất rõ cho người dùng.

Canhme.com không chỉ là một blog chia sẻ kiến thức thông thường, canhme.com còn update hàng ngày, hàng giờ những thông tin “hot” nhất của giới công nghệ một cách nhanh chóng, chính xác nhất.

3. Free Tuts (freetuts.net)

Là blog được thành lập năm 2014, Freetuts nhận được đông đảo sự quan tâm từ những người trong ngành với nhiều mảng kiến thức khác nhau từ lập trình web đến kiếm tiền online.

Hơn 1000 bài viết đã chứng minh sức mạnh với cộng đồng mang lại nhiều kiến thức bổ ích. Blog có lịch trình ra bài khá chu đáo được ghi dưới chân trang cho người quan tâm đến lĩnh vực của mình tiện theo dõi.

Mục tiêu mà Freetuts đặt ra cho mình chính là dù giọng văn có thể không bay bổng nhưng khi đã ra nội dung mới thì phải hữu ích, được nhiều người quan tâm, đặc biệt với 3 lĩnh vực: viết bài affiliate, lập trình, kiếm tiền online.

4. Wp Căn Bản (wpcanban.com)

Được đổi tên từ eBooksvn.com, wpcanban.com là blog có Rank và điểm số tăng rất nhanh vào cao. Tại đây bạn sẽ được tiếp cận những thông tin hữu ích về thiết kế wordpress, youtube, kiếm tiền online.

Không chỉ được đọc tin, học cách làm việc mà sự tương tác khá nhanh từ cộng đồng wpcanban sẽ giải đáp thắc mắc khá nhanh những khó khăn mà bạn gặp phải.

5. Jam Việt (www.jamviet.com)

Jamviet.com là blog chia sẻ các thủ thuật về wordpress và seo nhiều nhất. Với người học, đó là blog tuyệt vời với những bài viết dược cập nhật nhanh chóng. Đến đây bạn sẽ được học những kiến thức thực tế nhất theo ý nghĩ của tác giả – một chuyên gia về các thủ thuật Internet.

Tuy nhiên gần đây, lượng độc giả và dân Seo len lỏi vào khá nhiều nên chất lượng bài viết có phần giảm sút. Nếu chỉ quan tâm đến kiến thức WordPress và Seo thì bạn hoàn toàn nên học hỏi từ Blog này.

6. Tôi đi code dạo (toidicodedao.com)

Hầu hết ai làm về website đều biết đến blog này. Không chỉ là những kiến thức cơ bản của ngành mà còn là những kiến thức liên quan với nhiều lĩnh vực khác nhau toidicodedao.com đã lấn át được không ít những trái tim yêu nghề.

Với giọng văn hài hước, dí dỏm, tác giả Blog là Phạm Huy Hoàng đã giúp cho độc giả của mình cảm thấy nhẹ nhàng hơn rất nhiều khi thu nạp kiến thức mới.

Theo tác giả, Blog này ra đời với mục tiêu 50% nội dung về kỹ thuật lập trình, 50% còn lại sẽ dành cho những bài viết chia sẻ kinh nghiệm học được từ những khía cạnh khác nhau trong cuộc sống như: cách deal lương, sắp xếp thời gian, kỹ năng mềm…

Hà Nội, ngày 18-01-2020

Bùi Tâm Văn

EM RẤT THÍCH MƯA

Chiều nào cũng vậy, khi hoàng hôn buông xuống đã thấy đôi trai gái ấy đi bên nhau tâm sự trên con đường vắng.

Một  hôm, khi hai người đang đi thì trời bắt đầu rơi vài hạt mưa. Người con trai nhìn lên trời và nói: “Trời sắp mưa to rồi em ơi!”. Người con gái không trả lời, vẫn bình thản đi. Đi thêm một đoạn thì mưa rơi nặng hạt.

Người con trai lại bảo: “Ta vào trú mưa thôi em!”. Người con gái nhìn lên trời, đưa bàn tay đón những hạt mưa rơi và nói: “Em rất thích mưa”… Cô vẫn chậm rãi bước, càng đi mưa càng to dần. Người con trai kéo tay người con gái lên vỉa hè trú mưa. Người con gái không chịu lên, vẫn đi tiếp dưới mưa.

Người con trai đành đứng một mình dưới hiên ngôi nhà cạnh con đường, anh đưa mắt nhìn theo bóng người yêu đi trong mưa cho đến khi trời tối đen…

Chiều hôm sau, khi hoàng hôn buông xuống, người ta không thấy đôi trai gái đó dạo bước trên con đường vắng ấy nữa…

(Truyện cực ngắn của Lưu Đức Trung)

TẢN MẠN VỀ NỤ CƯỜI

Thành ngữ Việt có câu: “Dù no, dù đói cho tươi/ Cái miệng em cười đói cũng như no“… Ngày xưa, người phụ nữ được giáo dục theo “tứ đức”: CÔNG – DUNG – NGÔN – HẠNH. Trong bốn đức này, nụ cười thuộc “đức” DUNG. Cái miệng em cười, đói cũng như no, hay thì hay thật nhưng rất áp lực với chị em! Nhưng mà, trời đã sinh ra ta, phong cho ta là “phái đẹp”, biết làm sao đây!

Nụ cười hóa ra lại quan trọng. Thế mới sinh “tiếu lâm” (rừng cười)… và lại thêm những thành ngữ mới: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”; “Cười lên đi cho tâm hồn thoải mái”…

Đấy là nụ cười trong suy tư của người Việt. Còn các bạn Tây thì bảo: “Hãy mỉm cười – nụ cười khiến cả thế giới cười lại với bạn”, rồi bình tán thêm:

“Không gì sánh bằng một nụ cười chân thật khi bạn muốn mở đầu câu chuyện một cách tốt đẹp với người nào đó. Nụ cười tiết lộ nhiều điều tích cực về bạn: bạn hạnh phúc, tự tin, dễ gần, tích cực và nhiệt tình…

Còn nếu bạn không mỉm cười khi gặp người khác thì sao? Bạn sẽ khiến họ nghĩ rằng bạn đang lo lắng, không thoải mái hoặc thậm chí cáu kỉnh. Điều này sẽ không bao giờ tạo được ấn tượng ban đầu tốt đẹp, phải không?

Khi bạn mỉm cười, người khác có khuynh hướng cười lại với bạn vì cảm xúc dễ lây truyền, nhưng đó phải là nụ cười tự nhiên. Người ta dễ phát hiện ra nụ cười giả tạo… Khi bạn cười tự nhiên, các cơ gò má sẽ hoạt động, các cơ này nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức con người.

Do đó, bạn không thể làm cho đôi mắt “long lanh” theo ý muốn chủ quan của mình, điều này chỉ xẩy ra khi bạn nhìn thấy người hoặc vật mình yêu thích… Một số người rất dễ mến khi mỉn cười, dường như họ làm điều đó một cách tự nhiên.

Bạn cũng có thể làm được như vậy dù đôi lúc bạn cảm thấy lúng túng hoặc ngượng ngùng. Vấn đề chỉ là bạn phải chịu khó luyện tập…” [sách “Để gây ấn tượng cá nhân”, Nxb. Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2010, 78-79]…

Vậy là con người cần nụ cười, phần để “đánh chiếm” trái tim người khác trong giao tiếp; phần để cân bằng sự sống người…

Thế nên vua Hề Sác-lô, Mít-stơ Bin ra đời ở Âu Mỹ. Còn trên dải đất hình chữ S này thì xuất hiện các hề chèo thời xưa, và thời nay thì nhan nhản các danh hài sinh ra như nấm mọc sau mưa…

Bùi Tâm Văn

THÊM MỘT

Trong cuộc sống, có những trường hợp nếu thêm vào thì tốt, nhưng có không ít trường hợp thêm vào lại hóa ra dở.

Cũng không nhiều nhặn gì, chỉ “thêm một” thôi cũng làm thay đổi cán cân lực lượng… Nhà thơ Trần Hòa Bình bảo ta thế (Tin hay không thì tùy!):

Thêm một chiếc lá rụng

Thế là thành mùa thu

Thêm một tiếng chim gù

Thành ban mai tinh khiết

Dĩ nhiên là tôi biết

Thêm một – lắm điều hay

Nhưng mà tôi cũng biết

Thêm một – phiền toái thay

Thêm một lời dại dột

Tức thì em bỏ đi

Nhưng thêm chút lầm lì

Thế nào em cũng khóc

Thêm một người thứ ba

Chuyện tình đâm dang dở

Cứ thêm một lời hứa

Lại một lần khả nghi

Nhận thêm một thiếp cưới

Thấy mình lẻ loi hơn.

Thêm một đêm trăng tròn

Lại thấy mình đang khuyết.

Dĩ nhiên là tôi biết

Thêm một – lắm điều hay .

(1986)

THỞ VÀ GIỮ IM LẶNG (3)

NHỮNG CÂU HỎI VỀ THAM VỌNG CÁ NHÂN:

(Bạn nên suy ngẫm về những câu hỏi dưới đây trong khi tập luyện bài tập thở và giữ im lặng nhé):

+ Tôi đang đi đến đâu? Tôi muốn cuộc đời mình đi về đâu? Tôi muốn làm việc gì? Tôi mong muốn trở thành người như thế nào? Tôi muốn đạt được điều gì trong cuộc đời mình?

+ Tôi muốn có tương lai như thế nào? Vào cuối đời tôi sẽ ở vị trí như thế nào? Tôi là ai? Đặc điểm của tôi là gì? Lý do tôi tồn tại? Tại sao tôi lại ở đây? Hình ảnh của tôi là gì? Cách tôi nhìn nhận bản thân? Tôi là người như thế nào? Tôi tin tưởng vào điều gì?

+ Tôi đại diện cho điều gì? Tôi sống vì ai? Niềm tin chính của tôi là gì? Điều gì khiến tôi đặc biệt, khác biệt và nổi bật? Người khác đánh giá về tôi như thế nào? Họ nói gì về tôi? Tôi thu hút họ ở điểm gì?

+ Người khác nghĩ gì về tôi? Họ có thể trông cậy điều gì ở tôi? Họ đánh giá các giá trị của tôi như thế nào? Người khác đánh giá cao điều gì trong công việc của tôi? Điều gì quyết định thành công của tôi? Những tài năng độc đáo của tôi là gì?

+ Tôi được thừa nhận vì điều gì? Tôi tự hào nhất về việc làm nào của mình? Tôi cần những kỹ năng, tài năng và kinh nghiệm gì để gia tăng giá trị cho người khác? Tôi làm gì để tăng giá trị đáng kể, khác biệt và đặc biệt?

+ Tôi làm công việc nào tốt nhất và dễ dàng nhất? Tôi thỏa mãn về điều gì? Tôi say mê điều gì? Điều gì khiến tôi vui hoặc buồn?

+ Tôi thích nhất điều gì? Trong tương lai tôi thích nó nữa không? Điều gì thúc đẩy tôi? Tôi tìm thấy niềm vui ở đâu? Điều gì khuyến khích tôi?

+ Những giá trị và nguyên tắc nào gần gũi với tôi nhất, là điều thiêng liêng nhất đối với tôi, in dấu ấn trong cuộc đời tôi?

+ Điều nào mâu thuẫn trong các giá của tôi và mâu thuẫn với mặt mạnh nào của tôi? Làm thế nào tôi có thể tạo ra được ý nghĩa cho cuộc đời mình và nhận ra ý nghĩa đó trong tất cả mọi việc chứ không chỉ là việc kiếm tiền?

+ Của cải, vật chất quan trọng như thế nào với tôi? Tôi muốn hiểu biết bản thân như thế nào và được mọi người biết đến như thế nào?

+ Tôi muốn khắc lên bia mộ của mình điều gì sau khi qua đời? Những kỉ niệm nào tôi muốn mọi người nhớ đến sau khi qua đời?

+ Tôi muốn được nhớ tới vì điều gì? Nếu tôi chết, tôi sẽ để lại tài sản gì? Tôi muốn để lại cho người khác thứ gì có ý nghĩa?

+ Điểm khác biệt nào tạo nên sự tồn tại của tôi? Những trở ngại nào cản đường tôi đi tới tương lai? Khi đương đầu với những trở ngại đó, tôi có điểm yếu nào?

+ Điều gì ngăn cản tôi trở thành con người như tôi mong muốn? Ai sẽ nhận ra giá trị và những thế mạnh độc đáo của tôi?

+ Mọi người nói gì về tôi? Tôi nghĩ gì về họ? Tôi hiểu người khác đến mức độ nào?

+ Tham vọng của tôi về một cộng đồng mà tôi muốn sống là gì? Tôi muốn được giúp đỡ gì để hiện thực hóa tham vọng này? Với tôi, điều gì tốt và điều gì xấu?

+ Tôi muốn học hỏi điều gì nhất? Tôi muốn bỏ thói quen gì? Tôi thích làm việc gì? Điều tôi coi trọng là gì? Điều gì tôi cho là tuyệt vời và hấp dẫn nhất? Tôi sẵn sàng hy sinh thứ gì để hiện thực hóa mục đích sống của mình? Tôi thật sự mong muốn điều gì?

+ Tôi muốn đầu tư những gì vào cuộc sống và mong muốn nhận được gì từ sự đầu tư đó? Tôi thích cuộc sống hàng ngày của tôi như thế nào? Tôi thích sống trong môi trường nào?

+ Tình trạng sức khỏe thể chất, tinh thần của tôi ra sao? Năm phẩm chất tốt nhất của những người tôi ngưỡng mộ là gì?

+ Những giá trị tinh thần quan trọng như thế nào với tôi? Tôi nghĩ gì về tôn giáo? Những người nào quan trọng nhất trong cuộc đời tôi? Mối quan hệ của tôi với họ ra sao?

+ Mối quan hệ của tôi với bạn đời, bạn bè, gia đình, đồng nghiệp và những người khác như thế nào? Tôi muốn có mối quan hệ như thế nào với bạn bè, gia đình, khách hàng và những người khác?

+ Động cơ làm việc của tôi? Tầm quan trọng của những việc tôi đang làm? Điểm mạnh và điểm yếu của tôi là gì? Tôi thất bại trong việc gì? Những thất bại lớn nhất của tôi là gì? Những vấn đề của tôi là gì? Hậu quả của nó trong mối quan hệ của tôi với người khác và đối với sức khỏe thể chất và tình thần của tôi?

+ Lý do khiến tôi làm việc cho ông chủ hiện tại? Tôi như thế nào ở nơi làm việc? Đến nay, tôi đã hoàn thành những công việc gì và đạt được những thành công nào?

+ Vân vân và vân vân…

THỞ VÀ GIỮ IM LẶNG (2)

Hôm qua, Tâm văn đã đăng phần 1 Bài tập thở và im lặng của Hubert K. Rampersad. Theo lời hứa, hôm nay Tâm Văn đưa phần 2 có nhan đề là “Bài tập thở và giữ im lặng toàn diện” lên blog, giúp các bạn có nhu cầu có thể tham khảo, thực hành, đem lại sức khỏe tốt cho bản thân…

* Bước 1:

– Tìm một nơi yên tĩnh, không khí trong lành và chắc chắn không bị làm phiền.

– Ngồi vào một chiếc ghế thật thoải mái, có lưng tựa, giữ thẳng lưng, thả lỏng vai và cổ.

– Nhẹ nhàng đặt hai tay lên đầu gối, ngửa lòng bàn tay và nhắm mắt lại.

Thở sâu bằng mũi theo nhịp: hít thật sâu và đếm từ 1 đến 6 (bụng căng ra), giữ như vậy cho đến lần đếm thứ 4 thì thở ra và thở thật chậm khi đếm đến 6 (bụng xẹp lại). Hãy nghỉ sau hai lần đếm. Cố gắng tập trung vào nhịp hít vào và thở ra.

– Tập trung hoàn toàn vào thở và thấy nguồn sinh lực đang ào ạt bên trong. Lúc này cơ thể sẽ thư giãn hơn. Tập trung vào cảm giác thư giãn của toàn bộ cơ thể (mặt, vai, tay, chân, v.v…).

– Lặp lại quá trình này trong 10-15 phút.

* Bước 2:

– Sau khi kết thúc bài tập thở, giữ nguyên tư thế ngồi thẳng lưng, thả lỏng tay, nhắm mắt và thở bình thường.

Tập trung hoàn toàn vào suy nghĩ. Nếu suy nghĩ không xuất hiện, đừng cố tìm kiếm, hãy để chúng trôi qua như những áng mây đẹp thêm xanh cho bầu trời.

– Hãy để cho suy nghĩ đến và đi, dù có cả các suy nghĩ liên quan tới những câu chuyện về thương hiệu cá nhân, mục đích sống ở đời.

Sẵn sàng đón nhận tất cả những hình ảnh đến trong tâm trí. Hãy tưởng tượng bạn đang ở trong một khu vườn và một nhà thông thái đang tiến về phía bạn. Sau khi tự giới thiệu, ông ta hỏi bạn một số câu hỏi về thương hiệu cá nhân (được đề cập trong phần 3). Hãy lắng nghe kỹ câu trả lời của tiếng nói bên trong bạn và ngay lập tức viết chúng ra giấy sau khi kết thúc bài tập này.

– Từ từ mở mắt ra sau 10-15 phút, viết các câu trả lời của tiếng nói bên trong bạn vào tuyên bố tham vọng cá nhân và trong nhật kí thương hiệu cá nhân. Những thông tin này sẽ được sử dụng để cập nhật cho tham vọng cá nhân và thương hiệu cá nhân, giúp bạn ghi nhớ những kinh nghiệm và tiến bộ trong mỗi giai đoạn.

NHỮNG CÂU HỎI VỀ THAM VỌNG CÁ NHÂN (TÂM VĂN SẼ CẬP NHẬT, ĐĂNG LÊN BLOG VÀO THỨ 2, NGÀY 6-12-2020) trong nội dung Tập thở và giữ im lặng (3)

Trân trọng và hẹn gặp lại các bạn!

Hà nội, ngày 05-01-2020

Bùi Tâm Văn

THỞ VÀ GIỮ IM LẶNG (1)

Sinh ra ai cũng thở và im lặng, nhưng thở và biết giữ im lặng đúng cách, tạo nên những điều tốt đẹp cho cuộc sống thì không phải ai cũng biết và làm được.

Trong cuốn sách: “Quản trị thương hiệu cá nhân & công ty” của Hubert K. Rampersad (xuất bản tiếng Việt 2008) có giới thiệu một bài “Tập thở và giữ im lặng” rất hay…

Với suy nghĩ, nên chia sẻ những giá trị mình tìm được cho người khác, tôi xin trích và đăng lên để bạn đọc tham hảo và có thể ứng dụng, góp phần làm cho cuộc sống của cộng đồng ngày càng tốt đẹp hơn:

Bài tập thở và giữ im lặng (1)

[Trong phần (1) tác giả phân tích những lợi ích của “Bài tập thở và giữ im lặng” đem lại; còn phần (2) giới thiệu về nội dung thực hành đối với “Bài tập thở và giữ im lặng”]

Nhờ bài tập thở và giữ im lặng, bạn sẽ tập trung vào suy nghĩ của mình, khám phá ra đặc điểm của mình và có thể đưa bản thân thoát khỏi sự sắp đặt của tâm trí.

Thông qua bài tập này, bạn sẽ học được cách nhìn mới mẻ về cuộc sống và đánh giá những sự việc đang diễn ra bên trong mình. Nhờ vậy, bạn sẽ biết được vị trí của mình trong cuộc sống. Cụ thể hóa tham vọng cá nhân nghĩa là xóa bỏ mọi định kiến lỗi thời đã kìm hãm sức sáng tạo của bạn. Bạn được trang bị kĩ càng hơn để có thể tạo ra tương lai và khám phá được đích đến của cuộc đời mình… Chỉ khi nào bạn hiểu được bản thân thì bạn mới có thể khám phá được những tài năng của mình, phát triển thương hiệu và mục tiêu cá nhân, phục vụ bản thân và người khác.

Những bài tập thở và giữ im lặng sẽ chuyển sự chú ý của bạn vào bên trong mình, kiểm soát nhận thức của bản thân và khiến hai bán cầu não hoạt động cân bằng. Khả năng thở (cũng là khả năng suy nghĩ) đều xuất phát từ một nơi. Một khi bạn kiểm soát được hoạt động thở thì bạn cũng kiểm soát được suy nghĩ và ngược lại.

Tư duy có mối liên hệ mật thiết với hoạt động thở. Khi suy nghĩ của bạn bị xáo trộn thì bạn thở nhanh và gấp hơn. Khi bạn tập trung và thư giãn, sự thở của bạn sâu và đều hơn. Thở là sự hợp nhất giữa cơ thể và linh hồn.

Theo Sri Ravi Shankar (một lãnh tụ tâm linh, đồng thời là sáng lập viên Hội nghệ thuật sống của Ấn Độ), thở là sự liên kết giữa cơ thể, suy nghĩ với cảm xúc. Tất cả cảm xúc đều đưa đến một kiểu thở nào đó.

Khi bạn tập trung vào hoạt động thở, bạn sẽ thấy mình đang được thư giãn trong suy nghĩ và cảm xúc. Hoạt động thở giữ vai trò quan trọng vì nó có thể xua tan cơn giận khỏi suy nghĩ và cơ thể. Nhờ bài tập này, bạn có thể thở sâu, chậm, đều hơn và sẽ cảm thấy yên tĩnh.

Thở và thư giãn có liên hệ mật thiết với nhau. Thở đúng cách tạo nền móng vững chắc cho sức khỏe vật chất và tinh thần. Khi chúng ta thở, chúng ta nhận oxy vào cơ thể. Hầu hết mọi người đều thở nhanh, không sâu, không thoải mái và chỉ sử dụng hết một phần ba dung tích của phổi.

Hậu quả là sinh lực yếu đi cùng với sự ngột ngạt và tính lơ đãng. Nếu bạn tràn đầy sinh lực, bạn sẽ khỏe mạnh, vui vẻ, thư giãn và thoát khỏi stress… Bài tập thở sẽ giúp bạn khai thác nguồn sinh lực, tăng thêm nỗ lực và hành động có mục đích, biến ước mơ thành hiện thực…

Sự im lặng được coi là đồng nghĩa với sự suy ngẫm. Đây là phương thức hiệu quả nhất để giao tiếp với nội tâm. Suy ngẫm tạo ra sự sáng tỏ và là trải nghiệm trực tiếp của linh hồn. Theo Đạo Phật, linh hồn chính là sự kết hợp của cảm xúc, quan sát, suy nghĩ với nhận thức về cảm giác.

Khi bạn suy nghĩ, tâm hồn bạn lắng xuống và thư giãn để phát triển nhận thức đưa đến hành động hiệu quả hơn. Linh hồn của bạn quyết định phần lớn phương thức hành động và trạng thái tư duy của bạn.

Suy ngẫm gồm có sự tái phát hiện trạng thái tự nhiên của nhận thức và hình thành cơ sở vững chắc để hiểu biết bản thân, Suy ngẫm không có nghĩa là tập trung mà là trạng thái sâu hơn của thư giãn, thả lỏng, tĩnh tâm và trạng thái cao hơn của nhận thức, sức mạnh tinh thần, sự bình yên bên trong, tận hưởng và thỏa mãn.

Tập trung là kết quả của quá trình suy ngẫm thông qua việc gia tăng sức mạnh tinh thần, sự nhận thức và sự bình lặng của tâm hồn. Trạng thái bình lặng dẫn đến tư duy thông suốt và mang lại sức sáng tạo cao hơn, ít hao phí hơn và quan điểm toàn diện về thực tế…

Suy ngẫm còn đem lại nhiều lợi ích khác. Nhờ có một tâm hồn bình lặng, con người sẽ giảm áp lực trong máu và nhịp đập của tim, tăng khả năng đương đầu với stress và kiểm soát được nỗi đau, v.v…

Tất cả chúng ta đều có những khả năng đó, nhưng lại bị stress và sự căng thẳng che lấp. Suy ngẫm giúp chúng ta thể hiện những khả năng đó.

Thực tế người thường xuyên suy ngẫm sẽ sống lâu hơn người ít suy ngẫm. Suy ngẫm giúp bạn nhìn thấy thế giới qua lăng kính của suy nghĩ, khiến bạn quan sát và nhận ra những suy nghĩ, cảm xúc của mình…

Trong quá trình suy ngẫm, hãy thả trôi suy nghĩ… như việc bạn là ai, bạn đại diện cho cái gì, chuyên môn của bạn là gì, mối quan hệ giữa bạn với mọi người ra sao, v.v…

Quá trình im lặng giúp bạn dễ dàng trả lời được những câu hỏi đó… Các câu hỏi này liên quan đến tiếng nói bên trong, khám phá sự thật về bản thân và cuộc sống của bạn. Bạn nên suy nghĩ tích cực, bạn sẽ đạt được mục đích… Ngược lại, suy nghĩ tiêu cực ngăn cản bạn đạt những mục đích trên và khiến bạn cảm thấy cuộc sống, công việc thật tồi tệ…

Nội dung “Bài tập thở và giữ im lặng toàn diện“, tức phần (2) sẽ được giới thiệu trong bài đăng vào chủ nhật (ngày 05-01-2020).

(P/S: Tâm Văn xin gửi lời chào trân trọng và hẹn gặp lại các bạn trong ngày mai!)

Hà Nội, ngày 04-01-2020

Bùi Tâm Văn

“ĐỔI GIÓ”…

“Đổi gió” là một từ phát sinh trong những thập niên gần đây, giống như nhiều từ ngữ khác như: “chém gió”, “vô đối”…

Không rõ tác giả là ai? Nhưng điều đó chả quan trọng gì… Với chúng tôi, quan trọng chính là:

Trong hai ngày (thứ 7, chủ nhật), bộ môn đã tổ chức thành công chuyến đi mang tên là “ĐỔI GIÓ 1” tại Kim Bôi (Hòa Bình)… Thời tiết hai ngày này thật tuyệt vời – không rét, không nóng, không mưa…

Mặc dù một số thành viên trong đoàn mệt mỏi do say xe nhưng kết thúc chuyến đi mọi người đều vui vẻ, hồ hởi, phấn khởi và tin tưởng…

Còn với riêng tôi, cuộc đi này khá thú vị, vì mấy lẽ:

Thứ nhất: Có ba thế hệ tham gia chuyến đi; đủ cả nam, nữ; có hai thành viên lớn tuổi, còn lại là thế hệ thứ hai, thứ ba (các cháu nhỏ) trong “gia đình” CNXHKH.

Bình sinh tôi thích chơi với trẻ nhỏ. Chuyến đi có các cháu, chả khác gì mình mua được vé trong hành trình trở về tuổi thơ…

Thứ hai: Cuộc “đổi gió” này còn gợi lại cho tôi cảm giác về những chuyến đi điền dã dân tộc học mấy chục năm trước tại một số địa phương phía Bắc…

Thứ ba: Nhưng điều tôi vui nhất là mục đích chuyến đi (an toàn, vui, hữu ích) đã đạt được…

P/s: Vậy là đời quá vui rồi… Xin trân trọng cảm ơn tất cả…!!!

Một số hình ảnh trong chuyến đi

(Thăm Bảo tàng Văn hóa Mường Kim Bôi, Hòa Bình)

Hà Nội, ngày 30-12-2019

Bùi Tâm Văn

Sách “THỰC DƯỠNG” (Verne Varona)

Bìa sách “Thực Dưỡng” của Verne Varona

Nhiều khi chúng ta hỏi nhau, hay tự hỏi: Cái gì là quý nhất trên đời?

Câu trả lời tùy thuộc vào từng người, từng hoàn cảnh. Cái qúy nhất có thể là: tiền, vàng, kim cương, nhà cửa, phương tiện, thời gian, sức khỏe, tình yêu, cha mẹ, con cái, vợ chồng… Với những người ốm yếu, bệnh tật thì câu trả lời có thể là sức khỏe…

“Thực Dưỡng” là cuốn sách hay của Verne Varona – một trong những nhà giáo dục về sức khỏe tên tuổi người Mỹ.

Ông học ngành Đông y và Thực dưỡng ở Tổ chức Đông Tây của Michio Kushi tại Boston, Massachusette (1970-1974) và với Herman Aihara tại Viện Vega.

Verne Varona khẳng định trong cuốn sách – nếu ăn uống hợp lý, khoa học, con người có thể tăng cường được sức khỏe, chống lại nhiều bệnh tật, sống thọ và tạo lập cuộc sống hạnh phúc…

Với 555 trang khổ lớn (18,7×23,5 cm), ngoài lời giới thiệu, index nội dung được giới thiệu trong 6 phần:

  • Phần 1: Bắt đầu với thực dưỡng
  • Phần 2: Chữa bệnh bằng con đường thực dưỡng
  • Phần 3: Lập kế hoạch và chuẩn bị cho cuộc phiêu lưu thực dưỡng
  • Phần 4: Công thức nấu ăn từ sáng đến tối – Con đường ăn uống dẫn đến khang kiện
  • Phần 5: Danh sách mười điều
  • Phần 6: Phụ lục
Bìa sau sách “Thực Dưỡng”

Sách được Công ty Cổ phần sách Thái Hà cho tái bản lần thứ hai tại Việt Nam (2018).

Hà Nội, 27-12-2019

Bùi Tâm Văn

ĐÔI ĐIỀU VỀ NOEL

Hôm nay là Noel, nhưng thú thực tôi (và có thể nhiều người khác nữa) còn mù mờ về sự kiện này…

Thế giới đang trở thành ngôi nhà chung. Văn hóa Đông Tây đã, đang và sẽ tiếp xúc, tiếp thu lẫn nhau những nét đẹp… để hình thành nền văn hóa toàn cầu. Vậy mỗi chúng ta cũng nên tìm hiểu để biết Noel là gì chứ nhỉ (?!)

Tôi xin phép BS. NGUYỄN TIẾN CẢNH đăng lại bài viết “NGUỒN GỐC CỦA GIÁNG SINH” (nhưng thay đổi tên cho phù hợp) lên trang blog cá nhân, đặng giúp các bạn có nhu cầu có thể đọc, chia sẻ một nét bản sắc văn hóa phương Tây…

NGUỒN GỐC CỦA GIÁNG SINH

17/12/2019 Chi Mai

Người ta thường coi Lễ Giáng Sinh là mùa trang hoàng, tặng quà và vui chơi ăn nhậu, nhưng nguồn gốc của Giáng Sinh thì ít người để ý tới. Người ta chỉ biết vui chơi hưởng thụ, coi Giáng Sinh như một kỷ niệm mà không cần biết nó bắt đầu từ đâu và lúc nào.

Dĩ nhiên người ta hiểu đó là ngày Chúa Giêsu sinh ra trong máng cỏ nơi hang lừa ở Bethlehem mà không cần biết nó đúng hay sai. Trái lại, mấy ai biết Lễ Giáng Sinh có lúc đã bị cấm ở Mỹ thời thuộc địa.

Ở Âu Châu và Mỹ Châu thì tinh thần Giáng Sinh là tiếng chuông nhà thờ vang lên trong đêm đông tuyết phủ giá lạnh với hình ảnh ông già Noel / Santa Claus trên xe trượt tuyết và bầy nai bay lướt trên không mù mịt tuyết rơi, được tả trong cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens, A Christmas Carol.

Ở Á Đông và Việt Nam chúng ta thì từ ngày ảnh hưởng Tây phương và Thiên Chúa Giáo, Giáng Sinh cũng được hòa đồng vào văn hóa dân tộc, và người ta, nhân ngày này để vui chơi, chúc mừng và tặng quà cho nhau. Đơn giản chỉ có vậy.

Nhưng có người coi ngày sinh nhật Chúa Giêsu chỉ là chuyện thần thoại, đóng khung trong các khu thương mại và các cửa hàng buôn bán nhộn nhịp khác thường với những câu chào hỏi chúc mừng nhau Merry Christmas kèm theo Happy New Year vì chỉ còn vài ngày nữa là sang năm mới.

Ngoài ra cứ mỗi năm, khi mặt tiền các ngôi thánh đường được trang hoàng, giăng mắc hoa đèn là người ta lại nhớ tới ngày sinh nhật của Chúa Giêsu. Thế là “Giêsu là lý do của ngày lễ lớn Giáng Sinh này.”

Nhưng, có thật là vì Giêsu hay không?

4,000 năm Lễ Giáng Sinh. Nguồn: Ulysses Press

Trong cuốn sách của Eart W. Count (1899-1996) và Alice Lawson Count (1916-2013): 4.000 năm Lễ Giáng Sinh / 4000 Years of Christmas: A Gift from the Ages, xuất bản lần đầu năm 1990, tả lại một cách thích thú lịch sử việc trao đổi quà tặng trong bài hát “12 ngày của Lễ Giáng Sinh / The 12 days of Christmas” và những tập tục bắt nguồn từ xứ Babylon thời xa xưa.

Tác giả cho biết cành lá holly đã được thầy cả Druid dùng trong nghi thức mầu nhiệm tế lễ và ngày 25 tháng 12 là ngày mừng lễ Mặt Trời của người La Mã hồi xưa chứ không phải là ngày mừng sinh nhật chúa Giêsu.

Giáo hội sơ khai có mừng lễ Giáng sinh không?

Trong Tân Ước, chúng ta không thấy có chỗ nào nói các tông đồ của Chúa Giêsu mừng sinh nhật ông. Nhưng vào cuối thế kỷ III, nhà thần học công giáo Origen tuyên bố ai lấy lễ hội của dân ngoại để mừng Chúa Giáng Sinh thì có tội.

Vào thế kỷ I, dân thành Corinto ở Hy Lạp, đa số theo đạo đa thần. Phong tục của đạo là mua bán dâm ngay trong đền thờ, và các thầy cả thì tế lễ vật hy sinh cho các thần miễu Hy Lạp và La Mã.

Thánh Phaolo có lần đã viết thư gửi cho các tín hữu Corinto như sau: “Thế nghĩa là gì? Thịt cúng là gì? Ngẫu tượng là gì? Tuy nhiên, đồ cúng là ‘cúng cho ma quỷ, không phải cho Thiên Chúa’; mà tôi không muốn anh em hiệp thông với ma quỷ. Anh em không thể vừa uống chén của Chúa, vừa uống chén của ma quỷ; anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc với Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc với ma quỷ được.” (1Cr. 10:19-21).

Thánh Phaolo rõ ràng đã cảnh cáo các tín hữu phải xa lánh bất cứ cái gì đụng chạm và liên quan đến tập tục của dân ngoại có thể gán cho mình cái nhãn hiệu là “thông đồng với ma quỷ”!

Giống như các Kito hữu thời giáo hội sơ khai, họ mừng lễ thần Mặt Trời, tức thần Canh Nông, một lễ hội của dân La Mã thời xưa. Nhiều tôn giáo lúc đó mừng những lễ hội vào thời Đông Chí ở Bắc bán cầu khi mà ngày ngắn đêm dài. Họ cầu xin các thần thánh cho mặt trời mau trở lại để mùa đông qua đi cho lẹ, ngày dài trở lại.

Vào ngày lễ Mặt Trời, người ta ăn nhậu say sưa, chơi bời buông thả phóng đãng và thi hành những tập tục trái với giáo huấn của chúa Kito. Tuy nhiên sau cùng nó cũng được biến thành lễ Giáng Sinh, ngày sinh nhật chúa Giêsu.

Cái gì đã làm thay đổi các Kito hữu từ chỗ thánh Phaolo cấm không được thờ phượng ma quỷ và làm bất cứ cái gì liên quan tới dân ngoại đến chỗ chấp nhận và tham dự vào những tập tục của dân ngoại dưới danh hiệu chúa Giêsu Kito?

Đã có rất nhiều áp lực buộc những Kito hữu tân tòng phải theo lời dạy của thánh Phaolo từ bỏ việc thờ lạy lẫn lộn ngẫu tượng và Thiên Chúa. Nhưng lúc đó hàng ngàn người muốn trở lại đạo nhưng không muốn từ bỏ những tập tục, nghi lễ của tôn giáo cũ của mình.

Tác giả cuốn “4,000 năm Lễ Giáng Sinh” đã tóm tắt cuộc phấn đấu giằng co đó như sau: “Đối với dân ngoại, ngày lễ Mặt Trời là một ngày vui. Đối với tín hữu Kito giáo, lễ Mặt Trời là một tập tục ghê tởm, tôn thờ một vị thần nhơ nhớp không có thực. Ngoài ra các Kito hữu vẫn cố gắng phải làm công việc rất khó khăn và chậm chạp là mang những dân ngoại La Mã bê bối trở lại với Chúa.”

“Lúc bấy giờ cũng có nhiều di dân vào sống trong hàng ngũ Kito hữu, và các Giáo hoàng cũng nhận thấy là mình đang phải đối đầu với sự xâm nhập của các tập tục của dân ngoại. Bỏ đi những tập tục về lễ Mặt Trời là cả một vấn đề nan giải. Lúc đầu Giáo Hội cũng cấm đoán, nhưng vô ích. Nước dòng sông chảy đụng vào tảng đá mà đá không lay động thì nước bắt buộc phải chảy quanh nó mà thôi. Nếu không cấm được Lễ Mặt Trời thì phải làm quen với nó để hòa nhập vậy.” (p.36)

Tại sao lại là ngày 25 tháng 12?

Giáo hội chọn ngày 25 tháng 12 là ngày cuối cùng của lễ thờ Mặt Trời tiếp theo sau ngày lễ Thần Canh Nông, làm ngày sinh nhật chúa Giêsu.

Ngày này cũng là ngày đại lễ của đạo Mithra, một tôn giáo thờ mặt trời ở Ba Tư. Vào năm 274 AD hoàng đế La Mã Aurelian tuyên bố ngày 25 tháng 12 là ngày “sinh nhật mặt trời” là đấng vô địch.

Đến thời con một Thiên Chúa là Giêsu Kito giáng trần thì hình ảnh của Thiên Chúa là đấng tối cao bị lẫn lộn với ý tưởng thần mặt trời trong đầu óc của hàng trăm ngàn người vừa mới trở lại đạo trên toàn đế quốc La Mã. Có lẽ vì thế mà Giáo Hội mới lấy ngày 25 tháng 12 làm ngày Lễ Giáng Sinh, sinh nhật của chúa Giêsu?

Thế là thay vì dựa vào sức mạnh của chúa Kito để thay đổi thế giới, danh hiệu Kito bị dân ngoại thay đổi hay đúng hơn được biến cải để hội nhập!

Tác giả “4000 Years of Christmas: A Gift from the Ages” thuật lại như sau: “Năm 742 AD thánh Boniface viết thư than phiền với Đức Giáo Hoàng Zacharias rằng… ông làm việc quá cực nhọc để mang những người Franks và Alemans – bộ lạc Đức – trở lại đạo đã bị trở ngại vì những người công giáo La Mã ham vui hội hè bê bối ở ngay quê nhà mình. Dân Franks và Alemans đang sắp sửa trở lại đạo nhưng vì ham mê vui thú hội hè như người La Mã nên việc cải đạo bị trở ngại.

Khi thánh Boniface yêu cầu họ xa lánh những tập tục vui thú đó thì họ nói họ mừng những ngày hội đó dưới sự bảo trợ của Rome. Cảm thấy bối rối và lo lắng, giáo hoàng Zacharias trả lời…và công nhận là dân thành Roma quá bê bối vào ngày lễ Giáng Sinh” (p.53)

Lễ Giáng sinh qua nhiều thế kỷ, Nguồn: Oxford Univercity Pres

Qua những thế kỷ sau, ở Đức, Thuỵ Điển / Scandivania và Ái Nhĩ Lan / Celtic, lễ Giáng Sinh lại có những tập tục của dân ngoại, trang hoàng bằng những cây thông xanh và lá holly.

Vào thời Trung Cổ, ở Âu Châu người ta lại mừng Lễ Gáng Sinh kiểu lễ Thần Canh Nông. Tác giả Penne L. Restad, trong Christmas in America, A History, tả lại cuộc bàn cãi về đạo đức vào thời điểm đó như sau:

“Một số giáo sĩ cho rằng loài người sa ngã cần phải có những lúc xả hơi miễn là nằm trong khuôn khổ Kito giáo. Những vị khác lại chủ trương tất cả những vết tích của ngoại giáo cần phải loại bỏ khỏi những ngày nghỉ ngơi vui hội. Những kitô hữu trung dung, không nồng nhiệt lắm thì than phiền Giáo Hội có những luật lệ vô lý, lại tính thay đổi những tập tục cũ.

Tuy nhiên Giáo Hội vẫn còn hy vọng là những cử chỉ và hành động thánh sẽ thay thế những lề lối phàm tục khi mà dân ngoại bỏ đi những cuộc vui chơi chè chén cũ và trở về với Kito giáo.” (1996, p.6).

Buồn thay, mong ước đó đã không xẩy ra như ý. Tiếp theo thời Trung Cổ, một số nhà thệ phản đã cố gắng cải đổi Lễ Giáng Sinh nhưng chỉ thay đổi được chút ít. Thanh giáo Anh đã chống lại những nghi lễ Giáng Sinh và phản đối hoàn toàn, cho rằng không đúng tinh thần Kito giáo.

Năm 1659 ngày nghỉ lễ đó đã bị hủy bỏ và cấm hẳn ở bang Massachusetts, nhưng vì nó đã quá phổ thông và được mọi người ưa thích nên cuối cùng vào năm 1681 lễ Giáng Sinh lại được chính thức công nhận trở lại.

Trên Tờ U.S. News & World Report, tác giả bài “Tìm hiểu Lễ Giáng Sinh/In Search of Christmas”, Jeffery L. Sheler, đã viết: “Khi Lễ Giáng Sinh đến bờ biển Mỹ Quốc, người ta ăn mừng một cách khá đàng hoàng thanh sạch. Vào thời thuộc địa, ngày sinh nhật chúa Giêsu Kitô, nếu được mừng thì mừng như một ngày lễ hội lớn…Nhưng Thanh Giáo ở New England lúc đó đã thẳng tay từ bỏ, không coi là ngày lễ nghỉ nữa.” (Dec. 23, 1996, p.60).

Vào thời đại tân tiến và kinh tế hiện giờ, nhiều Kito hữu lại đặt nặng vấn đề thương mại hơn là tôn giáo. Những cuộc biểu diễn, thi xe hoa với ông già Noel trên đường phố được bảo trợ bởi những công ty, nhà hàng, department stores để quảng bá hàng hóa bán nửa giá; truyền hình truyền thanh liên tục quảng cáo đủ mọi mặt hàng với giá rẻ.

Lễ Giáng Sinh hiển nhiên đã trở nên ưu tiên đứng đầu về tiền bạc hơn là thờ kính Thiên Chúa. Nó được biến thành ngày Lễ Nghỉ. Tiếng Chúa Giáng Sinh đã bị lu mờ đi. Một số ý kiến không muốn nhắc đến vấn đề tôn giáo. Trên thiệp Giáng Sinh và câu chúc tụng nhau vì vậy không còn thấy ghi hay nói Merry Christmas nhưng là Happy Holidays!

Tuy nhiên cũng có nhiều người nghĩ đến Lễ Giáng Sinh với tinh thần đạo đức tôn giáo hơn là vui chơi và thương mại. Nhưng phải chăng cuộc sống vội vã và tham lam của con người khi nghĩ tới Giáng Sinh đã có vấn đề rồi hay chính lễ Giáng Sinh tự nó cũng có cái gì lấn cấn?

Hãy để Chúa Giêsu vào vị trí của ngài

Lễ Giáng Sinh hiện đã trở thành ngày nghỉ lễ chính thức của Hoa Kỳ, nên ít ai chịu trở lại quá khứ mà coi lại ý nghĩa thực của lễ Giáng Sinh.

Ngày Chúa Giêsu chào đời không phải là ngày 25 tháng 12. Các môn đệ của Chúa cũng không chấp nhận những lễ hội thờ thần nhảm nhí và khuyên các Kito hữu nên xa lánh. Giáo Hội sơ khai không mừng lễ sinh nhật của Chúa Giêsu.

Chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày Chúa sinh ra là dựa vào ngày lễ hội thờ thần Nông Nghiệp và thần Mặt Trời của dân ngoại.

Nhiều tập tục về Giáng Sinh, như trang hoàng cây thông, lá holly, hoa đèn, ngôi sao, ông già Noel / Santa Claus, trao đổi quà tặng, không do kinh thánh mà từ những tôn giáo của dân ngoại.

Qua dòng lịch sử, lễ Giáng Sinh là những ngày lễ hội ăn nhậu, chè chén say sưa, và bây giờ thì là cơ hội cho trẻ nít vòi vĩnh cha mẹ quà, đồ chơi hơn là nhớ đến Chúa Giêsu đã giáng trần trong cô đơn lạnh lẽo.

Vậy thì bạn nghĩ thế nào? Có người nói “Làm sao chúng tôi có thể bỏ lễ Giáng Sinh khỏi trẻ em được”. Có người nói “Lễ Giáng sinh là cơ hội đem mọi người trở lại với Chúa thì đâu còn là vấn đề nữa?”

Chúng ta biết, thánh Phaolo viết thư khuyên các tín hữu sống trong cộng đồng dân ngoại ở Corinto như thế nào rồi. Ngài còn tiếp tục đặt vấn đề với họ: 

“… Làm sao sự công chính lại liên kết được với bất chính? Làm sao ánh sánh lại thông đồng với bóng tối được? Làm sao Đức Kitô lại hòa hợp với ma quỷ được? Làm sao người có đức tin lại chung phần với người không có niềm tin? Làm sao Đền Thờ Chúa lại đi đôi với tà thần được?”

“Vì thế, ‘hãy ra khỏi dân ấy và rời xa chúng, Chúa phán như vậy. Đừng có đụng tới vật ô uế nào, và ta sẽ đón nhận các ngươi…’ Do đó….chúng ta hãy tẩy rửa hồn xác cho sạch khỏi mọi vết nhơ và đem lòng kính sợ Thiên Chúa mà lo sống thánh thiện hoàn toàn.” (2Cr 6:14-18; 7:1).

Quan điểm của thánh Phaolo về Lễ Giáng Sinh quả là thích hợp. Làm sao chúng ta có thể tuyên xưng thờ phượng Thiên Chúa bằng những truyền thống và tập tục của dân ngoại mà chính Chúa đã cấm?

Câu hỏi quyết định là làm sao chúng ta có thể đặt Chúa Giêsu trở lại đúng vị thế của Ngài trong mùa lễ này là lễ mà Ngài chưa bao giờ khởi đầu và can dự vào? Đó là câu hỏi khó và rất quan trọng, mỗi người chúng ta nên tìm câu trả lời.

Tuy nhiên, cho rằng lễ Giáng Sinh bắt nguồn từ lễ hội của dân ngoại, thì cũng chẳng có gì là sai trái mà còn có vẻ thức thời hợp lý ở thời đại toàn cầu hóa và hòa đồng tôn giáo, miễn sao nó không có những hành động thế tục tội lỗi là được.

Còn ngày 25 tháng 12 thì chắc chắn không phải là ngày chúa Giêsu sinh ra. Giáo hoàng Biển Đức XVI (Pope Benedict XVI), trong cuốn sách “Jesus of Nazareth, The Infancy Narratives” xuất bản ngày 20-11-12, cũng cho rằng ngày 25-12 không phải là ngày sinh nhật của Chúa, vì tu sĩ Dionysius Exignus đã tính lầm, do đó lịch Công Giáo hiện giờ cũng bị sai, chậm đi mất cỡ 7 năm.

Bs.Nguyễn Tiến Cảnh
Fleming Island, Florida

“CHÚNG TA VIẾT TIỂU THUYẾT KHÔNG THỂ BẰNG THẾ GIỚI”

Sáng nay (ngày 11/8/2012), tại giảng đường Khoa Viết văn – Báo chí, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, diễn ra cuộc nói chuyện giữa nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với các học viên lớp “Kĩ năng sáng tác và thẩm bình truyện ngắn”.

Nhân đây, chúng tôi có cuộc trao đổi với ông:

PV: Quá trình dạy học có thúc đẩy gì đến việc ông trở thành một nhà văn?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Nitsơ đã nói rằng đó là bản năng. Chính bản năng đã thúc đẩy sự ham muốn viết của một thầy giáo như tôi. Chúng ta muốn chứng tỏ rằng mình đang sống, nên chúng ta viết.

PV: Ông nghĩ gì về Đạo làm người?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Đạo kia là kẻ vô hình/ Chúng ta là kẻ vô tình bước qua. Chạm đến Đạo là chạm đến cái chết; là hết tham, sân, si; là hết tính người.

Đi tìm Đạo là đi tìm cả cái chết và sự sống.

Đã là con người thì phải có tham, sân, si. Đó là bản năng của chúng ta. Không có những cái này, chúng ta không phải là con người. Quan trong là biết tiết chế. Chúng ta phải biết ranh giới của nó.

PV: Sau khi đã đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp, ông có dự định chinh phục những đỉnh cao khác?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Tôi viết xong rồi. Viết nhiều nó nhảm. Có phải viết nhiều là tốt đâu.

Chúng ta vào thư viện, có rất nhiều sách. Đa số là sách vứt đi.

PV: Ông nghĩ gì về truyện lịch sử?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Chúng ta tồn tại là nhờ những “gen” mạnh: “gen” tinh thần, “gen” trí tuệ, “gen” sức khỏe và cả “gen” tiền bạc.

Truyện lịch sử tồn tại dưới tay kẻ viết mạnh nhất. Chúng ta phải biết lợi dụng lịch sử. Đại ý như câu nói mà tôi đã từng nghe: “lịch sử là cái đinh để tôi treo áo”.

PV: Thưa nhà văn, điều thiện của con người có phải là cái tốt nhất?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Có điều thiện là tốt. Nhưng nhiều khi chúng ta khổ vì điều thiện. Nếu thiên về điều thiện quá thì nguy.

Chúng ta đừng có lệ thuộc quá nhiều vào điều có sẵn. Chúng ta phải tìm kiếm cái mới.

PV: Ông có tin vào sức mạnh của văn chương Việt Nam sẽ làm nên được những bộ tiểu thuyết lớn?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Chúng ta viết tiểu thuyết không thể bằng thế giới được.

Các nước như Nga, Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, họ có những lâu đài văn chương thật sự. Chứ không phải những lâu đài dễ vỡ như ta.

Ra nước ngoài rồi quay lại nhìn những cái của ta thật là thảm hại. Truyện ngắn phù hợp với ta vì sức khỏe và trình độ của ta có giới hạn.

Người Việt Nam không làm được cái lớn đâu. Chúng ta phù hợp với cái nhỏ hơn. Làm như vậy, chúng ta mới đạt được giá trị cả hình thức lẫn nội dung.

Bạn thử nghĩ đến những giá trị tinh thần và vật chất mà cha ông để lại thì biết.

Có lẽ cũng do môi trường sống và con người nữa. Ví như ở Trung Quốc có núi cao, sông rộng, lòng người hiểm nên họ mới có những bộ tiểu thuyết lớn.

PV: Thưa ông, với truyện ngắn, làm cách nào để viết được nó một cách thành công nhất?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Viết truyện ngắn, anh phải biết căn cơ. Như muốn đi một chuyến đi xa, anh phải chuẩn bị tiền, quần áo và nhiều thứ linh tinh khác.

PV: Ông có thể nói qua về mối quan hệ giữa văn học và chính trị?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Mối quan hệ giữa văn học và chính trị là mối quan hệ tất yếu.

Từ Aristot đến Mạnh Tử, có nghĩa là từ Tây sang Đông đều nói đại ý thế này: Con người sinh ra là đã mang bên mình bản thân chính trị.

Anh phải biết về nền chính trị đương thời. Phải có bản lĩnh chính trị. Tu thân, tu đạo là tu bản thân chính trị.

Giả hoặc một người cha phải biết nói nhiều giọng điệu để có cách ứng đối linh hoạt. Với vợ một giọng và với con phải một giọng.

PV: Thưa nhà văn, lợi ích của văn chương là gì?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Có người nói tôi sinh ra để làm nhà văn. Số phận bắt tôi phải làm nhà văn. Có lẽ điều đó đúng.

Tôi thấy từ vua chúa đến thường dân đều bị văn chương làm cho mê hoặc.

Nếu ngoài việc kiếm tiền ra mà chúng ta cứ ăn uống, chơi bời thì còn gì là thú vị. Cuộc đời dễ trở nên chán chường.

Văn chương có cái lợi hại là lúc nào nó cũng giúp lòng người hướng đến ánh sáng. Ngay trong quá trình bắt tay vào sáng tạo đã có điều đó.

Người xưa có câu “nhà ta quý chữ hơn vàng” để minh chứng cho điều đó.

PV : Ông có bao giờ hoang mang về văn chương?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Tôi chưa bao giờ hoang mang về văn chương. Tôi làm mọi thứ có thể hoang mang chứ văn chương thì chưa.

Những người yêu văn chương đích thực kiểu gì cũng tìm được đường thoát hiểm cho riêng mình.

Văn chương là thứ đáng quý, đáng hy sinh về nó.

PV: Vũ Gia Hà

Một nén hương tưởng niệm Thầy Hà Văn Tấn

GS. Hà Văn Tấn đã giã từ cõi tạm, trở về với cõi vĩnh hằng!

Thời sinh viên tôi may mắn được học thầy Tấn môn Phương pháp luận Sử học và được đi khảo cổ cùng Thầy ở Đồng Gai (Vĩnh Phúc) trong năm thứ nhất (1980-1981).

Thầy Tấn là một trong bốn học trò xuất sắc của các GS: Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu và Trần Đức Thảo… Không biết từ lúc nào và từ ai, người ta gọi bốn GS: Lâm, Lê, Tấn, Vượng là “tứ trụ” của khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp HN (nay là khoa Lịch Sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội).

Bốn thầy đều có những mặt hay, nổi trội của mình, trong đó thầy Tấn trẻ nhất nhưng “xứng đáng được coi là một gương mặt hàng đầu của giới khoa học xã hội Việt Nam hiện đại” [Hàm Châu, 2014].

Nếu xét theo phả hệ họ Hà thì thầy Tấn thuộc diện “con nòi”. Bố thầy là cụ Hà Văn Cát đã “dùi mài kinh sử” để chờ đi thi; nhưng do thực dân Pháp hủy bỏ các khoa thi Hán học, nên cụ lỡ thời… Nhưng may mắn là cụ Hà Văn Đại (anh ruột cụ Cát) kịp thi đỗ phó bảng trong khoa thi cuối cùng (1919). Hai anh em sống chung trong một cơ ngơi, vì thế cậu bé Hà Văn Tấn chịu ảnh hưởng sâu đậm của người bác ruột và được học một ít chữ Hán từ bác mình…

Thầy Tấn cùng quê với đại thi hào Nguyễn Du (Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Đây cũng là quê của Nguyễn Công Trứ – một nhà thơ tài hoa và là nhà kinh tế tài ba. Như vậy, thầy Tấn xuất thân từ một gia tộc có học ở vùng đất được xem là “địa linh nhân kiệt” (Nghệ Tĩnh). Vùng này đã sản sinh ra những nhân tài hàng đầu cho đất Việt – La Sơn Phu Tử, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn…

Nghệ tĩnh là đất nghèo, vùng này nghèo đến nỗi: “Ông nghè, ông cống sống bởi ngọn khoai/Anh học, anh nho nhai hoài lộc đỗ”. Gia cảnh cụ phó bảng (nơi thầy Tấn sống thời trẻ) rất thanh bần. Cảnh bần bạch của cụ đồ Nghệ phần nào được phản ánh qua đôi câu đối mang hơi hướng “chơi chữ”: “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai – khoai ba bữa/ Ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ – đỗ cả nhà”…

Xuất thân từ hoàn cảnh đó đã tạo động lực và buộc thầy Tấn phải “vượt qua hoàn cảnh”, “vượt lên chính mình” để trở thành một học giả, một trí thức nổi danh thời hiện đại. GS. Đặng Nghiêm Vạn có lần nói với Đỗ Lai Thúy: “Tấn là thiên tài”…

Nhờ đâu Hà Văn Tấn trở thành một “thiên tài” đất Việt? Lũ hậu sinh chúng tôi nhờ đọc một số tài liệu mà biết đôi chút về thầy mình như thế này:

Từ vốn tri thức được học 9+2 (như Hà Văn Tấn vẫn thường tự trào mình và, có lẽ, qua đó để tiếu người…) đến một nhà bác học quảng vấn, chỉ có một con đường là tự học… Người thầy trực tiếp của Hà Văn Tấn là học giả Đào Duy Anh – một tấm gương sáng của đại tự học… Hà Văn Tấn không chỉ ham học mà còn biết cách học; trong đó tự học, quan trọng hơn cả, là đọc sách.

Song, để đọc được sách thì cần phải giỏi về ngôn ngữ. Nắm được tiếng Việt đã đành, còn phải biết ngoại ngữ nữa… Hà Văn Tấn đã bắt đầu từ chỗ bắt đầu ấy. Ông học tiếng Việt, đọc các sách viết về ngữ âm, ngữ pháp và đặc biệt tìm hiểu các vấn đề liên quan đến nguồn gốc tiếng Việt. Với ông, tiếng Việt không chỉ là công cụ tư duy, phương tiện biểu đạt, mà còn là một nguồn sử liệu dưới dạng trầm tích.

Mặc dù giỏi ngôn ngữ đến mức trở thành hội viên Hội ngôn ngữ Việt Nam bấy giờ và, quan trọng hơn, được Cao Xuân Hạo rủ làm ngôn ngữ học. Song, Hà Văn Tấn trước sau chỉ coi ngôn ngữ là chiếc chìa khóa giúp ông mở vào tòa nhà Sử học. Ông tiếp tục học chữ Hán và tiếng Anh, tiếng Pháp. Ông học thêm tiếng Nga, tiếng Đức… Rồi cả tiếng Nhật nữa. Về sau theo lời thầy Đào Duy Anh: muốn hiểu sâu văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ thì phải biết tiếng Pali hoặc tiếng Phạn, Hà Văn Tấn đã lao vào học tiếng Phạn, một thứ tử ngữ rất khó.

Thời ấy, học ngoại ngữ cực kỳ khó khăn, đến giáo trình cũng khan hiếm, phải qua các ngữ trung gian. Ví như, học tiếng Nga qua tiếng Pháp, tiếng Đức và Nhật qua tiếng Nga, tiếng Pháp qua tiếng Đức…

Thuật học của Hà Văn Tấn là đọc trực tiếp các tác phẩm nguyên ngữ sau khi đã có một số vốn nhất định… Ông được trời phú cho một năng khiếu ngoại ngữ biểu hiện ở cái tư duy đặc trưng và có một trí nhớ hơn người.

Chính nhờ sự tự học (ngoại ngữ và các kiến thức khác) mà Hà Văn Tấn đã sớm khẳng định được bản thân và trở thành nhân tài từ khi còn rất trẻ. Năm 21 tuổi ông được nhà Hán học Phan Duy Tiếp tin tưởng giao cho hiệu đính bản dịch tiếng Việt cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Phần chú thích, dẫn giải của Hà Văn Tấn “dài gấp bốn lần chính văn” (115/38 trang). Để chú thích ông phải đọc, dẫn dụng tới “30 bộ sách của các tác giả Trung Quốc và 16 bộ sách của Việt Nam!”. Số tài liệu này được ông đọc trực tiếp từ nguyên văn chữ Hán…

Hà Văn Tấn đã để lại cho hậu thế một di sản có giá trị to lớn. Ông đã viết hàng trăm bài báo, luận văn, sách, tài liệu khoa học. Ở đây chỉ kể một số công trình tiêu biểu là: “Lịch sử chế độ Cộng sản nguyên thủy ở Việt Nam” (viết cùng Trần Quốc Vượng, 1960); “Sơ yếu khảo cổ học nguyên thủy” (viết cùng Trần Quốc Vượng, 1961); “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII (viết cùng Phạm Thị Tâm, 1968); “Theo dấu các văn hóa cổ” (1997)…

Trong các ấn phẩm trên, cuốn sách “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII” được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước khi Người qua đời… Cố GS. Phan Huy Lê – CT Hội Sử học Việt Nam đã nói về GS. Hà Văn Tấn: “Quả thực anh là một nhà khoa học thâm thúy, có nhiều công trình lỗi lạc, có nhiều cống hiến xuất sắc trong nghiên cứu và đào tạo khảo cổ học và nghiên cứu Việt Nam nói chung”.

Vậy mà… hôm nay ông đã thành người thiên cổ!

KÍNH VĨNH BIỆT GS. HÀ VĂN TẤN – MỘT TRONG NHỮNG “NGƯỜI THẦY LỚN” CỦA CHÚNG TÔI…!!!

VỀ MỘT CHÚ GIẢI TRONG SÁCH “ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ”

Đại Việt sử ký toàn thư là một trong ba bộ quốc sử của dân tộc ta còn lại đến ngày nay. Năm 1967, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã dịch và xuất bản thành 4 tập.

Trong lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm được nhà Hán học Cao Huy Giu dịch và và giáo sư Đào Duy Anh hiệu đính. Về sau, Đại Việt sử ký toàn thư được tái bản nhiều lần.

Đặc biệt khi phát hiện ra bản in xưa nhất thuộc năm Chính hoà thứ 18 (1697), Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã tổ chức nghiên cứu, phiên dịch và xuất bản thành 4 tập, khổ lớn. Trong đó, ba tập đầu là nội dung tác phẩm, còn tập 4 là phần nguyên văn chữ Hán của toàn bộ tác phẩm.

Như vậy, từ trước đến nay bộ sách này đã qua nhiều lần xuất, tái bản; mỗi lần đều có sự chỉnh lý, bổ sung cho hoàn thiện hơn.

Tuy nhiên, gần đây một người bạn[2] của tôi phát hiện có một địa danh lịch sử sách chú giải chưa chính xác.

Tôi đọc và kiểm tra lại Đại Việt sử ký toàn thư thì thấy đúng như vậy. Vì thế tôi viết bài này những mong các nhà nghiên cứu và làm sách xác định và đính chính lại địa danh đó để bộ quốc sử nếu được tái bản sẽ hoàn chỉnh hơn.

Trong tập IV của Đại Việt sử ký toàn thư (in lần thứ hai, năm 1973, từ trang 183 đến 185) và tập III (sách mới, xuất bản năm 1998, từ trang 168 đến 170) đã mô tả về trận chiến giữa quân đội Lê-Trịnh với quân đội nhà Mạc ở địa phận xã Phấn Thượng.

Đây là trận đánh lớn trong cuộc chiến lâu dài giữa hai thế lực phong kiến. Đại Việt sử ký toàn thư đã mô tả sự kiện này như sau[3]:

“Ngày Nhâm Tý 21, ban đêm, mặt trăng phạm vào sao Tuế. Bấy giờ, họ Mạc bàn cử hết đại binh, thúc gọi binh mã 4 trấn, 4 vệ, 5 phủ quân, được độ hơn 10 vạn, hẹn đến ngày 16 tháng ấy hội quân ở Hiệp Thượng, Hiệp Hạ để quyết chiến (…)”.

Ngày 27, chia đường cùng tiến. Đến địa phận xã Phấn Thượng, hai bên đối trận với nhau, dàn bày binh mã (…).

Kết cục của trận chiến: “(…) Quân Mạc kinh hoàng, cánh quân tả không kịp trông cánh hữu, quân sau không kịp nhìn quân trước, binh lính tuy đông nhưng cờ xí lộn xộn, hàng ngũ đã rối loạn, quan quân nhân thế đánh tan.

Các quân thừa thắng đuổi dài đến Giang Cao, chém được hơn 1 vạn thủ cấp, máu chảy khắp đồng, thây chết thành núi, cướp được khí giới và ngựa nhiều không kể xiết.

Mạc Hậu Hợp sợ đến vỡ mật, xuống thuyền vượt sông mà chạy. Tàn quân tranh nhau xuống thuyền, sợ thuyển đắm, lấy gươm chặt đứt tay rơi xuống sông chết đến quá nửa, còn lại thì đứa nào đứa nấy đều chạy trốn.

Duy chỉ có tướng Nam đạo là Nguyễn Quyện lánh xa nên được an toàn. Mạc Hậu Hợp trốn về kinh ấp…”.

Trong đoạn mô tả trên, địa danh Phấn Thượng (ở trang 169, sách mới xuất bản năm 1998) được chú thích ở cuối trang là: 2-Phấn Thượng: sau là xã Tảo Thượng, nay là xã Ngọc Tảo, huyện Tùng Thiện, tỉnh Hà Tây”.

Còn trong bản dịch và xuất bản lần đầu (tái bản năm 1973), ở cuối sách – phần “Chú giải và khảo chứng”, trang 355, giáo sư Đào Duy Anh đã chú giải:

(53) Phấn-Thượng: Cương mục q.29 chú tức là xã Tảo Thượng huyện Tùng-thiện, nay là xã Ngọc-tảo huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây”.

Tương tự, một tác phẩm khác của Lê Quý Đôn mới được tái bản gần đây, ông Nguyễn Khắc Thuần cũng chú giải địa danh này là “thuộc huyện Tùng Thiện (Hà Tây)”[4].

Xem xét và đối chiếu kỹ các chú giải trên đây, chúng tôi nhận thấy, hình như các tác giả sau đều lấy lại tinh thần chú giải của giáo sư Đào Duy Anh, có khác chăng chỉ là về cách diễn đạt hay ngôn từ.

Rất tiếc, theo suy nghĩ của chúng tôi, các chú giải trên đều chưa chính xác.

Theo thông báo trong chú giải của giáo sư Đào Duy Anh, chúng tôi biết giáo sư đã căn cứ vào bộ quốc sử của triều Nguyễn – Cương mục để chú giải về địa danh Phấn Thượng.

Nhưng khi khảo cứu lại Cương mục chúng tôi thấy sách này chỉ có “Lời chua”: “Phấn Thượng: Nay là xã Tảo-thượng. Từ Mã-yên đến Phấn-thượng trên đều thuộc tỉnh Sơn-tây”[5].

Như vậy, nếu so sánh hai chú thích trên (của Cương mục và của giáo sư Đào Duy Anh), chúng ta thấy có sự khác nhau rất cơ bản.

Cương mục chỉ “chua”: “Phấn-thượng nay là xã Tảo-thượng”, còn trong chú giải của giáo sư Đào Duy Anh lại có thêm đoạn giải thích: “(…) xã Tảo-thượng thuộc huyện Tùng-thiện, nay là xã Ngọc-tảo, huyện Tùng-thiện, tỉnh Hà-tây”.

Chúng tôi chưa có điều kiện xác minh xem giáo sư Đào Duy Anh đã căn cứ vào đâu để “chú” thêm đoạn này…

Song, có lẽ do sự nhẫm lẫn bắt nguồn từ đây mà về sau các sách đều chú giải “sai giống nhau” về địa danh này!

Vậy, sự thực địa danh Phấn Thượng là ở đâu trong cương vực địa lý nước ta hiện nay?

Chúng tôi cho rằng, Phấn Thượng chính là Phụng Thượng – một xã thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây ngay nay.

Khi xác định như vậy, chúng tôi đã dựa vào các căn cứ sau đây:

1) Theo nguồn tài liệu điều tra, khảo sát thực địa của chúng tôi. Qua lời kể của nhân dân địa phương[6] và hiện tại, trong địa giới xã Phụng Thượng vẫn còn 2 voi đá, 2 ngựa đá (trong đó có 1 con phục chế lại) được tạo dựng từ thời Lê-Trịnh ở đầu thôn Tây của xã, di tích này cách quốc lộ 32A Hà Nội – Sơn Tây khoảng 100 mét.

2) Theo sách Sơn Tây tỉnh dư địa chí, ông Phạm Xuân Độ cũng cho biết: “Ai qua làng Bún-thượng trên đường Hà Nôi – Sơn Tây, tất cũng nhận thấy 2 voi và 1 ngựa đá đứng trơ trơ giữa cánh đồng ruộng phẳng lỳ. Nơi này vốn xưa có đền thờ các trận vong tướng sỹ đời Lê Trung hưng.

Nguyên vua Lê Trang Tông bị nhà Mạc cướp ngôi, phải chạy vào Thanh Hoá. Sau gặp trung thần là Nguyễn Kim, bèn ra khôi phục đất Thăng Long. Quân Mạc lúc bấy giờ phải lui về Bún-thượng.

Quân Lê tiến đến chợ Săn thuộc huyện Thạch Thất, nhân đêm tối phát cơm cho binh lính, rồi kéo đến phá tan quân Mạc, nên đã có câu: “Cơm nắm chợ Săn phá tan Bún-thượng”.

Nhà Lê muốn kỷ niệm chiến công, cho lập đền thờ các tử sĩ và tạc voi đá, ngựa đá. Lâu năm đền cổ đổ nát, rồi vật đổi sao dời, ngày nay chỉ còn voi ngựa quỳ phục ở giữa đồng không cảnh vắng, như thể đánh dấu một cuộc tang thương”.

Ông Độ còn giải thích về tên làng Bún như sau: “Phấn-thượng nay là làng Phụng-thượng, thuộc huyện Phúc-thọ”.

Ở cuối trang sách, ông còn chú thích: “Cũng vì làng Phụng-thượng, xưa kia gọi là Phấn-thượng, nên ngày nay mới có tên tục là làng Bún”[7].

3) Qua khảo cứu một số sách có nói đến địa danh trên đất nước ta tương đối cụ thể như: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX và Nomenclature des Communes du Tonkin của Ngô Vi Liễn, chúng tôi thấy – không có tài liệu nào nói đến Phấn Thượng thuộc về huyện Tùng Thiện.

Như vậy, dựa vào các căn cứ trên đây chúng tôi nhận định:

Phấn Thượng không phải là một địa danh (mà nay là xã Ngọc Tảo) thuộc huyện Tùng Thiện tỉnh Hà Tây như các sách trên đã chú giải, mà Phấn Thượng chính là Tảo Thượng (hay Cảo Thượng – thời Nguyễn), rồi về sau được đổi thành Phụng Thượng[8] – một xã thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây như ngày nay.


[1] Bài đăng tạp chí Xưa & Nay, số 56, tháng 10-1998.

[2] Anh Trần Văn Ẩm, trước học cùng đại học với tôi, hiện đang công tác tại Ban Tuyên giáo Huyện uỷ huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây.

[3] Sách mới (theo bản Chính hoà thứ 18) – tập III, xuất bản năm 1998.

[4] Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, 1996, tr. 248.

[5] Quốc sử Quán: Việt sử thông giám cương mục chính biên, tập XIV, quyển thứ 29, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, tr. 87.

[6] Nhân dân địa phương kể lại: Trận đánh lịch sử trên đã làm chết và bị thương rất nhiều người thuộc cả hai bên tham chiến. Vì thế, triều đình phong kiến đã chỉ dụ cho quan quân, dân chúng địa phương lập đền thờ các binh sỹ trận vong tại địa điểm diễn ra trận chiến.

Trước cửa đền thờ này tạc 4 tượng đá lớn, gồm 2 voi đá, 2 ngựa đá. Tương truyền trước đây vào một đêm giông bão, 1 trong 4 tượng đá (ngựa) bị thần lấy đi, nên hiện chỉ còn 3. Có người cho rằng, ai đó đã lấy mất 1 tượng – ngựa đá để nung vôi hay dùng vào việc gì đó. Về sau nhân dân địa phương phục chế lại. Còn đền cổ Tảo Thượng (Phụng Thượng) thì bị phá huỷ trong thời Pháp thuộc.

[7] Phạm Xuân Độ: Sơn Tây tỉnh địa chí, 1941, tr. 158 và tr. 169.

[8] Lịch sử Đảng bộ và nhân dân Phụng Thượng, tập I (1930-1954), Đảng uỷ xã Phụng Thượng, 1995, tr. 7.

TS Bùi Hồng Vạn (TMU)

“CÔ ĐƠN, CÔ ĐƠN HƠN NỮA…”

Trong bài viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (“Con đường văn học”) có câu: “Cô đơn, cô đơn, cô đơn hơn nữa”. Hàm ý câu này là gì? 

Trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, cô đơn là một thuộc tính vốn có từ xa xưa. Dẫu vẫn biết con người cần phải sống trong tập thể, sống với cộng đồng. Nhưng nếu họ không có những khoảng lặng (cô đơn) thì khó mà tồn tại, chứ đừng nói đến sáng tạo, phát triển. 


Con người cần sống hài hòa giữa tập thể và cá nhân. Sự kết hợp – kết nối – tương tác – hợp tác giữa các cá nhân tạo nên giá trị “NGƯỜI” trong phạm trù CON-NGƯỜI. Song, họ cũng rất cần những “khoảng lặng”, sống trong sự tĩnh lặng, cá nhân (CÔ ĐƠN). 


Nếu tất cả chỉ có ồn ào, náo nhiệt, tập thể thì con người có nguy cơ mắc bệnh do sự mất quân bình trong cuộc sống là khá cao. Triết lý phương Đông đã định nghĩa bệnh chính là biểu hiện của mất quân bình ÂM-DƯƠNG. Chữa bệnh (thực chất) là lập lại thế quân bình âm dương cho cơ thể con người.

Sự tĩnh lặng, trạng thái cô đơn là cực kỳ cần thiết đối với MỖI CON NGƯỜI. Trong những giờ phút tĩnh lặng, người ta tập trung suy ngẫm, phát hiện và tạo nên những thành tựu vĩ đại. Đó là những phát kiến, phát minh về khoa học, kỹ thuật, công nghệ; những sáng tạo về tư tưởng, triết lý; những tri kiến mang tính đột phá, khai minh… Những nhà tu hành, các đạo sư thường giác ngộ ĐẠO trong sự tĩnh lặng của môi trường sống.

Như vậy, cô đơn trở thành một phần – một điều kiện – một tiền đề thiết yếu giúp con người tạo nên những giá trị, những thành tựu văn hóa, văn minh… (Có lẽ) vì thế mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã khẳng định: “Cô đơn, cô đơn, cô đơn hơn nữa – đấy là lối mòn bậc thánh nhân”. Không phải chỉ có Nguyễn Huy Thiệp, trên thế giới rất nhiều người chia sẻ tư tưởng này và họ thường biến sự cô đơn thành một trong những điều kiện để tạo nên giá trị, sự thành công, phát triển…

Trong số những người cô đơn thì các vĩ nhân là những người cô đơn nhất. Do họ có khả năng vượt trội so với những người khác về một lĩnh vực nào đó nên hầu hết/tất cả mọi người không hiểu và không thể chia sẻ được với tư tưởng, hành động của họ… Dưới góc nhìn của Nguyễn Huy Thiệp vua Gia Long (triều Nguyễn) là “một khối cô đơn khổng lồ”. Tương tự, những Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Trường Tộ, Hồ Chí Minh… cùng các nhân vật lịch sử khác như: Ga-li-lê, Hê-ghen, Can-tơ, C.Mác, Lê nin, Anh-xtanh, Niu-tơn, v.v… đều là những người/kẻ CÔ ĐƠN ở những mức độ khác nhau. 


Chuyện kể lại khi Hê-ghen công bố hệ thống triết học của ông thì không một người đương thời nào hiểu nổi. Khi nằm trên giường bệnh, Hê-ghen nói: Chỉ có một học trò hiểu triết học của ông, nhưng tiếc rằng, anh ta lại hiểu… sai (!). BUỒN, CÔ ĐƠN của các VĨ NHÂN là thế…!!!

Vậy cái kết của bài này có thể/nên/là: CÔ ĐƠN LÀ BUỒN, NHƯNG CON NGƯỜI VẪN CẦN ĐẾN SỰ CÔ ĐƠN…!!!

“ĐAU LÒNG” SÁCH BIẾU, SÁCH TẶNG

Xưa nay, chuyện tặng nhau sách, báo và các vật phẩm khác đã trở thành một nét văn hóa, thói quen của không ít người. Nhưng nếu chịu khó quan sát, để ý thì việc trao tặng, nhận và sử dụng quà tặng này cũng khối chuyện để nói.

Tôi có một thú vui (hơn nhiều thú vui khác) là đọc sách. Thành thử, cứ khi nào có thời gian rỗi tôi lại “lượn lờ” qua các hiệu/nhà sách lớn nhỏ ở Hà Nội. Chiều qua, do ngồi nhà đọc sách mãi thấy mệt nên quyết định lên “ngựa sắt” (xe máy) đi săn sách cũ.


Khi đến một cửa hàng chuyên bán sách cũ (Hà Nội) tôi tìm được gần chục cuốn sách cũ rất giá trị (tất nhiên là với tôi). Trong số sách tôi mua được có hai cuốn tôi coi là của quý. Đó là hai cuốn: “Nguyễn Cảnh Toàn – Tuyển tập các công trình Toán học và Giáo dục” (Nxb Giáo dục, 2005) và “Nguyễn Cảnh Toàn – Tuyển tập tác phẩm, Tập 2 – Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” (Đại học Sư phạm Hà Nội và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, 2001). Cuốn đầu dày 897 trang, cuốn sau dày 777 trang khổ lớn.

Mặc dù bị liệt vào hàng sách cũ, nhưng hai cuốn này còn rất mới. Người bán phát giá 300 ngàn đồng; sau thương thảo, tôi mua 2 cuốn với 200 ngàn đồng.

Tôi rất vui khi mua được hai cuốn sách trên! Vui vì đây là hai tổng tập công trình của một nhà khoa học – nhà giáo dục tên tuổi của Việt Nam, được thế giới đưa vào danh sách “một trong những trí tuệ lớn của thế kỷ 21”, thuộc tốp “500 người hàng đầu” của nhân loại do Trung tâm Tiểu sử Quốc tế phong tặng.

Trong hai cuốn sách này có bút tích đề tặng của GS Nguyễn Cảnh Toàn cho một người nguyên là quan chức cao cấp nước ta. Tuy vậy, bên cạnh niềm vui thì có cả nỗi buồn. Buồn vì hình như người được tặng sách đã không hề đọc chúng. (Vì cả hai cuốn sách đều còn rất mới, trong các trang không có chút dấu vết nào tỏ ra người ta đã đọc nó).

Tôi cứ nghĩ vẩn vơ về chuyện này: để viết được một bài đăng trên báo chí đã khó. Viết cả một cuốn sách thì cái khó nhân lên hàng chục lần. Khổ, kỳ công lắm, cả thời gian cũng nhiều lắm mới tạo ra một cuốn sách. Chả thế mà người ta coi sách như là “đứa con tinh thần” của tác giả… Vậy mà, có những người khi được tặng sách đã chẳng ngó ngàng đến nó chút nào. Có thể họ xếp những cuốn sách được tặng lên giá sách, còn tệ hơn thì vất ở một xó xỉnh nào đó. Rồi đến “một ngày đẹp trời”, những cuốn sách này sẽ được thải loại theo kiểu bán giấy vụn cho mấy bà “đồng nát”.

Trong sách “Giăng lưới bắt chim” (2010), nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có câu: “Khác với phương Tây, truyền thống chính trị phương Đông chưa hề bao giờ có sự tôn trọng đúng mức các nhà văn, các nhà tư tưởng”. Theo tôi, có thể chèn thêm vào cuối câu này dòng chữ: “và các nhà khoa học”.

Ý kiến trên đúng đến đâu, tôi không bàn. Chỉ nghĩ suy một điều nếu hôm nay người đi mua sách là GS.VS.TS.NGND Nguyễn Cảnh Toàn thì không biết ông sẽ nghĩ sao, có cảm giác thế nào về việc người ta đối xử với những đứa con tinh thần của mình? 

Còn với tôi (có thể cả bạn nữa) cần rút ra bài học – tốt nhất chỉ nên tặng sách cho những người thật sự cần và trân quý nó… 

Phan Cẩm Thượng (một nhà nghiên cứu tên tuổi về nghệ thuật Việt) đã chua chát viết ra điều này trong cuốn sách (“Nghệ thuật ngày thường”) của ông: “Không nên tặng sách cho các thi hào, danh nhân, trân trọng nhất là họ xếp lên giá sách và không bao giờ đọc”.

Ông còn chua thêm rằng: “Quan chức các ngành nhận được nhiều sách biếu nhất, thứ đến các giáo sư, tiến sĩ, danh nhân, rồi mới đến bạn bè. Sinh viên là những người cần đọc nhất thì chẳng ai tặng…”. Phải chăng đây là một trong những nghịch lý của CUỘC ĐỜI ???

(Đã đăng trên YUME.VN ngày 2/8/2012)

CHỚ ĐÙA VỚI QUYỀN LỰC

          Trong cuộc sống nếu không tỉnh sẽ dẫn tới những hệ lụy khôn lường, có khi phải trả giá bằng cả tính mệnh của mình. Câu chuyện sau đây cho chúng ta thấy rõ điều đó:

          Chuyện kể lại, thời trẻ Tào Tháo có một người bạn học rất thân, đó là Hứa Du. Hai người chia sẻ với nhau đồ ăn, đồ chơi. Tào Tháo lúc nhỏ có tên là A Man. Hứa Du thường gọi Tào Tháo bằng tên này. Hai người hay nói đến chí hướng của mình. Hứa Du nói sau này muốn trở thành Thái thú, còn Tào Tháo mơ ước trở thành Tể Tướng. Về sau Tào Tháo làm Tể tướng còn Hứa Du làm mưu sĩ của Tào Tháo.

          Có một lần, Tào Tháo bàn chuyện quan trọng, tham gia hội nghị toàn những thủ hạ thân tín của Tào Tháo, bầu không khí lúc đó rất nghiêm túc. Đang lúc hội nghị bế tắc, Hứa Du đi đến trước mặt Tào Tháo, vỗ vào tay của Tào Tháo mà nói: A Man, sao anh ngốc nghếch thế… Tất cả mọi người trong phòng lặng đi, nhiều người lộ vẻ mặt bất bình. Nhưng Tào Tháo lại cười ha hả rất to, không tỏ ra chút nào là bực bội… 

          Mưu sĩ Trình Dục đến gặp và nói với Tào Tháo: Hứa Du chỉ là một người bạn học thuở nhỏ của ngài, việc vừa rồi thực ra là làm nhục Tể tướng. Ngài sao không trừng phạt hắn? Lúc đó Tào Tháo nói với Trình Dục: Hứa Du là người bạn học tốt của ta hồi nhỏ, lại là ân nhân cứu ta hai lần trong đời… Ta sao có thể vì hắn gọi tên của ta thời nhỏ mà trị tội hắn chứ? Sau vài lần khuyên can không được, Trình Dục cáo từ. Hứa Chử, Trương Liêu cùng nhiều võ tướng khác cũng gặp, đề nghị Tào Tháo trị tội Hứa Du nhưng Tào Tháo đều chối từ…

Chuyện tưởng dừng lại ở đó, nhưng cái kết chuyện Tào Tháo – Hứa Du lại “có hậu” như sau: Năm đó, đất Hứa Đô đại hạn, lương thực thiếu hụt. Tào Tháo hỏi Hứa Du phải làm gì? Hứa Du nói: Nhân dân không có lương thực để ăn; nhưng các quan phủ, quý tộc lại lấy lương thực để nấu rượu, thật lãng phí. Tào Tháo lập tức truyền lệnh toàn thành từ nay cấm uống rượu, người trái lệnh sẽ bị xử trảm. Tào Tháo sai Hứa Chử, Trương Liêu cùng các võ tướng đi tuần, gặp người uống rượu cứ xử theo chính pháp.

Tối hôm đó, Tào Tháo lặng lẽ đón Hứa Du vào tướng phủ uống rượu. Tháo nói người khác không được uống, nhưng bạn học là ngoại lệ. Hứa Du gật đầu: “Được, A Man…”. Rồi hai người chén thù, chén tạc cho đến say. Hứa Du mơ mơ màng màng rời tướng phủ. Đêm khuya, ánh trăng mờ ảo. Hứa Du đang bước thấp, bước cao trên đường về nhà thì có tiếng vó ngựa dồn dập; Hứa Chử phụng mệnh Tể tướng đi tuần đêm. Gặp Hứa Du, Hứa Chử sai lính bắt trói lại. Khi đó, Hứa Du nói mình cùng A Man uống rượu thì làm gì có tội? Hứa Chử vung đại đao, Hứa tiên sinh như chiếc lá mùa thu rụng trên mặt đất.

Đám tang Hứa Du được tổ chức vào một ngày đẹp trời. Dân chúng toàn thành kéo đến xem người vốn được khen là bạn học tuyệt đỉnh thông minh của Tể tướng. Kèn đám vang lên thống thiết, một giọng cảm động của phường bát âm cất lên khúc hát tư vãn. Tào Tể tướng khóc bạn rất bi thương, ngất đi mấy lần. Những người đi bên cạnh thấy miệng ngài mấp máy. Họ lắng nghe được câu ngài nói đi, nói lại: “Từ nay còn ai gọi ta là A Man nữa!”. 

       Tào Tháo được tả hữu dìu đến bên linh cữu, văn võ các quan cùng tiến theo; đi cuối là quan chủ bạ Dương Tu. Dương Tu vỗ vỗ vào quan tài Hứa Du than rằng: “ANH LÀ MỘT NGƯỜI TUYỆT ĐỈNH THÔNG MINH, CŨNG LÀ NGƯỜI NGU XUẨN NHẤT ĐÓ!”. Dương Tu còn nói thêm: Lời của Tể tướng nói, anh đã nghe thấy chưa? Nói xong, Dương Tu chắp tay sau lưng, lắc đầu đi ra…

TẢN MẠN VỀ TÌNH YÊU!

(hình minh họa) 

Nói đến tình yêu lứa đôi, giới trẻ rất thích. Học giả Thích Chân Quang cho rằng: Tình yêu nam nữ mãnh liệt là thứ tình cảm tiêu biểu của con người. Chính vì quá mãnh liệt nên cũng ích kỷ nhất. Ai cũng nghĩ tình yêu đem lại hạnh phúc… Xưa nay, bao thơ văn, nhạc, họa, sáng tác nghệ thuật hầu như dành để ca ngợi tình yêu nam nữ. Nhưng khi tình yêu tan vỡ thì người ta vô cùng đau khổ. Sao vậy? Vì bản chất của tình yêu là ích kỷ, đương nhiên sẽ gây đau khổ cho con người.

Schopenhauer (triết gia Đức) có nói: “Chỉ có những triết gia mới có thể sống hạnh phúc trong hôn nhân; chỉ tiếc là một triết gia thực sự lại không chịu lấy vợ”. Cuộc sống gia đình rất phức tạp, vợ chồng luôn đòi hỏi dành cho nhau sự chăm sóc đặc biệt. Do đó, phần lớn con người không đáp ứng nổi. Chỉ có người rất thông minh, rất đạo đức mới đáp ứng được yêu cầu này. Người vừa rất thông minh lại vừa rất đạo đức chính là triết gia… 

Thường nam nữ gặp nhau, nảy sinh tình cảm, rồi thích nhau chứ không thật sự có tình yêu. Tình yêu đích thực rất mạnh, nó đòi hỏi sự ứng xử khéo léo, sự hy sinh cho nhau để được bền vững dài lâu. Sự ích kỷ trong tình yêu rất dữ dội, nó bộc lộ rõ nhất lúc ghen tuông. Khi ghen, người ta có thể làm tất cả như đánh, giết, tạt acic… Vì thế, để sống êm ấm, hạnh phúc trong gia đình thì chỉ những triết gia thông minh và đạo đức mới làm nổi. 

Tuổi thanh xuân, sống bản năng, tuổi trẻ thường sôi nổi, bồng bột. Người ta cứ tưởng tình yêu sẽ đem lại hạnh phúc nên tìm đến với nhau và hy vọng sẽ tràn trề hạnh phúc. Nhưng khi đã trở thành vợ chồng thì hạnh phúc đâu chẳng thấy, bất hạnh ngày càng nhiều thêm… (Phải thế chăng mà có nhà thơ đã viết: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”).

Tình yêu, hôn nhân làm tăng dần sự ích kỷ trong con người. Và chính sự ích kỷ đã làm những lứa đôi đau khổ. Muốn có hạnh phúc, những lứa đôi cần tìm một mục đích chung cao cả để hướng tới. Đó có thể là sự giải thoát khổ đau tạm thời trong cõi nhân gian nhiều trầm luân, khổ ải này…!!!

CHUYỆN TÌNH CỦA NGƯỜI ĐẸP

(hình minh họa) 

Đó là người phụ nữ có vóc dáng mảnh mai và đường nét thon thả được nhiều người đàn ông theo đuổi. Chị là người phụ nữ đẹp theo lối cổ điển, nề nếp và kín đáo.

Chị không dùng vẻ đẹp kiều diễm để khoe khoang hay lẳng lơ lòe bịp, cám dỗ đám đàn ông ngầm tìm kiếm niềm vui. Chị là người phụ nữ giàu lòng tự trọng và rất thận trọng. Tuy vậy, chị không phải là cô tiên mà rất đàn bà, một người đàn bà phàm trần, vì thế cũng cần tình yêu.

Vào năm 20 tuổi, lần đầu chị hẹn hò với một người đàn ông. Trong công viên vắng lặng, hai người rầm rì tâm sự. Người đàn ông đòi ôm chị. Chị nói không.

Người đàn ông buồn bực nói: cô thì đẹp thật, nhưng quá phong kiến. Nói xong anh ta bỏ đi. Chị rất khó xử!

Năm 22 tuổi, chị hẹn hò với một người đàn ông khác. Bên bờ sông yên tĩnh… Người đàn ông đòi ôm hôn chị.

Chị nói không thể được, chị né tránh, làm người đàn ông không thỏa nguyện. Người đàn ông bực tức nói cô xinh đẹp nhưng quá cũ kỹ… rồi bỏ đi. Chị rất đau khổ!

Năm 24 tuổi, chị hẹn hò lần thứ ba. Dưới hàng liễu thướt tha, hai người rầm rì tâm sự. Người đàn ông đòi ôm hôn chị và còn đòi nhiều hơn thế… Nhưng chị nói không thể, kiên quyết chối từ…

Người này cũng buồn bực nói cô xinh đẹp nhưng chẳng thoáng chút nào. Có lẽ cô là gái trinh cuối cùng của thể kỷ này. Nói một hồi cho bõ tức rồi bỏ đi. Chị rất lo sợ!

Năm 26 tuổi, chị lại có một cuộc hẹn hò với một người đàn ông khác. Dưới ánh trăng êm đềm, hai người rì rầm tâm sự. Chỉ mới một tối tiếp xúc, anh ta đã vội vàng ôm hôn chị và làm cái chuyện không cần giải thích…

Sau chuyện xẩy ra, chị nói với người đàn ông: “Em đã trao cho anh tất cả, sau này nhất định anh phải yêu em thật nhiều”.

Lúc đó anh ta nói: “Em cái gì cũng tốt, nhưng lại quá dễ dãi. Anh dễ dàng chiếm được em, có thể thấy em chẳng phải là người nghiêm túc trong cuộc sống. Em đẹp, trước đây hẳn có nhiều đàn ông theo đuổi, chắc em đã làm chuyện đó với họ”.

Anh ta nói thêm: “Em thật đẹp nhưng sao nhiều tuổi thế vẫn chưa có người yêu, chưa lấy chồng?”. Người đàn ông này còn nói nữa, nói nhiều điều nữa… “Đồ mất dạy”. Chị thẳng tay giáng cho anh ta một cái tát, rồi đau đớn hét lên: “Không…”.

(Đặng Dược Hoa)

“MÙI VỊ” CỦA CHIẾN TRANH

Đêm đó, đơn vị An ém quân tại một cánh rừng thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới Việt Nam – Căm-Pu-Chia. Gần một ngày hành quân bộ qua bao thôn ấp đến chập tối thì tới địa điểm dừng chân. Rừng ở đây cây cối còn khá rậm rạp.

An nhập ngũ gần được một năm. Anh đã qua huấn luyện, sản xuất, nhưng tham chiến thì chưa. Đây là trận chiến đầu tiên mà An tham gia trong cuộc đời binh nghiệp của mình. 

Nằm trên tấm ni lông trải dưới một gốc cây, An miên man nghĩ đến mẹ, đến gia đình, quê hương, đến cuộc đời và cả về cái chết có thể xẩy ra với anh, đồng đội trong trận đánh ngày mai. Song do ban ngày hành quân mệt mỏi nên An cũng nhanh chóng chìm vào giấc ngủ giữa đất rừng biên giới phương Nam…

Vào lúc hơn 4 giờ sáng, anh Hải (đại đội trưởng đại đội 2) đánh thức An và anh Bái dậy. Theo lệnh, bộ đội khẩn trương thu xếp vũ khí, quân trang cá nhân và lặng lẽ tiến sát mép rừng. Phía trước cách vị trí An ngồi khoảng 15-20 mét là cánh đồng bằng phẳng, lác đác nổi lên vài mô đất cao bên trên thấp thoáng những cây xanh.

An và anh Bái là hai lính thông tin vô tuyến của tiểu đoàn cử xuống đi cùng đại đội 2, có nhiệm vụ giữ liên lạc với cấp trên trong quá trình tác chiến. Là lính mới, An được bố trí đi số 2, với nhiệm vụ bảo vệ số 1 (người đeo máy PR-C25 loại 2W của Mỹ) và sẵn sàng thay thế khi cần… An mang súng AK, đeo ba lô chứa quần áo, lương khô, pin dự trữ cho máy và đồ dùng cá nhân của hai người…

Trong lúc chờ đợi giờ “G” (là giờ hành động) An ngồi bên cạnh anh Bái và anh Hải đại đội trưởng. Anh Bái nói nhỏ, khi có lệnh xung phong, anh chạy trước em bám sát phía sau nhé. An đáp: vâng!

Khoảng 5 giờ sáng, bỗng vang lên những loạt đạn pháo bắn cấp tập xuống các vị trí quân Khơ me đỏ đóng chốt. Sau đó một loạt tiếng nổ đinh tai nhức óc của hàng chục quả mìn Cley-mo được kích nổ, thổi bay mọi vật cản, kể cả những quả mìn mà bọn lính Pôn-pốt chôn dọc biên giới nhằm ngăn bước tiến của bộ đội ta. Sau loạt tiếng nổ dọn đường đó, bộ binh được lệnh tấn công – cận chiến với lính Khơ me.

Anh Bái và An bám sát anh Hải chạy lên phía trước. Tiếng nổ của các loại súng, lựu đạn, mìn… vang lên chát chúa. Đạn bay chiu chíu quanh người, pháo ùng oàng gầm rít trên không trung. Tất cả cộng hưởng tạo thành thứ âm thanh hỗn tạp, vang động, phá tan sự yên tĩnh của một vùng biên giới Tây Nam.

Cố gắng bám sát anh Bái, An vừa chạy vừa sợ… Chạy được mấy trăm mét thì An gặp tình huống đặc biệt. Một tổ gồm ba chiến sĩ đang khiêng khẩu đại liên vận động lên phía trước bị đạn pháo địch bắn hất văng ba người cùng khẩu súng xuống hố bom sâu chừng hơn mét, bùn, nước lầy lội. Đúng lúc An, anh Bái, anh Hải chạy tới. Anh Bái bảo An: “Em xuống băng bó cho các anh ấy đi”. Nói xong anh cùng anh Hải chạy lên phía trước. An nhảy xuống hố bom, dựng khẩu AK cạnh hố, gắng sức kéo khẩu đại liên đang đè lên người một đồng đội và lấy băng cá nhân ra băng cho anh này. Mặc dù đã được học về băng bó cho người bị thương trong thời kỳ huấn luyện. Nhưng tay An vẫn cứ run run, lúng ta lúng túng khi băng cho người đồng đội dính phải vết thương ở đầu, máu chảy rất nhiều. Hai bàn tay An thấm đẫm máu đồng đội. Giữa lúc các vòng băng trắng cứ vuột ra trong tay An thì anh Tặng, y tá của đại đội cùng mấy cậu lính vận tải từ phía sau lên tới nơi. An bàn giao cho họ, nhảy lên khỏi hố bom, chạy nhanh về phía trước…

Trận đánh diễn ra đến gần trưa thì bộ đội ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Trước lực lượng quân đội Việt Nam mạnh hơn bọn lính Pôn-pốt bị đánh bật về sâu trong đất Căm-pu-chia. Bữa ăn trưa diễn ra ngay trên mảnh đất còn khét nồng mùi thuốc súng và cả mùi tanh của máu. Nhận nắm cơm từ tay anh nuôi đưa cho, rất đói, nhưng An loay hoay mãi không biết làm cách nào để ăn được. Vì hai bàn tay An lúc đó vẫn còn sẫm màu máu của đồng đội… An tìm nước rửa tay, song tìm đâu ra nước ở chốn đồng không, mông quạnh này.

Thấy vậy, anh Bái bảo An dùng lá lót tay rồi cầm cơm ăn đại đi. Gặp tình cảnh như vậy, An chẳng biết làm sao… Đành làm theo lời người đồng đội vốn là một cựu binh thời chống Mỹ. Nhưng do tay còn dính đầy máu, rau canh chẳng có, cổ họng đang khát khô… nên dù rất cố gắng An cũng chỉ nhai, nuốt được vài miếng cơm nắm. An lặng lẽ tìm chỗ khuất, vất đi nắm cơm là khẩu phần bữa trưa của mình!

Chiến tranh là thế này sao? An đã đọc một số sách báo viết về chiến tranh, về hình ảnh những anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Với họ, gian khổ, hy sinh, máu, nước mắt và hoa (được tặng ngày chiến thắng), đủ cả… Nhưng đến hôm nay, khi chính mình là người lính xung trận, An mới cảm nhận được “mùi vị” thật sự của chiến tranh là thế nào…!!!

Hà Nội, ngày 30/9/2012

ĐẠO LÀM… CHA

Chúng ta vẫn nghe đâu đó câu này: “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/Một lòng thờ mẹ, kính cha/Cho tròn chữ HIẾU mới là ĐẠO CON”

Nhiều người biết, đây là một trong những bài học luân lý xưa, dạy con người chữ HIẾU. Nhưng ngược lại, trong mấy câu này ẩn chứa cả đạo làm cha, làm mẹ của văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam nữa.

Trong gia đình hạt nhân (một vợ một chồng và con cái) thì người đàn ông cùng lúc có hai vị trí, hai vai trò – chức năng: làm chồng và làm cha.

Để thực hiện tốt hai chức năng này thật không dễ…  Mỗi người đàn ông, tuy không nói ra nhưng luôn thấy áp lực, mệt mỏi… Với tôi – điều này, cũng không ngoại lệ. Sau đây chỉ là một trong muôn vàn “áp lực” mà cuộc sống đã “dành” cho tôi.

Có một lần, độ hơn mười năm về trước, con trai út của tôi nói ra câu này: “Sao bố mẹ không sinh con sớm (?), sinh con muộn sau này bố mẹ về hưu thì ai nuôi con ăn học đại học”.

Hơn mười tuổi, nhưng thằng bé thuộc diện “cả nghĩ”, hay lo xa đã nói ra cái điều mà người làm cha như tôi cảm thấy xót xa, ái ngại…

Bấy giờ tôi đã trấn an con mình bằng câu: “Con cứ yên tâm, lúc đó dù về hưu rồi bố cũng sẽ tìm việc làm để có tiền nuôi con học xong đại học”.

Miệng nói mạnh nhưng trong lòng thấy lo, không biết rồi mình có làm được theo lời mình nói không.

Ơn giời, nhờ Phật gia ân, cảm ơn TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI – nơi tôi gắn bó gần như cả cuộc đời viên chức đã giúp tôi thực hiện được lời hứa của mình.

Nay trai út của tôi đã học xong, ra trường và bắt đầu cuộc mưu sinh, phát triển như bao người đàn ông khác trên cõi nhân gian này… 

[P/S: Vậy là căn bản tôi đã hoàn thành “sứ mệnh” làm cha… XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN TẤT CẢ – THANKS VERY MUCH !!!]

“CHÚT XÍU” VỀ TÊN TÔI

Sinh ra ở đời, ai cũng được cha mẹ, ông bà (ai đó) đặt cho một/những cái tên. Thời xưa, những gia đình có người học chữ Nho hay chọn đặt cho con cháu mình, người thân những cái tên như: Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Tiến Đạt, Trần Đại Nghĩa, Phạm Quang Minh, Nguyễn Bách Khoa, v.v…

Thời nay, thế hệ trẻ thường gắn thêm vào tên mình một biệt danh kiểu như: Agela Phương Trinh, Sơn Tùng MTP, Trang Moon, Sobin Hoàng Sơn… Những tên này khi đọc lên nghe lạ tai, còn nhìn vào thì lạ mắt, nhưng ý nghĩa ít ai biết.

Chỉ chủ nhân, người thân hoặc bạn bè của họ mới giải thích được những tên gọi đó…

Đấy là nói về “thiên hạ”, còn bây giờ xin nói về tên tôi. Bùi Hồng Vạn là cái tên khai sinh của tôi. Tôi đã, đang và sẽ mang cái tên này từ khi sinh ra cho đến khi trở về với cát bụi.

Theo xu thế chung, tôi cũng tự đặt cho mình những cái tên khác theo kiểu bút danh, biệt danh, nói theo ngôn ngữ thời @) – nicknam là: Bùi Tâm Văn, Bùi Hà Phúc, Bùi Lê Khoa, Bùi David, Kevin Bùi…

Mỗi cái tên mang một ý nghĩa mà chỉ tôi mới hiểu đầy đủ, trọn vẹn. Người ngoài có thể hiểu đúng hoặc hiểu theo ý nghĩa khác. Tốt thôi! Đời thế càng vui!

Trong những tên trên tôi giải thích chút xíu về cái tên Bùi Hồng Vạn. Thực sự đến giờ tôi vẫn chưa hiểu hết về cái tên này. Bố mẹ thì đã mất, còn anh chị không ai biết… Khi mẹ tôi còn sống, tôi dò hỏi thì cụ có nói: chữ Vạn bắt nguồn từ chữ đầu tên một nhân vật trong truyện kiếm hiệp Trung Hoa, đó là Vạn Nhân Địch.

Chả là thời trẻ, mẹ tôi mê truyện kiếm hiệp Tàu, bà thích nhân vật này. Vì thế khi sinh tôi bà lấy chữ “Vạn” đặt tên cho tôi. Chỉ đơn giản vậy thôi. Nhưng xét về góc nhìn văn hóa thì đây là hiện tượng “tiếp biến văn hóa”. Đó là chuyện của Mẹ tôi, chuyện đó nay đã thành dĩ vãng…

Còn với tôi, cái tên Bùi Hồng Vạn theo “cách nhìn” thời nay có vẻ như không hay/có sức hút cho lắm. Nhưng tôi vẫn phải ngàn vạn lần cảm ơn Mẹ tôi, vì bà đã sinh ra, nuôi dưỡng tôi nên người. Thêm nữa bà đã đặt cho con trai mình một cái tên thuộc diện “độc nhất vô nhị” (từ góc độ truy cập mạng).

Tôi rất vui/thích, vì mỗi lần dùng Google để search mấy chữ “Bùi Hồng Vạn” thì chỉ có những thông tin liên quan đến tôi hiện lên trên màn hình. Điều đó thật thú vị. Vì thế, một lần nữa con xin cảm ơn Mẹ đã đặt cho con cái tên tuyệt vời này…!!!

ĐÔI LỜI TRI ÂN BẠN ĐỌC!

Tôi rất nhớ bài đầu tiên tôi post lên trang blog “buitamvan.blogspot.com” là bài “Một ngày buồn!”. Gọi là bài kỳ thực đấy chỉ là mấy dòng chia sẻ về tâm trạng của tôi lúc bấy giờ. Đó là ngày 17-10-2019. Thấm thoắt đã hơn ba tuần rồi, chính xác là 23 ngày.

Tôi đã chia sẻ nhiều thứ trên trang bolog “buitamvan.blogspot.com”. Trong khoảng thời gian đó tôi nhận được sự quan tâm, tình thương mến từ rất nhiều người (gồm bạn bè, đồng nghiệp, sinh viên, cả người thân và những người tôi chưa từng gặp mặt). Những bài viết, chia sẻ của tôi còn nhiều hạn chế, chưa có mấy giá trị, ý nghĩa; nhưng các bạn vẫn theo sát, ủng hộ tôi. Điều đó khiến tôi rất cảm động!

Cũng từ ngày hôm nay (8-11-2019), tôi sẽ không post bài lên trang blog “buitamvan.blogspot.com” nữa, thay vào đó tôi sẽ chia sẻ những nghĩ suy, cảm xúc, kiến thức và cả những câu chuyện đời… trên trang blog mới là “buitamvan.com”.

Khi trở lại “sân chơi” blog, theo các bạn trẻ tư vấn, tôi tạo lập blog mới trên nền tảng WordPress. Blog tạo dựng nơi đây có điều kiện vận hành chuyên nghiệp, ổn định và lâu dài hơn so với trên nền tảng Blogger (của Google).

Trong hai ngày qua, tự mình vừa học vừa làm, thêm sự trợ giúp của con trai út – Bùi Quốc Hưng (cựu sinh viên Học viện Bưu chính viễn thông Việt Nam), tôi cũng tạo lập được trang blog mới với tên miền buitamvan.com trên WordPress.

Như vậy giống như trước đi xe đạp, nay tôi “tậu” được xe máy và “phi” trên đường cho phù hợp với nhu cầu cuộc sống thời cách mạng công nghiệp 4.0.

Vì lẽ đó, tôi post bài này để cảm ơn tất cả những ai đã ủng hộ tôi trong thời gian qua, đồng thời thông báo tôi “chuyển nhà”. Mong mọi người tiếp tục ủng hộ BÙI TÂM VĂN trong thời gian tới…

Trân trọng…!!!

Hà Nội, 18h00 ngày 8/11/2019
BÙI TÂM VĂN = BÙI HỒNG VẠN

BÃI BIỂN NHẬT LỆ (QUẢNG BÌNH)

Chuyến khảo sát thực tế kết hợp với du lịch nghỉ mát hè năm 2014 do Khoa LLCT (Trường Đại học Thương mại) tổ chức đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về đất và người Quảng Bình.

Ở tầm quốc gia, quốc tế thì hai danh thắng nổi tiếng là Phong Nha – Kẻ Bàng và động Thiên Đường (gần đây thêm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) là những điểm thu hút khách du lịch bốn phương. Nhưng ở mức khiêm tốn hơn có thể kể đến bãi biển Nhật Lệ cùng nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử khác trên đất Quảng Bình không kém phần hấp dẫn đối với du khách.

Bài viết này nói về một trong những danh thắng, di tích nói trên của Quảng Bình, đó là bãi biển Nhật Lệ với những nét đặc sắc riêng của nó.

1. Về cái tên Nhật Lệ (những giải thích về tên gọi)

Nhật Lệ là tên gọi của một vùng đất và tên một con sông chảy qua nằm trên đất Quảng Bình. Bãi biển Nhật Lệ nằm cạnh cửa sông Nhật Lệ, cách trung tâm thành phố khoảng 3 km về phía Đông Bắc.

Hai tiếng Nhật Lệ dễ gợi lên trong tâm tưởng du khách câu hỏi tại sao sông, bãi biển nơi đây mang tên Nhật Lệ? Người dân địa phương có sự giải thích khác nhau về nguồn gốc của hai chữ Nhật Lệ. Có người nói cái tên “Nhật Lệ” gắn với sự kiện vương phi Mỵ Ê của vua Chiêm Thành đã trầm mình trên dòng sông để thủ tiết sau khi vua Lý Thái Tông chinh phạt Chiêm Thành năm 1044.

Về sau, vào năm 1306, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông muốn yên bờ cõi phương Nam đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành (Chế Mân) làm hoàng hậu[1].

Cuộc hôn nhân chính trị này đã đem về cho nước Đại Việt hai châu Ô, Lý[2]. Nhưng với Huyền Trân thì lại buồn tủi cho thân phận của mình, nàng đã khóc rất nhiều. Không biết bao nhiêu nước mắt của công chúa Huyền Trân đã âm thầm rơi xuống cửa sông nơi mảnh đất này… Cảm thương với hai bậc kiều nữ của hai đất nước đã lặng lẽ rơi những giọt lệ buồn mà người xưa đã gọi tên dòng sông chảy qua đất Quảng Bình là Nhật Lệ.

Người khác lại bảo rằng thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786), khi sông Gianh trở thành lằn ranh của hai bên chiến tuyến thì những lưu dân ở bờ Nam vẫn thường hướng về bờ Bắc, nhớ quê hương mà dòng lệ tuôn rơi. Lâu dần nước mắt chảy thành sông rồi từ sông chảy ra biển mà thành cái tên Nhật Lệ.

Có người nói, theo từ Hán-Việt, “nhật” là ngày, “lệ” là điều được lặp đi lặp lại thành thói quen. “Nhật Lệ” là ngày nào cũng có dòng nước chảy giống nhau, nên gọi là Nhật Lệ… Những cách giải thích trên đây thực hư thế nào, thuyết nào đúng, thuyết nào sai thời nay chúng ta rất khó khẳng định! Dẫu sao cái tên Nhật Lệ vẫn là cái tên đẹp, gây cảm hứng cho du khách đến nơi đây.

2. Bãi biển Nhật Lệ – đẹp, thơ mộng, lãng mạn

Thiên nhiên nơi đây đã ưu ái ban tặng cho Quảng Bình một bãi biển – bãi tắm tuyệt đẹp với nền cát trắng phau và dòng nước biển trong xanh… Đặc biệt, trên bãi biển Nhật Lệ còn có một di chỉ văn hoá khảo cổ học thời đá mới (Bàu Tró) nổi tiếng của cả nước và một hồ nước ngọt xanh trong kỳ lạ.

2.1. Trước hết xin nói về di chỉ khảo cổ học Bàu Tró. Vào mùa hè năm 1923, hai người Pháp (thuộc trường Viễn đông Bác cổ) đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ Bàu Tró. Cuối mùa hè năm đó, nhà địa chất kiêm khảo cổ học Etinen Patte đã tổ chức khai quật và công bố những hiện vật thời tiền sử ở đây.

Những hiện vật này gồm nhiều rìu đá, mảnh tước, hai hòn ghè bằng thạch anh, bàn nghiền hạt mảnh gốm vỡ… Về sau, mùa xuân năm 1980, trường đại học Tổng hợp Huế đã tổ chức khai quật lại di chỉ Bàu Tró ở khoảng cách cách mép nước hồ lúc đó 40 mét, cao hơn mặt nước 2,3 mét và cách hố khai quật của Patte hơn 100 mét về phía Tây. Hiện vật thu được gồm có nhiều rìu, bôn đá, bàn mài, chày nghiền, mũi nhọn và vô số các mảnh gốm vỡ của các loại nồi, niêu, bình, vò…

Các nhà khảo cổ học đã lấy tên di chỉ này để đặt cho nền văn hoá hậu kỳ đá mới phân bố ở các vùng ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế là văn hoá Bàu Tró[3]. Di chỉ khảo cổ văn hoá Bàu Tró có niên đại cách ngày nay khoảng 5.000 năm lịch sử.

2.2. Còn Hồ nước ngọt nằm trong khu di tích Bàu Tró, cách biển hơn 100 mét. Có thể coi hồ nước này là một trong những hiện tượng thiên nhiên đặc biệt. Bởi dù chỉ cách biển (nước mặn) rất gần nhưng nước trong hồ lại ngọt như nước suối trên rừng. Cư dân Đồng Hới xưa thường ra hồ lấy nước về ăn và giặt quần áo cho trắng. Nước hồ chủ yếu rịn ra từ cát nên rất trong mát và có thể tẩy sạch được áo quần dính bẩn.

Đây là nguồn nước ngọt duy nhất cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân vùng này bao đời nay. Bao xung quanh hồ là những dải rừng cây phi lao xanh tươi nổi lên trên một vùng cát trắng. Gần đây do môi trường sinh thái hồ được cải thiện nên có rất nhiều đàn chim bay về cư trú trong rừng cây. Du khách sẽ cảm thấy rất thú vị khi mắc võng dưới rừng cây nằm nghe sóng biển rì rào xen lẫn tiếng chim rừng hót, kêu ríu ran…

Vào mùa hè, khi mực nước trong hồ cạn xuống khoảng một phần ba, trông hồ giống như dấu một bàn chân trái khổng lồ. Có những câu chuyện huyền thoại về hồ nước. Chẳng hạn, người ta kể rằng hồ sâu đến nỗi không có đáy.

Có người đã ném một quả bưởi xuống hồ, sau đó thấy nó nổi lên ở hồ Sen thuộc huyện… Lệ Thuỷ! Có lẽ những câu chuyện huyền thoại chỉ là để nói lên nguồn nước của hồ không bao giờ cạn, cho dù trong mùa hè nắng nóng dai dẳng hàng tháng trời… Hiện, Hồ Bàu Tró vẫn là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng cho cư dân Đồng Hới.

2.3. Nằm cạnh cửa sông Nhật Lệ, bãi biển Nhật Lệ là một trong những bãi biển thuộc diện đẹp nhất của nước ta. Nơi đây còn mang một vẻ đẹp nguyên sơ, với bãi cát trắng phau trải dài cùng làn nước biển trong xanh nhìn rõ tận đáy.

Thiên nhiên ưu ái ban tặng cho biển Nhật Lệ một khung trời huyễn hoặc với bãi cát trắng trải dài, làn nước biển trong xanh và những cây rau Muống biển hoa tím mọc tràn lan khắp bãi cát, tạo nên nét hoang sơ và lãng mạn.

Từ ngoài khơi xa từng lớp sóng bạc tiến vào bờ tựa như những chùm hoa sóng tung bọt trắng xóa… Những lúc trời xanh trong gió mát, bãi biển sạch như lớp nệm mới, nền cát mịn óng ánh được dầm nén chắc chắn, người ta có thể đạp xe hay chơi các trò chơi thể thao trên đó…

Bãi tắm nơi đây thoai thoải sâu và rất an toàn, gió lồng lộng thổi mát hòa cùng tiếng sóng vỗ rì rào tạo nên một bản giao hưởng của tự nhiên giới với nhiều cung bậc du dương. Dạo chơi trên bãi cát trắng mịn và sạch sẽ, cảm giác thú vị khi từng đợt sóng dạt vào bờ, liếm vào chân rồi nhẹ nhàng rút đi sau khi đã xóa sạch những vết hằn một cách tài tình…

Bãi biển Nhật Lệ náo nhiệt từ khi bình minh ló dạng đến lúc mặt trời đứng bóng, với những tiếng cười đùa cùng những hoạt động sôi nổi của cả dân địa phương lẫn du khách. Đa số dân Đồng Hới thích ra biển khi kết thúc ngày làm việc.

Họ đến đây để tắm biển, chơi thể thao, ăn nhậu hay chỉ đơn giản là gặp bạn bè “bù khú” bên cốc cà phê…

Biển Nhật Lệ có những khoảnh khắc thật lãng mạn lúc hoàng hôn. Đây là thời điểm lắng đọng cho những cuộc hẹn hò tình tứ của những đôi trai gái yêu nhau… Khi màn đêm buông xuống, cả một vùng cửa biển với đủ loại tàu thuyền giăng đèn chấp chới, sáng rực như một thành phố thần tiên. Lúc đó du khách ngỡ như mình được nhìn thấy hàng ngàn vì sao đang tỏa sáng lung linh… Tắm biển hay ngắm biển Nhật Lệ đem lại cho con người niềm vui, hạnh phúc vô bờ bến!

3. Ẩm thực ở bãi biển Nhật Lệ

Được thiên nhiên – biển trời ưu ái, biển Nhật Lệ có đầy đủ các loại hải sản phong phú, tươi ngon, là những sản phẩm ẩm thực thượng hạng. Thời điểm đẹp nhất để đến với biển Nhật Lệ là từ tháng 5 đến tháng 8.

Du khách đến đây, bên cạnh tắm và ngắm biển còn có dịp thưởng thức nhiều món hải sản tươi ngon của Quảng Bình như Hàu, Nghêu, sò Huyết, sò Lụa, sò Điệp, Ghẹ, tôm Hùm, Mực, cá Mú, cá Hồ, cá Chim, cá Bả trầu, cá Hồng, cá Chình, cá Hanh… được các nhà hàng dọc con đường ven biển chế biến rất chuyên nghiệp.

Buổi chiều tối, du khách có thể ghé vào những nhà hàng thoáng mát nằm sát bờ biển Nhật Lệ để thưởng thức những món hải sản hấp dẫn, có hương vị đậm đà riêng. Hấp và nướng là hai cách nấu chủ đạo.

Dưới bàn tay khéo léo của người dân Quảng Bình, du khách thoải mái thưởng thức những món hải sản dù đã nấu chín vẫn giữ được nguyên mùi vị đặc thù, tươi rói, khi ăn thì béo và ngọt. Các món sò huyết, hàu khi hấp lên rất ngon, cá mú, cá hanh, cá chim nướng thơm ngon và béo ngậy, còn mực thì giòn và ngọt…

Trong các món hải sản ở đây, ấn tượng nhất phải kể đến là Đẻn (rắn) biển, một món ăn độc đáo đã được nhắc đến trong thơ ca: “Cụng đầu tí chút mùi men/ Lai rai hương Đẻn mà nên bạn tình”.

Món đẻn được chế biến theo nhiều kiểu khác nhau, nhưng được nhiều người biết đến nhất là tiết đẻn pha rượu và ram đẻn. Rượu tiết đẻn có cái vị ấm nồng và hơi chát hòa lẫn tạo nên cảm giác rất khó quên. Vị đặc trưng của món ram đẻn khó mà diễn tả bằng lời.

Cách làm ram đẻn khá đơn giản, những con đẻn được làm sạch sẽ, băm nhuyễn rồi cho gia vị vào trộn đều, sau đó cuốn lá lốt thành những chiếc ram nhỏ và cho lên chảo rán đều. Một đĩa ram đẻn nóng hổi, thơm ngon sẽ cuốn hút, khiến du khách khi đã thưởng thức rồi thì muốn ở mãi không về.

Đến với Nhật Lệ, du khách không nên bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món bánh bột lọc, được làm từ hai nguyên liệu chính là bột sắn và tôm sông. Sau khi trải qua giai đoạn xay, lọc và nhào bột khá công phu, người làm bánh sẽ có một thứ bột thơm và dẻo. Đem vắt mỏng bột sắn thành từng miếng nhỏ, rồi bỏ vào trong mỗi miếng là một con tôm sông đã được rim kỹ cùng vài sợi nấm mèo thái mỏng, gói chặt trong lá chuối sứ. Công đoạn cuối cùng là hấp bánh lên cho đến khi bánh chuyển sang màu trong suốt thì đưa ra khỏi nồi, ăn kèm với chén mắm ớt cay nồng sẽ rất tuyệt.

Ngoài những món kể trên thì bánh canh là món ăn bình dân rất nổi tiếng ở Đồng Hới. Đây là món mang hương vị thơm ngon đặc trưng của miền Trung, được chế biến khá đơn giản. Bánh canh làm từ bột gạo thơm, dẻo và trắng tinh cắt thành từng sợi mỏng.

Nguyên liệu chính để nấu món này là sườn heo và tôm tươi, loại tôm sống ở đầm, cho thịt đậm đà, không tanh. Một bí quyết nữa làm nên sức hấp dẫn của món bánh canh là chén nước mắm ớt xanh thơm, hăng hăng để ăn kèm.

Ngay trên bãi biển, du khách cũng có thể thưởng thức một số món ăn bình dân được chế biến đơn giản của những người bán hàng rong. Chỉ với một bếp than nhỏ, người bán có thể cung cấp cho du khách món nướng hay luộc đầy hấp dẫn.

Ngoài những món ẩm thực được dùng tại chỗ thì còn có những sản phẩm ẩm thực phục vụ khách du lịch mua về làm quà cho người thân, bạn bè và gia đình. Các sản phẩm ẩm thực kể trên không chỉ đơn thuần có giá trị sử dụng và phục vụ cho hoạt động du lịch, mà ở đó còn kết tinh các giá trị văn hóa truyền thống đang được người dân nơi đây lưu giữ và nâng niu, phát triển…

Khi chọn biển Nhật Lệ du khách sẽ không phải ân hận, bởi Quảng Bình trước sau vẫn là một điểm đến đẹp, nhiều chỗ để tham quan, khám phá và giải trí… Thêm điều đáng ghi nhận nữa là cư dân nơi đây hiền hòa, chất phác, thức ăn rẻ và khách không cần mặc cả…

Đây còn là quê hương của cố thi sĩ tài hoa mà mệnh bạc Hàn Mạc Tử, với những vần thơ dung dị mà đầy sức quyến rũ du khách thập phương: “Mơ khách đường xa, khách đường xa/Áo em trắng quá nhìn không ra…/Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/Ai biết tình ai có đậm đà…”

Đến Nhật Lệ lần đầu, dù chỉ lưu lại đây khoảng thời gian ngắn (hai ngày), mặc dù vẫn còn có hiện tượng chưa làm du khách vui lòng[4] nhưng với bãi biển đẹp cùng những món ẩm thực đặc sắc, nơi đây đã để lại trong tôi những ấn tượng không thể nào quyên về một vùng văn hoá miền Trung của đất nước.

Tài liệu tham khảo

1- Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư (Dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1998.

2- Mục Huyền Trân công chúa, trên http://vi.wikipedia.org/wiki.

3- Mai Kim Thành: Lung linh bãi biển Nhật Lệ (Quảng Bình), đăng trên trang http://www.aseantraveller.net.

4- Bàu Tró – Hồ xanh trên cát, trên http://donghoi.gov.vn.

5- Thông tin điện tử thành phố Đồng Hới (Quảng Bình) – http://donghoi.gov.vn.

Hà Nội, ngày 15-10-2011

TS. BÙI HỒNG VẠN

[1] – Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư (Dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1998, tr. 90.

[2] – Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Tr%C3%A2n, ở mục Huyền Trân công chúa có chú giải – Hai châu Ô, Lý thời Trần là vùng đất tính từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay.

[3] – Bàu Tró – Hồ xanh trên cát, trên http://donghoi.gov.vn.

[4] – Ở bãi biển Nhật Lệ có hiện tượng một số thiếu niên đi xin tiền du khách. Nếu cho 1-2 đứa thì những đứa khác quanh đó sẽ quây lại xin. Nếu không cho du khách sẽ phải nghe những lời nói không hay gây khó chịu, bực mình…

MỘT NGÀY VUI!

* XIN CHÀO CÁC BẠN!

* Tôi là Bùi Hồng Vạn, sinh năm 1957 (1958). Quê quán: Võng Ngoại, Võng Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.

* Bên cạnh tên khai sinh, tôi đã và đang sử dụng một số tên – nickname: Bùi Tâm Văn, Bùi Hà Phúc, Bui David, Kevin Bui, Bui Van, Bùi Lê Khoa, Văn Khoa…

Ảnh Bùi Tâm Văn

* Hiện tôi đang là giảng viên (kéo dài công tác) của Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Thương mại (TMU).

* Hôm nay là “Một ngày vui”, tôi vừa xây xong “ngôi nhà” – buitamvan.com – trở thành “công dân toàn cầu”(!)

* TÔI QUAN NIỆM RẰNG: CUỘC SỐNG CẦN ĐƯỢC CHIA SẺ. NẾU CHIA SẺ TỐT SẼ TẠO NÊN HẠNH PHÚC! Tôi hy vọng sẽ nhận được từ các bạn sự cảm thông, chia sẻ và tình cảm tốt đẹp!

TRÂN TRỌNG!

Hà Nội, 10h00′ ngày 8-11-2019

Bùi Hồng Vạn – Bùi Tâm Văn