Chuyên mục: TÂM VĂN

TÂM VĂN

Trút bớt gánh nặng trên đường Đời

Đó là lời khuyên chí tình, chí lý xuất phát từ quan điểm của Đạo Phật.

Trong cuộc sống của mỗi người có nhiều thứ do cố gắng mới đạt được, nên không dễ dàng từ bỏ. Nhưng đôi khi, chúng ta cần buông bỏ tất cả hoặc một phần những gì đạt được, nếu không chúng sẽ trở thành gánh nặng/xiềng xích trói buộc ta.

Nói dễ, làm khó. Trên thế gian số người làm được không nhiều. Nhưng chúng ta cần tĩnh tâm suy nghĩ về điều này và nếu thực hành được thì phúc báo/báu sẽ đến…

Xưa có vị hòa thượng quảy gánh thong thả rảo bước, trên đòn gánh treo một bình đầy nước đậu. Hòa thượng sơ ý trượt té, cái bình rớt xuống đất vỡ nát; nhưng hòa thượng vẫn tiếp tục bước đi như chẳng có chuyện gì xẩy ra.

Bấy giờ, có người chạy tới nói: “Thầy không biết cái bình đã rơi vỡ rồi sao?”. “Ta biết”, hòa thượng ung dung đáp, ta nghe thấy nó rơi vỡ.

“Vậy sao thầy không ngoảnh lại xem phải làm sao?”. “Bình đã vỡ, nước cũng chảy hết, anh nói xem, ta còn có thể làm gì được?”

Mẩu chuyện này muốn nói điều gì? Hẳn các bạn đều đoán ra… Vị hòa thượng trong chuyện không quan tâm đến chuyện được mất ở đời. CON NGƯỜI VỐN KHI SINH RA KHÔNG ĐEM ĐẾN BẤT CỨ THỨ GÌ. CHẾT ĐI CŨNG KHÔNG THỂ MANG THEO BẤT CỨ THỨ GÌ. TẠI SAO PHẢI KHỔ SỞ VÌ NHỮNG VẬT NGOÀI THÂN!

Đường đời giống như một chuyến đi. Nếu mọi sự được mất, thành bại đều gánh trên vai thì sẽ đi được bao xa? Chỉ có thuận theo tự nhiên, không vì ngoại vật mà vui, không vì bản thân mà buồn mới có thể ung dung đi hết con đường…!!!

Hà Nội, ngày 29/05/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

TÍNH “THỰC DỤNG” CỦA ĐẠO PHẬT

Tính thực dụng nhiều khi bị người đời lên án, nhưng thử hỏi nếu không “thực dụng” liệu con người có tồn tại đến ngày nay? Chỉ có điều, ở đời không nên quá thực dụng! Còn theo ý nghĩa nhân sinh mà xét – THỰC DỤNG CÓ GIÁ TRỊ LỚN LAO của nó. Đây cũng là quan điểm của ĐỨC PHẬT…

006

Trong cuộc đời mình, từ khi ngộ Đạo, sau đó truyền bá Đạo pháp, Đức Phật thường lảng tránh những vấn đề siêu hình:

  1. Vũ trụ trường tồn hay không trường tồn?
  2. Vũ trụ hữu hạn hay vô hạn?
  3. Linh hồn là một với thể xác hay linh hồn khác với thể xác?
  4. Đức Phật có tồn tại sau khi chết hay không?
  5. Ngài vừa tồn tại vừa không tồn tại hay Ngài vừa không tồn tại lại vừa tồn tại sau khi chết?

Đây là những vấn đề mà các đệ tử của Đức Phật quan tâm, muốn Ngài giải đáp. Người trực tiếp hỏi Đức Phật là Màlunkyaputta (Man Đồng tử). Đức Phật đã đưa ra câu trả lời của Ngài trong đoạn đối thoại dưới đây:

  • Này Man Đồng tử, ta có bao giờ nói với ông: “Hãy lại đây sống đời thánh thiện dưới bóng ta, ta sẽ giải thích những vấn đề ấy cho ông không?”
  • Bạch Thế Tôn – không.
  • Có bao giờ ông nói với ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống đời thánh thiện dưới bóng Ngài và Ngài sẽ giảng giải những vấn đề ấy cho con không?”
  • Bạch Thế Tôn – không.
  • Ngay cả bây giờ, ta cũng không nói với ông: “Hãy đến sống đời thánh thiện dưới bóng ta, ta sẽ giải thích những vấn đề ấy cho ông”. Và ông cũng không nói với ta: “Con sẽ sống đời thánh thiện dưới bóng Đức Thế Tôn và Ngài sẽ giải thích những vấn đề ấy cho con”.

Man Đồng tử à, nếu một người nào đó nói: “Tôi sẽ không sống đời thánh thiện dưới bóng Đức Thế Tôn, nếu Ngài không giải thích cho tôi những vấn đề ấy” thì y có thể chết trước khi những câu hỏi được Như Lai giải đáp

Giả thử, một người bị trúng mũi tên độc và y được đưa đến lương y cứu chữa. Lúc đó, y bảo rằng: “Ta sẽ không để rút mũi tên độc ra, nếu ta không biết ai đã bắn ta; loại cung tên nào đã bắn và dây cung, mũi tên được làm bằng gì?…”

Man Đồng tử à, người ấy sẽ chết trước khi y biết được những điều ấy. Tương tự, nếu một người nói: Ta sẽ không theo đời sống thánh thiện dưới bóng Đức Như Lai cho đến khi được Ngài giải đáp cho các câu hỏi như ông nêu trên…

Sau đó, Đức Phật đã giải thích cho Man Đồng tử, đời sống thánh thiện không phụ thuộc vào những quan niệm ấy. Dù người ta có quan niệm như thế nào về những vấn đề ấy đi nữa thì vẫn có sinh – lão – bệnh – tử – ưu – bi – khổ não…

Đức Phật nói với Man Đồng tử hãy ghi nhớ những gì Ngài đã giải thích thì coi là được giải thích, những gì Ngài không giải thích thì xem là đã không được giải thích. Những gì Ngài không giảng giải? Đó là những câu hỏi “siêu hình” mà Man Đồng tử đã hỏi Đức Phật trên đây.

Tại sao Như Lai không giảng giải những vấn đề đó? Vì Ngài cho rằng chúng không ích lợi, không có quan hệ căn bản đến đời sống thánh thiện của tâm linh, không đưa đến sự giải thoát, sự chấm dứt khổ đau… Còn những gì Ngài quan tâm giảng giải – truyền bá cho Man Đồng tử và các Phật tử là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ, đến với Niết Bàn!

Vì sao Ngài giải thích chúng? Bởi chúng ích lợi, có quan hệ căn bản đến đời sống thánh thiện của tâm linh. Chúng đưa đến sự giải thoát, sự chấtm dứt khổ đau, sự an tĩnh, sự liễu ngộ, đến Niết Bàn!

Tinh thần thực dụng trong tư tưởng, giáo lý của Đức Phật là như vậy, được Ngài cắt nghĩa rõ ràng, minh bạch và đầy sức thuyết phục…

Hà Nội, ngày 22/05/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

QUÁ BẬN…!!!

VẬY LÀ ĐÃ 20 NGÀY CHƯA VIẾT GÌ TRÊN TRANG BLOG NÀY… CUỐI NĂM HỌC, QUÁ BẬN, NHIỀU VIỆC PHẢI LO, PHẢI LÀM… THỜI GIAN THẬT “KHAN HIẾM”…

Kể từ ngày 01-05-2020 có bài đăng Blog. Từ đó đến nay (ngày 20 tháng 05 năm 2020) là tròn 20 ngày – một khoảng lặng của tâm hồn hay là một khoảng lặng của CUỘC SỐNG…

Dòng chữ ghi thời gian hôm nay, nếu viết gọn lại thì thành 20-05-20, một dãy số đặc biệt – biểu thị sự cân xứng của thời gian (20 đối xứng với 20 qua số 05). Trong khoa mỹ học, cân xứng cũng được xem là biểu hiện của cái đẹp. Vậy có thể coi hôm nay là một “ngày đẹp”…

MỘT NGÀY ĐẸP, NHƯNG KHÔNG VIẾT NỔI MỘT ĐIỀU GÌ RA HỒN…

Có nhiều nhà văn khi chia sẻ về công việc “bếp núc” của họ, đã nói: Muốn viết được thì cứ đặt bút viết đại một vài chữ/từ nào đó. Chúng sẽ gây cảm hứng, mời gọi những con chữ khác xuất hiện… Đấy là đối với những người viết chuyên nghiệp.

Mình là Nhà Giáo, chỉ quan tâm đến việc nói, dạy học. Cũng viết, nhưng hầu hết viết về kiến thức. Món này thường khô khan, lại viết theo văn phong khoa học nên chẳng mấy người đọc. Nghĩ thấy có phần thiệt thòi… Song le, ngẫm lại, đều do Ông Trời cả (“Bắt phong trần, phải phong trần/Cho thanh cao mới được phần thanh cao”)…

Từ sáng đến giờ, mình làm được khối việc… Nhìn hình dưới, thấy người trong ảnh có vẻ NHÀN HẠ… Nhưng, “NHÌN VẬY MÀ KHÔNG PHẢI VẬY”…

Trưa nay, khi nằm nghỉ, vào facebook, bắt gặp những ảnh về Sen của một bạn nào đó. Thấy đẹp xin về gây trồng tại “vườn nhà” để tạo nguồn cảm hứng…

Trên là cộng đồng SEN, còn dưới, chỉ MỘT BÔNG… MỘT CỘNG ĐỒNG HAY MỘT BÔNG ĐỀU RẤT ĐẸP (Trong đầm gì đẹp bằng SEN/Lá xanh bông trắng, lại chen nhụy VÀNG…)…

Hà Nội, ngày 20-05-2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Ngẫm về “TAM QUỐC DIỄN NGHĨA”

TAM QUỐC DIỄN NGHĨA được xem là một trong “Tứ đại kỳ thư” của Trung Quốc (Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký và Hồng lâu mộng) do La Quán Trung tạo/chế tác nên.

La Quán Trung là một văn bút kỳ tài của Trung Quốc. Sách ông viết được xuất/tái bản và được dựng thành phim, đưa lên sân khấu nhiều lần. Văn phẩm này đã làm mê đắm bao thế hệ độc giả ở các quốc gia trong vùng chịu ảnh hưởng văn hóa Hán khi đọc/xem nó. Ở Việt Nam, khi nói đến Tào Tháo, Quan Vân Trường, Trương Phi, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Khổng Minh… thì nhiều người biết.

Tôi đọc Tam quốc diễn nghĩa từ tuổi thiếu niên, qua thanh niên… Đến nay đã có tuổi, mỗi khi rảnh rỗi vẫn đọc lại danh tác này; thú thực nó đem đến cho tôi nhiều thú vị…

Tuy vậy, gần đây khi xem bộ phim (tân) Tam quốc diễn nghĩa trên kênh Youtube thì không còn thích thú như hồi trẻ nữa. Có lẽ, thời nay có quá nhiều món ăn tinh thần (phim ảnh, sách vở, chương trình giải trí trên truyền hình, mạng xã hội) đã làm bão hòa nhu cầu tinh thần, thậm chí làm đầu óc tôi mệt mỏi.

Nhưng điều khiến tôi giảm hứng thú đi nhiều khi xem/đọc lại Tam quốc diễn nghĩa là ở sự hư cấu (“phịa”, “bịa” – theo cách nói của thầy tôi – GS. Trần Quốc Vượng) trong tác phẩm này. Những nhân vật được mọi người hằng yêu thích (Quan Vân Trường, Khổng Minh, Lưu Bị…) hoặc bị người đời ghét bỏ (như Tào Tháo, Chu Du…) rốt cục không phải thế hoặc không hẳn là như thế… Không tin, bạn cứ thử coi trang “Lịch sử trung Quốc” trên Youtube (https://www.youtube.com/watch?v=YnXd-FZ1upk) sẽ rõ…

Làm ra chuyện này là “Idol” La Quán Trung. Nhiều người (trong đó có tôi) bị ông ta “tà lưa” mà không biết. Vô minh đến thế là cùng (!!!)…

Hà Nội, ngày 20/04/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

“Cái giá” phải trả của Tự do cá nhân trong đại dịch Covid-19

Trong những ngày ở nhà theo “lệnh” của Chính phủ, khi theo dõi bảng tin về tình hình dịch bệnh Covid-19 càng giúp tôi có thêm cơ sở để tin văn hóa phương Đông (mặc dù dưới con mắt của nhiều người phương Tây bị xem là bảo thủ, lạc hậu) có những giá trị hay, không thể chối cãi!

Một nét hay của văn hóa phương Đông là đặt cộng đồng lên trên cá nhân. Bất kể anh là ai, anh đều sống trong cộng đồng, tuân thủ các luật lệ, khuôn mẫu đạo đức mà cộng đồng đặt ra. Trong khi đó, phương Tây nghiêng về cá nhân, coi/tôn trọng cá nhân, đặt cá nhân lên trên tập thể.

Phim ảnh phương Tây cho thấy, chỉ cần một thanh tra cảnh sát, một tình báo viên, một cá nhân cụ thể có thể giải quyết được những việc mà cả một tập thể số đông không làm được… Cũng do tôn trọng cá nhân nên đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ vài ba tháng đã được bố mẹ cho nằm riêng. Một người đến 18 tuổi được coi là trưởng thành, anh/cô ta được bố mẹ cho sống độc lập… Ứng xử như vậy rõ ràng rất tôn trọng cá nhân, luôn tạo cho con người cá nhân sống theo “cái tôi” của mình…

Với lối sống trọng cá nhân, cổ súy cho cái tôi quá mạnh như vậy có mặt hay, nhưng cũng rất dở. Cái dở nhãn tiền đã đang hiện ra rất rõ, theo thông tin trên mạng xã hội (TG&VN): Tính đến 7h00 ngày 12/4/2020, thế giới có 1.776.936 ca nhiễm chủng mới virus Corona (SARS-CoV-2) gây bệnh đường hô hấp cấp Covid-19, trong đó có 108.737 ca tử vong.

Số ca nhiễm và tử vong do Covid-19 tại Mỹ đang gia tăng chóng mặt. Mỹ đã vượt qua Italy trở thành nước có số ca tử vong nhiều nhất do đại dịch Covid-19. Tính đến nay, dịch bệnh này đã cướp đi sinh mạng của 20.555 người tại Mỹ, nước này cũng đứng đầu thế giới về số ca nhiễm SARS-CoV-2, với 531,257 trường hợp. Số liệu thống kê cũng cho biết, Italy đã ghi nhận 19.468 ca tử vong, nhưng nước này chỉ có 60 triệu dân, bằng 1/5 quy mô dân số của nước Mỹ…

Vậy đó, tình hình dịch bệnh tại Âu -Mỹ quả đáng lo ngại! Mặc dù nền y học, khoa học của các nước này hiện đại, tân tiến hơn nhiều nước phương Đông, tài chính cũng mạnh hơn… Nhưng dịch bệnh bùng phát và trở thành trung tâm của thế giới trong thời gian gần đây thật đáng sợ!

Cái gì làm cho một số nước phương Tây giờ đây đang hoảng loạn, khốn đốn trong cơn đại dịch Covid-19? Tôi nghĩ có nhiều nguyên nhân; nhưng nguyên nhân đáng nói nhất, một “người bạn tốt” tiếp tay cho dịch bệnh chính là lối sống tự do, phóng khoáng thiên về cá nhân của phương Tây…

Truyền thống phương Đông đề cao cộng đồng, tập thể. Cá nhân nằm trong trong khuôn phép của cộng đồng. Đóng vai trò tích cực hình thành, duy trì truyền thống này là Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo… Trong khi Phật giáo khuyên con người quyên đi bản ngã (cá nhân) của mình để hòa vào bản ngã của vũ trụ, từ bi hỉ xả… thì Nho giáo, Đạo giáo khuyến cáo con người sống đời đạo đức, hướng tới cộng đồng, mình vì mọi người và hòa nhập, tôn trọng tự/thiên nhiên…

Tôi cho rằng, giải phóng cá nhân, tạo điều kiện cho con người cá nhân phát triển là tốt. Nhưng nếu đề cao tới mức cực đoan khi cho phép cá nhân được tự do sử dụng vũ khí, sẵn sàng chửi (đả kích) cả Tổng thống hay người trên (ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo); ngồi học có thể ăn uống, gác chân lên bàn, ôm hôn nhau… thì chẳng hay ho gì. Sớm muộn cũng phải trả giá… Và đây, hệ quả mà Đại dịch Covid-19 đem lại là trái đắng – một cái giá phải trả không hề rẻ cho nhiều nước phương Tây hiện nay!

Hà Nội, ngày 12/04/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

“Nhất thân cốt tướng, cụ hồ diện bộ”

Theo quan niệm của văn hóa cổ Trung Hoa, cái bên trong (thần) và cái bên ngoài, hình tướng (cốt) của con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sách Băng Giám của Tăng Quốc Phiên (1811-1872, một bậc kỳ tài, là rường cột của nước Trung Quốc thời nhà Thanh) có nói: “Nhất thân cốt tướng, cụ hồ diện bộ” đã biện giải rất rõ mối quan hệ giữa hai yếu tố này.

Sách Băng Giám cho rằng: tướng mạo thể chất con người là do xương, thịt kết hợp lại mà thành, sự liên kết xương với xương, thịt với thịt, xương và thịt với nhau, bao bọc thống nhất tạo nên ngoại hình của con người. Do xương đóng vai trò làm khung và trụ đỡ nên ưu và nhược điểm của “cốt” tướng trở thành nhân tố hàng đầu trong việc hình thành diện mạo xinh đẹp hay xấu xí của con người. Đại não là trung khu thần kinh, là hệ thống chỉ huy con người, ưu nhược điểm của bộ xương đầu cũng trở thành “thủ trưởng” quyết định đến ưu nhược điểm của toàn thể bộ xương trên cơ thể.

Y học cổ cho đầu là nơi hội tụ của quần dương, là quê hương của ngũ hành chính tông, xương đầu là đại diện của cả bộ xương, xương mặt là đại diện cho xương đầu, do đó ưu nhược điểm của xương mặt có thể ảnh hưởng quyết định tới ưu nhược điểm của xương đầu. Xuất phát từ đạo lý này mà sách Băng Giám nói: “Nhất thân cốt tướng, cụ hồ diện bộ”.

Có nhiều dẫn chứng thể hiện sự đúng đắn của nhận định này. Chuyện cốt tướng Cao tổ nhà Hán – Lưu Bang dưới đây là một trong những minh chứng khẳng định cho chân lý trên:

“Có lần nhà huyện lệnh trong vùng có khách quý. Tất cả hào kiệt đều đến hỏi thăm, chúc mừng. Lưu Bang chỉ là một đình trưởng, vị trí thấp trong cơ cấu quyền lực bấy giờ. Song ông ta nghĩ: Tại sao mình không tranh thủ cơ hội này để làm quen, kết giao với những người có máu mặt trong vùng? Thế là Lưu Bang quyết định đến nơi ở của huyện lệnh.

Tiêu Hà đứng trước cửa phủ, thay mặt chủ nhận tiền lễ của khách. Khi thấy Lưu Bang đến, Tiêu Hà cố ý hét to lên cho mọi người nghe thấy: “Tiền lễ mừng không đủ một nghìn ngồi ngoài sân”. Lưu Bang đưa tay ra hiệu cho Tiêu Hà và ngẩng đầu, ưỡn ngực bước vào. Ông ta nói to với tất cả quan khách đang trong nhà: “Tôi tặng một vạn”. (Nói như vậy; nhưng Lưu Bang đâu có khoản tiền đó!).

Sau khi nói khoác như thế, Lưu Bang lấy thân phận là khách tặng một vạn để ngồi vào ghế trên trong nhà. Tiêu Hà chạy đến chế giễu Lưu Bang: “Lời nói khoác lác nhẹ như gió, làm người phải tự trọng!”. Nghe thế, Lưu Bang ngẩng đầu lên nói: “Một vạn tiền thì có chứ gì? Sớm muộn đến một ngày Lưu Bang tôi đắc thế, lúc đó có thể tặng hẳn mười vạn. Hôm nay tạm ghi lại món nợ này!”. Nói xong Lưu cùng quan khách kính rượu nhau, nói chuyện vui vẻ, không tỏ chút ngượng ngùng.

Một vị khách quý của huyện lệnh ngồi gần đó là Lỗ Công. Ông ta thấy dung mạo Lưu Bang hiên ngang, phong cốt phi phàm, lời nói cử chỉ không giống với những người khác thì không những không trách cứ Lưu Bang mà trong lòng còn rất khâm phục. Khi yến tiệc kết thúc, Lỗ Công mời Lưu Bang ở lại, nhờ huyện lệnh làm mai, gả con gái của mình cho Lưu Bang. Lưu Bang vô cùng mừng rỡ, bản thân không mất một trinh một cắc nào vẫn được dự yến tiệc, lại được thêm vợ hiền.

Vào thời điểm đó, Lưu Bang chỉ là một kẻ lãng tử chơi bời, Lỗ Công dựa vào đâu để phán đoán Lưu Bang sẽ không còn là kẻ nghèo khó về sau? Điều này không ai trả lời được; mọi người dự tiệc hôm đó chỉ biết về sau Lưu Bang trở thành Hán Cao tổ của nhà Hán…

Vậy đó, hơn những người khác, Lỗ Công đã nhận thấy phong cốt phi phàm (mũi cao, cổ dài, diện mạo có long tướng) ở Lưu Bang và tỏ lòng ngưỡng mộ. Ông còn đi nước cờ có một không hai vào thời điểm đó là đem con gái mình gả cho Lưu Bang làm vợ. Mới hay, “nhất thân cốt tướng, cụ hồ diện bộ” là có thật và nó chính là một trong những chân lý của khoa Nhân tướng học Đông Phương…

Hà Nội, ngày 10/04/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Quan niệm của Đức Phật về HẠNH PHÚC

006-1

Một hôm có một Cư sĩ đến gặp Đức Phật và nói với ngài rằng: “Bạch Thế Tôn, chúng con là những người thế tục bình thường, có đời sống gia đình, có vợ con. Xin Đức Thế Tôn chỉ dạy cho con vài lý thuyết để giúp chúng con được hạnh phúc trong đời này và đời sau”.

Nghe thỉnh cầu như vậy, Đức Phật đã nói với ông ta có 4 điều giúp con người hạnh phúc trong đời này:

Thứ nhất: Phải tài khéo, có hiệu năng, hăng hái và có nghị lực trong bất cứ nghề nào mình làm và phải tinh xảo trong nghề nghiệp của mình.

Thứ hai: Phải bảo vệ lợi tức của mình đã kiếm được một cách chân chính bằng mồ hôi trán, nghĩa là bảo vệ tài sản cho khỏi bị trộm cắp, v.v…

Thứ ba: Phải giao du với bạn tốt (những người chân thành, có trí thức, đức hạnh, phóng khoáng và thông minh), họ sẽ giúp mình đi theo chánh đạo, xa lánh đường tà.

Thứ tư: Cần tiêu dùng chừng mực, tùy theo lợi tức…; không nên bo bo tích trữ tài sản, nhưng cũng không nên phung phí. Nói cách khác là phải sống trong giới hạn những phương tiện mình có.

Sau đó Đức Phật còn giảng về 4 đức hạnh giúp cho một người thế tục được hạnh phúc đời sau:

  1. Tín (saddhà): Phải tin tưởng vào những giá trị đạo đức, tinh thần và tâm linh.
  2. Giới (sìla): Phải từ bỏ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và uống rượu.
  3. Thí (càga): Phải thực hành lòng trắc ẩn, bố thí, không bám víu, ôm giữ tài sản của mình.
  4. Tuệ (panna): Phải mở mang trí tuệ dẫn đến sự diệt khổ, chứng Niết bàn.

Lần khác, Đức Phật nói với một thương gia danh tiếng rằng một cư sĩ sống đời thường nhật có bốn thứ hạnh phúc:

  1. Thụ hưởng sự bảo đảm về kinh tế hay tài sản đầy đủ kiếm được bằng những phương tiện chính đáng.
  2. Tiêu dùng tài sản ấy một cách rộng rãi cho chính mình, cho gia đình, bà con, bè bạn và trong những việc công đức.
  3. Không có nợ nần.
  4. Sống một cuộc đời trong sạch, không phạm những điều ác trong ý nghĩ, lời nói hay hành vi.

Hai mẩu chuyện trên cho thấy Đức Phật xem sự thoải mái về kinh tế là cần thiết cho hạnh phúc con người. Nhưng Ngài không coi là tiến bộ nếu chỉ dựa vào vật chất mà thiếu đi một nền tảng quan trọng là đạo đức và tâm linh…!!!

TÂM VĂN

“Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô”

Xây dựng, quản lý hình ảnh/tượng của mình trong thời đại ngày nay trở thành một vấn đề đã, đang và sẽ được nhiều người quan tâm.

Inggrid Zhang là một chuyên gia xây dựng hình ảnh thương mại, bà đã viết và cho xuất bản cuốn sách “Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô”. Sách được dịch và xuất bản ở Việt Nam năm 2013 (513 trang, in khổ: 13,5 x 20,5 cm).

Đây là cuốn sách hay về chủ đề xây dựng hình ảnh/tượng bản thân. Ngoài phần mở đầu và phần cuối, nội dung của sách được chia thành 6 phần, với các chương cụ thể như sau:

* Phần I: Khí chất (gồm 6 chương, trong đó Chương 1: Hình tượng của bạn phải giống người thành đạt; Chương 2: Không ai có thể thành công nếu thiếu tự tin; Chương 3: Khi bạn chưa gặt hái được thành tựu vĩ đại như Bill Gates; Chương 4: Thế giới hai phút – ấn tượng đầu tiên; Chương 5: Mọi người đều muốn mình trông giống người trung thượng lưu; Chương 6: Anh nhiệt tình với tôi, tôi sẽ quý mến anh – Nhiệt tình là phẩm chất cuốn hút nhất của mỗi con người).

* Phần II: Trang phục và phụ kiện (gồm Chương 7: Những người ăn mặc luộm thuộm không thể tạo ra ảnh hưởng lớn đối với xã hội – Trang phục của bạn chính là bạn; Chương 8: Công dụng lớn nhất của trang phục – Không phải để giúp bạn trông đẹp hơn mà giúp bạn tự tin hơn; Chương 9: Đừng để vợ đóng hộp cho bạn; Chương 10: Cavat – Tuyên ngôn cái tôi của đàn ông; Chương 11: Đừng bao giờ trao tiền bạc cho những kẻ đi đôi giày cũ rách; Chương 12: Sau khi vứt bỏ những bộ vest sang trọng và chiếc cavat đắt tiền, cuộc chiến trong phòng họp Hội đồng quản trị chưa bao giờ chấm dứt – Quần áo giản tiện không có nghĩa là có thể ăn mặc tùy tiện; Chương 13: Đồng hồ, thắt lưng da – Công cụ nâng cao hay hạ bệ giá trị bản thân; Chương 14: Ma quỷ ẩn náu trong từng tiểu tiết – Hãy cắt ngắn lông mũi của bạn; Chương 15: Phụ nữ ăn mặc không phù hợp, chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại).

* Phần III: Giao tiếp (Chương 16: Giọng nói của anh làm tôi nhức đầu – Giọng nói là nhạc cụ có sức lôi cuốn mạnh nhất trong quá trình giao tiếp của loài người; Chương 17: Chỉ cần nói chuyện, tôi có thể hiểu về anh – Hình tượng của bạn khi nói chuyện phiếm; Chương 18: Đừng bao giờ để tốc độ của lưỡi vượt qua tốc độ tư duy – Hãy học nghe trước khi học nói; Chương 19: Diễn thuyết trước công chúng – Thời khắc quý báu để thu hút sự chú ý của người khác; Chương 20: “Nghe” thấy hình tượng của bạn qua điện thoại; Chương 21: Anh quý mến tôi, tôi cũng sẽ quý mến anh – Nguyên tắc vàng để thu hút đối tượng giao tiếp: yêu quý và tán dương).

* Phần IV: Ngôn ngữ cơ thể (gồm các chương – Chương 22: Năm giây ngắn ngủi mang lại hiệu ích kinh tế lớn lao – Không nên bắt những bàn tay đuồn đuột như cá chết; Chương 23: Hãy bước đi như những nhà tỉ phú – Tác dụng của ngôn ngữ cơ thể; Chương 24: Nụ cười của bạn đáng giá triệu đô – Nụ cười là ngôn ngữ không có đường biên; Chương 25: Đôi mắt có khả năng biểu đạt phong phú như chiếc lưỡi; Chương 26: Đừng đánh giá con người chỉ thông qua vẻ bề ngoài – Văn hóa, cử chỉ giúp ta phân biệt người này với người khác; Chương 27: Mặt biến đổi theo tâm – Không thể che kín vòng sáng tâm hồn).

* Phần V: Phong cách (gồm Chương 28: Trong khi bạn thưởng thức đồ ăn, người khác thưởng thức bạn; Chương 29: Học đòi phong nhã, giả danh quý tộc – Hiệp sĩ sân golf; Chương 30: Người sai hẹn không đáng tin – Người đúng hẹn là giữ uy tín; Chương 31: Mọi người đều kỳ vọng nhân vật vĩ đại là người tràn trề sức sống – Xây dựng hình tượng lành mạnh; Chương 32: Ba thế hệ mới tạo ra một thiên tài nghệ thuật – Tiền không mua được khí chất; Chương 33: Hàng tỉ người đang dõi mắt theo bạn – Hình tượng trên phương tiện thông tin đại chúng).

* Phần VI: Phần kết (Chương 34: Chỉ có những điều chưa nghĩ ra, không có điều gì không thể làm được; Chương 35: Thành tín – Hình tượng của bạn đáng giá triệu đô)…

Mặc dù Inggrid Zhang dựa vào cơ sở dữ liệu của các nước phương Tây và Trung Quốc để viết cuốn sách. Nhưng người Việt ta có thể đọc, suy ngẫm và vận dụng một cách phù hợp vào cuộc sống thì vẫn đem lại nhiều lợi ích.

Tuy vậy, bạn đọc cũng cần lưu ý đến lời khuyên của tác giả: “Nếu bạn không khát khao một cuộc đời siêu việt, không kì vọng vào sự nghiệp thành công; nếu bạn không muốn nổi bật xuất chúng, lôi cuốn mọi ánh nhìn và dành sự tôn trọng của người khác; nếu bạn không để tâm đến thành tích trong công việc, không hi vọng thăng tiến; nếu bạn không kì vọng vào tiền đồ của con trẻ, không tin tưởng vào kì ngộ trong tương lai thì xin bạn đừng mở cuốn sách này!“…

Hà Nội, ngày 03/02/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Tản mạn về chuyện mua điện thoại

Hôm qua sau khi thăm bạn bè, đồng nghiệp về tôi quyết định đi mua điện thoại mới, coi như món quà tự thưởng cho mình sau một năm vất vả…

Theo phân tầng xã hội, tôi thuộc diện “dân nghèo thành thị”. Vì thế, khi mua sắm tôi luôn phải suy nghĩ, cân nhắc. Nào lên mạng tìm hiểu, nào tham khảo con cái, bạn bè… Là dân nghèo, trời lại “ban” cái tính cẩn thận nên tôi đến mấy nơi bán điện thoại để xem hàng, khảo sát, so sánh giá cả rồi mới quyết định “mở ví”…

Sau khi khảo sát, tôi định mua hàng ở một siêu thị gần nhà. Đây là nơi tôi đã nhiều lần mua hàng (điều hòa, ti vi, tủ lạnh, tủ đông, điện thoại, v.v…). Mới chiều tối ngày 29 Tết tôi còn mua điện thoại cho “bà xã” ở đây. Theo chính sách của siêu thị này thì tôi được xem là “khách hàng thân thiết!”.

Dự định hôm nay sẽ sắm vai khách hàng thân thiết thêm lần nữa, nhưng điều này không thực hiện được! Lý do rất đơn giản – tôi không hài lòng với cung cách phục vụ của một nữ nhân viên bán hàng tại đây…

Văn minh thương mại luôn đề cao việc tôn trọng khách hàng, coi “khách hàng là thượng đế”, “khách hàng luôn có lý”… Vậy mà nữ nhân viên bán hàng không có tinh thần này. Cô đã không đem lại cho tôi sự hài lòng khi tiếp xúc. Từ vẻ mặt, đến nói năng khiến “thượng đế” không hài lòng… Và thế là “thượng đế” quyết định sang Store Viettel Cầu Diễn, Hà Nội để mua hàng.

Tại đây, chỉ có 1 nữ nhân viên bán hàng và 1 bảo vệ. Hỏi ra thì biết mùng 4 Tết, một số người quê xa được cho nghỉ thêm thời gian. Nữ nhân viên ở cơ sở này thể hiện đúng tinh thần của văn minh thương mại. Cô rất vui vẻ, điềm đạm trả lời, rồi còn tư vấn, hướng dẫn cho một “thượng đế” khó tính như tôi về sản phẩm… Cô khiến tôi rất hài lòng, vì thế quyết định mua “con” Samsung Galaxy A51 (Mede in Viet Nam) với giá 7.490.000 đồng.

Tôi càng vui khi giá “con A51” bán ở đây chỉ 7.490 ngàn đồng, giảm 500 ngàn đồng so với những nơi khác (7.990.000 đồng). Đã thế còn được tặng thêm 1 lock Coca Cola 6 lon nữa, thái độ người bán lại rất Ok…

Hết câu chuyện đi mua điện thoại… Còn bây giờ thì nhân đầu năm mới, Bùi Tâm Văn xin chân thành cảm ơn các bạn gần xa – những độc giả yêu quý – đã ủng hộ trang blog buitamvan.com này. Chúc tất cả các bạn sang năm Canh Tý luôn an khang, thành công, hạnh phúc và mọi sự đều Cát Tường…!!!

Trân trọng!

(Hà Nội, mồng 5 Tết Canh Tý)

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Thuật bắt tay

Chữ “thuật” trong những văn, ngữ cảnh khác nhau sẽ mang ý nghĩa khác nhau. Điều đó không có gì lạ. Ở đây, chữ thuật, đơn giản được hiểu là cách thức, phương pháp thủ thuật làm một cái gì đó cho đúng cách, đem lại hiệu quả. Vậy thôi!

Bắt tay là một hành vi trong cuộc sống người. Bắt tay đúng cách đem lại giá trị. Vì thế, một trong những chuyên gia xây dựng hình ảnh cá nhân, đồng thời là nhà tư vấn tâm lý và nhân cách – Ingrid Zhang, đã có lời khuyên về “thuật bắt tay” sao cho tốt.

Ingrid Zhang khuyên chúng ta hãy giới thiệu về bản thân trước khi đưa ta ra bắt tay người khác. Và khi thực hiện hành vi này thì lưu ý:

* Những người có địa vị cao, phụ nữ, người lớn tuổi thường giơ tay ra trước. Nếu họ không chủ động đưa tay ra bắt thì bạn nên chờ đợi. Nếu người khác chủ động đưa tay ra, bạn phải nắm lấy tay họ. Nếu không sẽ khiến người ấy cảm thấy không được tôn trọng, đồng thời thể hiện bạn không hiểu phép lịch sử tối thiểu.

* Khi bắt tay, phải nhìn thẳng vào mắt đối phương, miệng tươi cười. Nhìn thẳng thể hiện sự tôn trọng và tình tình của bản dành cho đối phương, đồng thời đây cũng là cách thể hiện sự tự tin, đàng hoàng của bạn và có thể quan sát biểu hiện trên khuôn mặt của đối phương.

* Khi đưa tay ra bắt, lòng bàn tay và ngón tay cái tạo thành một góc nhưng khi bạn bắt tay đối phương thì toàn bộ bốn ngón tay và ngón cái nên nắm lấy bàn tay đối phương. Đặc trưng của phương thức bắt tay “cá ươn” là không nắm ngón cái vào tay đối phương.

* Phải nắm chặt và mạnh một chút khi bắt tay đối phương nhằm thể hiện bạn là người kiên định, có sức mạnh và thái độ nhiệt thành. Cái bắt tay không có lực sẽ khiến nó trở thành loại hình bắt tay “cá ươn”. Nhưng nếu nắm quá chặt sẽ khiến đối phương khó chịu và nghĩ là bạn có ý đồ mờ ám.

* Thời gian nên kéo dài khoảng 5 giây, dưới 5 giây, cuộc bắt tay bị coi là quá vội vàng; nhưng nếu kéo dài quá 5 giây thì cũng bị coi là quá nhiệt tình. Đặc biệt khi nam giới bắt tay phụ nữ, không nên nắm quá lâu, dễ khiến họ nảy sinh tâm lý đề phòng.

* Nếu tay bạn dễ ra mồ hôi, hãy nhớ lau sạch trước khi bắt tay người khác!

[Đoạn trên được trích từ cuốn sách Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô của Ingrid Zhang (xuất bản tiếng Việt, 2013) để bạn nào có nhu cầu thì tham khảo, thực hành thuật bắt tay, giúp bản thân tăng thêm khả năng thành công trong cuộc sống].

Hà Nội, 25/01/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Nghe và Nói: Cái nào quan trọng hơn?

“Nghe và Nói” thuộc về kỹ năng (mềm) của con người. Hai kỹ năng này có vai trò quan trọng trong các kỹ năng mà con người cần quan tâm học hỏi, xây dựng và phát triển, phát huy trong cuộc sống. Nếu làm tốt chúng sẽ góp phần hỗ trợ con người thành công trong cuộc sống nói chung, trong sự nghiệp nói riêng.

Thành ngữ Việt có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Câu thành ngữ này nói đến “học ăn” nhưng không thấy nói học “nghe”, học “lắng nghe”! Trong khi đó, khoa tâm lý học giao tiếp phương Tây rất coi trọng chuyện nghe. Các chuyên gia nhấn mạnh: một người giỏi giao tiếp trước hết phải là một người biết lắng nghe. Khi cần mở lời, trước hết anh ta phải biết quan sát phản ứng phi ngôn ngữ của người khác, sau đó sẽ quyết định nên dùng hình thức và nội dung giao tiếp nào.

Thống kê tâm lý xã hội học cho biết có khoảng từ 50% đến 80% thời gian của một người là dùng để giao tiếp với người khác. Trong đó thời gian lắng nghe chiếm tới một nửa toàn bộ thời gian tham gia giao tiếp.

Trong phát triển sự nghiệp cá nhân, “lắng nghe” được coi là kỹ năng giao tiếp quan trọng hơn “nói”. Các chuyên gia còn nhấn mạnh: “Nghe, là cơ hội tốt nhất giúp bạn nâng cao giá trị và tri thức”, “Những gì chúng ta nói có quan hệ mật thiết với những gì chúng ta nghe, thậm chí nó được bắt nguồn từ những gì chúng ta nghe”.

“Lắng nghe” được xem như một bộ môn nghệ thuật mà những người muốn thành công phải biết nắm bắt. Lắng nghe chính là phương pháp đơn giản nhất giúp bạn xây dựng hình tượng đẹp cho bản thân. Các chuyên gia tâm lý giao tiếp luôn đề cao nguyên tắc: “Trước khi học nói, hãy bắt đầu từ học nghe”…

Từ thời cổ đại, ở phương Tây, người ta đã coi trọng việc lắng nghe. Chuyện kể lại rằng: Một thanh niên trẻ đến bái Socrates làm thầy. Thanh niên này muốn ông truyền cho mình kỹ năng diễn thuyết.

Để thể hiện khả năng ăn nói thiên phú và xuất sắc của mình, anh ta thao thao bất tuyệt diễn thuyết trước mặt Socrates. Socrates đã ngắt lời và bảo anh thanh niên phải trả học phí gấp đôi thì ông mới thu nhận làm học trò. Thanh niên kinh ngạc hỏi lại ông: “Vì sao con phải trả học phí gấp đôi?”. Socrates đã trả lời: “Bởi vì tôi phải dạy cho cậu hai môn học: môn thứ nhất là học cách im lặng, không nói, chỉ lắng nghe. Sau đó là môn học mở miệng nói những gì mình nghĩ”…

Vậy là, giữa nghe và nói, nghe được xác định quan trọng hơn nói. Cả hai truyền thống văn hóa Đông Tây đều tương đồng nhau ở điểm này. Lão Tử (của Phương Đông) bảo: “Đại âm hi thanh; đại tượng hi hình” (nghĩa là: Âm thanh lớn chưa hẳn khiến người khác nghe lọt tai; hình ảnh lớn chưa hẳn khiến người khác nhìn lọt mắt). Còn cách ngôn phương Tây thì nói: “Thượng đế ban tặng cho chúng ta hai cái tai và một cái lưỡi, vì muốn chúng ta nghe nhiều, nói ít”… Góp vào kho tàng văn hóa nhân loại về nghe và nói, thành ngữ Việt có câu: “Im lặng là vàng”. Nếu bình tán rộng thì thành ngữ này cũng có ý trùng với tư tưởng Đông Tây nói trên…

Hà Nội, ngày 22/1/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Chuyện của Alexandre Đại đế

Ở vùng Trung Đông, sau thời Đức Phật khoảng mấy thế kỷ, có vị đạo sư tên Điôzen. Ông sống đơn giản, trên người chỉ có một mảnh áo che thân, một cái bát uống nước. Có lần ông nhìn thấy một người cúi xuống múc nước bằng tay để uống. Ông cảm thấy cái bát của mình trở nên thừa nên quăng đi…

Dân trong vùng coi ông như một vị Bồ tát, họ rất nể phục ông. Mỗi khi ông khuyên bảo họ điều gì về đạo lý, họ đều cảm thấy mình được hạnh phúc và an lạc. Tiếng lành về Điôzen đồn xa khắp vùng…

Alexandre Đại đế trên đường chinh phục Trung Đông, nghe đồn về Điôzen, bèn tìm gặp. Alexandre Đại đế gặp Điôzen đúng vào thời điểm ông đang ngồi phơi nắng trong một ngày đông lạnh giá.

Từ xa, Alexandre cùng đoàn tùy tùng thấy một ông lão đang ngồi ung dung tự tại, râu tóc dài. Trên người ông chỉ có một tấm áo quấn quanh, đẹp rực rỡ dưới ánh mặt trời. Ông bèn xuống ngựa, chầm chậm đi đến bên ông lão. Khi đến nơi nhà vua hỏi:

* Ngài có phải là Điôzen?

* Phải, Ngài cần gì?, Điôzen từ tốn đáp.

Hai bên chỉ trao đổi vài câu ngắn ngủi; nhưng phong thái ung dung tự tại của Điôzen khiến vua Alexandre cảm phục. Alexandre là một Đại đế bách chiến bách thắng; nghe danh ông, ai cũng sợ hãi. Chỉ có ông già râu ria xồm xoàn này liếc nhìn ông với ánh mắt bình thản, khiến nhà vua vô cùng cảm phục. Sau vài câu ngắn ngủi, vua Alexandre lên tiếng:

* Thưa Ngài, Ngài có cần gì không?

Hỏi như vậy vì ông nghĩ mình là một vị vua bách chiến bách thắng, uy danh khắp thiên hạ. Ông có nhiều tài sản; nếu Điôzen cần gì, ông sẽ tặng ngay.

Nghe hỏi vậy, Điôzen trả lời:

* Có, tôi cần Ngài xích qua một chút, đừng che ánh mặt trời tôi đang sưởi. Rất cảm ơn!

Thì ra, nhà vua và đoàn tùy tùng đi đến từ hướng đông, khi đứng đã vô tình che hết ánh nắng buổi sáng chiếu vào ông. Nghe vậy, vua Alexandre quay sang nói với đoàn tùy tùng: “Nếu ta không phải là Alexandre Đại đế, ta sẽ là Điôzen”…

Câu chuyện trên thật đáng suy ngẫm phải không các bạn. Rốt cục con người nên lựa chọn lối sống nào đây: lối sống của một vị đế vương, lối sống của những người dân thường, hay lối sống của Ngài Điôzen?

Câu trả lời tùy thuộc vào nhận thức, quan niệm của mỗi chúng ta thôi…

Hà Nội, 20/01/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Đố vui (có thưởng)

Xưa, con người đã bày trò đố vui có thưởng. Trong bài này tôi cũng bày ra mấy câu đố. Nếu bạn đoán được sẽ không có thưởng. Nhưng điều đó nào có quan trọng gì… Vì khi đoán được những câu đố, niềm vui chiến thắng sẽ đến với bạn. Điều này chẳng phải là phần thưởng cho bạn sao?

Bạn sẵn sàng chưa? Nào chúng ta bắt đầu nhé:

* “Đi đứng, đứng đổ” là cái gì?

* “Vì mày tao phải đánh tao/ Vì tao, tao lại đánh tao, đánh máy” – là cái hay con gì?

* “Gặp nhau đấy, tìm người để lấy/ Lấy được nhau thì bỏ nhau đấy/ Không lấy được nhau thì đưa nhau về” – là gì?

* Xin thưa trước, câu đố này khó, đòi hỏi bạn phải suy tư nhiều hơn:

Xưa, ở một vùng nọ có một tên quan độc ác, bất nhân. Hắn hay nghĩ ra những trò oái oăm để gây phiền nhiễu, làm hại dân chúng. Khu vực viên quan cai trị có một chiếc cầu bắc qua sông. Dân trong vùng thường qua lại trên chiếc cầu này…

Một hôm viên quan nghĩ ra một trò chơi ác. Hắn cho lính đến canh gác hai đầu cầu và đặt ra luật lệ: một người nào muốn đi qua cầu phải nói một câu. Lính canh sẽ xem xét câu nói đó; nếu xét thấy câu đó đúng thì người nói sẽ bị chém đầu, còn nếu xét thấy câu nói sai thì người đó sẽ bị treo cổ…

Một câu nói khi xem xét thường rơi vào một trong hai trường hợp – đúng hoặc sai. Với điều luật quái ác này dân chúng không dám đi qua cầu nữa. Cuộc sống của họ bị đảo lộn, gặp nhiều khó khăn…

May thay, có một nhà thông thái, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ đã tìm ra một câu mà mỗi khi qua cầu nói câu đó thì bọn lính không thể khép tội được. Nhà thông thái đã truyền bá câu nói đó cho người dân trong vùng. Câu đó là câu gì, theo bạn?

Bạn có thể lời giải các câu đố trên cho tác giả bài viết theo email: buitamvan@gmail.com hoặc phản hồi trực tiếp trên trang blog này…

Trân trọng cảm ơn bạn!

Hà Nội, ngày 18/1/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

EM RẤT THÍCH MƯA

Chiều nào cũng vậy, khi hoàng hôn buông xuống đã thấy đôi trai gái ấy đi bên nhau tâm sự trên con đường vắng.

Một  hôm, khi hai người đang đi thì trời bắt đầu rơi vài hạt mưa. Người con trai nhìn lên trời và nói: “Trời sắp mưa to rồi em ơi!”. Người con gái không trả lời, vẫn bình thản đi. Đi thêm một đoạn thì mưa rơi nặng hạt.

Người con trai lại bảo: “Ta vào trú mưa thôi em!”. Người con gái nhìn lên trời, đưa bàn tay đón những hạt mưa rơi và nói: “Em rất thích mưa”… Cô vẫn chậm rãi bước, càng đi mưa càng to dần. Người con trai kéo tay người con gái lên vỉa hè trú mưa. Người con gái không chịu lên, vẫn đi tiếp dưới mưa.

Người con trai đành đứng một mình dưới hiên ngôi nhà cạnh con đường, anh đưa mắt nhìn theo bóng người yêu đi trong mưa cho đến khi trời tối đen…

Chiều hôm sau, khi hoàng hôn buông xuống, người ta không thấy đôi trai gái đó dạo bước trên con đường vắng ấy nữa…

(Truyện cực ngắn của Lưu Đức Trung)

TÂM VĂN

TẢN MẠN VỀ NỤ CƯỜI

Thành ngữ Việt có câu: “Dù no, dù đói cho tươi/ Cái miệng em cười đói cũng như no“… Ngày xưa, người phụ nữ được giáo dục theo “tứ đức”: CÔNG – DUNG – NGÔN – HẠNH. Trong bốn đức này, nụ cười thuộc “đức” DUNG. Cái miệng em cười, đói cũng như no, hay thì hay thật nhưng rất áp lực với chị em! Nhưng mà, trời đã sinh ra ta, phong cho ta là “phái đẹp”, biết làm sao đây!

Nụ cười hóa ra lại quan trọng. Thế mới sinh “tiếu lâm” (rừng cười)… và lại thêm những thành ngữ mới: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”; “Cười lên đi cho tâm hồn thoải mái”…

Đấy là nụ cười trong suy tư của người Việt. Còn các bạn Tây thì bảo: “Hãy mỉm cười – nụ cười khiến cả thế giới cười lại với bạn”, rồi bình tán thêm:

“Không gì sánh bằng một nụ cười chân thật khi bạn muốn mở đầu câu chuyện một cách tốt đẹp với người nào đó. Nụ cười tiết lộ nhiều điều tích cực về bạn: bạn hạnh phúc, tự tin, dễ gần, tích cực và nhiệt tình…

Còn nếu bạn không mỉm cười khi gặp người khác thì sao? Bạn sẽ khiến họ nghĩ rằng bạn đang lo lắng, không thoải mái hoặc thậm chí cáu kỉnh. Điều này sẽ không bao giờ tạo được ấn tượng ban đầu tốt đẹp, phải không?

Khi bạn mỉm cười, người khác có khuynh hướng cười lại với bạn vì cảm xúc dễ lây truyền, nhưng đó phải là nụ cười tự nhiên. Người ta dễ phát hiện ra nụ cười giả tạo… Khi bạn cười tự nhiên, các cơ gò má sẽ hoạt động, các cơ này nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức con người.

Do đó, bạn không thể làm cho đôi mắt “long lanh” theo ý muốn chủ quan của mình, điều này chỉ xẩy ra khi bạn nhìn thấy người hoặc vật mình yêu thích… Một số người rất dễ mến khi mỉn cười, dường như họ làm điều đó một cách tự nhiên.

Bạn cũng có thể làm được như vậy dù đôi lúc bạn cảm thấy lúng túng hoặc ngượng ngùng. Vấn đề chỉ là bạn phải chịu khó luyện tập…” [sách “Để gây ấn tượng cá nhân”, Nxb. Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2010, 78-79]…

Vậy là con người cần nụ cười, phần để “đánh chiếm” trái tim người khác trong giao tiếp; phần để cân bằng sự sống người…

Thế nên vua Hề Sác-lô, Mít-stơ Bin ra đời ở Âu Mỹ. Còn trên dải đất hình chữ S này thì xuất hiện các hề chèo thời xưa, và thời nay thì nhan nhản các danh hài sinh ra như nấm mọc sau mưa…

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

“ĐỔI GIÓ”…

“Đổi gió” là một từ phát sinh trong những thập niên gần đây, giống như nhiều từ ngữ khác như: “chém gió”, “vô đối”…

Không rõ tác giả là ai? Nhưng điều đó chả quan trọng gì… Với chúng tôi, quan trọng chính là:

Trong hai ngày (thứ 7, chủ nhật), bộ môn đã tổ chức thành công chuyến đi mang tên là “ĐỔI GIÓ 1” tại Kim Bôi (Hòa Bình)… Thời tiết hai ngày này thật tuyệt vời – không rét, không nóng, không mưa…

Mặc dù một số thành viên trong đoàn mệt mỏi do say xe nhưng kết thúc chuyến đi mọi người đều vui vẻ, hồ hởi, phấn khởi và tin tưởng…

Còn với riêng tôi, cuộc đi này khá thú vị, vì mấy lẽ:

Thứ nhất: Có ba thế hệ tham gia chuyến đi; đủ cả nam, nữ; có hai thành viên lớn tuổi, còn lại là thế hệ thứ hai, thứ ba (các cháu nhỏ) trong “gia đình” CNXHKH.

Bình sinh tôi thích chơi với trẻ nhỏ. Chuyến đi có các cháu, chả khác gì mình mua được vé trong hành trình trở về tuổi thơ…

Thứ hai: Cuộc “đổi gió” này còn gợi lại cho tôi cảm giác về những chuyến đi điền dã dân tộc học mấy chục năm trước tại một số địa phương phía Bắc…

Thứ ba: Nhưng điều tôi vui nhất là mục đích chuyến đi (an toàn, vui, hữu ích) đã đạt được…

P/s: Vậy là đời quá vui rồi… Xin trân trọng cảm ơn tất cả…!!!

Một số hình ảnh trong chuyến đi

(Thăm Bảo tàng Văn hóa Mường Kim Bôi, Hòa Bình)

Hà Nội, ngày 30-12-2019

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Sách “THỰC DƯỠNG” (Verne Varona)

Bìa sách “Thực Dưỡng” của Verne Varona

Nhiều khi chúng ta hỏi nhau, hay tự hỏi: Cái gì là quý nhất trên đời?

Câu trả lời tùy thuộc vào từng người, từng hoàn cảnh. Cái qúy nhất có thể là: tiền, vàng, kim cương, nhà cửa, phương tiện, thời gian, sức khỏe, tình yêu, cha mẹ, con cái, vợ chồng… Với những người ốm yếu, bệnh tật thì câu trả lời có thể là sức khỏe…

“Thực Dưỡng” là cuốn sách hay của Verne Varona – một trong những nhà giáo dục về sức khỏe tên tuổi người Mỹ.

Ông học ngành Đông y và Thực dưỡng ở Tổ chức Đông Tây của Michio Kushi tại Boston, Massachusette (1970-1974) và với Herman Aihara tại Viện Vega.

Verne Varona khẳng định trong cuốn sách – nếu ăn uống hợp lý, khoa học, con người có thể tăng cường được sức khỏe, chống lại nhiều bệnh tật, sống thọ và tạo lập cuộc sống hạnh phúc…

Với 555 trang khổ lớn (18,7×23,5 cm), ngoài lời giới thiệu, index nội dung được giới thiệu trong 6 phần:

  • Phần 1: Bắt đầu với thực dưỡng
  • Phần 2: Chữa bệnh bằng con đường thực dưỡng
  • Phần 3: Lập kế hoạch và chuẩn bị cho cuộc phiêu lưu thực dưỡng
  • Phần 4: Công thức nấu ăn từ sáng đến tối – Con đường ăn uống dẫn đến khang kiện
  • Phần 5: Danh sách mười điều
  • Phần 6: Phụ lục
Bìa sau sách “Thực Dưỡng”

Sách được Công ty Cổ phần sách Thái Hà cho tái bản lần thứ hai tại Việt Nam (2018).

Hà Nội, 27-12-2019

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

CẢM NHẬN KHI ĐỌC “VẪY VÀO VÔ TẬN” CỦA ĐỖ LAI THÚY

Không tính bìa, cuốn sách có độ dày 463 trang, khổ 13,5×20,5, được Nxb. Phụ nữ xuất bản quý II năm 2014.

Tôi không có chuyên môn về văn học, nhưng là người yêu thích văn nên hay tìm mua/đọc sách về lĩnh vực này.

Khi đọc xong Vẫy vào vô tận, tôi nhận thấy đây là cuốn sách viết về chân dung những người nổi tiếng thuộc giới tinh hoa Việt thế kỷ XX. Với 17 chân dung (học thuật) “đại diện” cho nhiều lĩnh vực:

01. Nguyễn Trường Tộ “nghịch lý canh tân”

02. Trương Vĩnh Ký “mở đầu đối thoại Đông Tây”

03. Nguyễn Văn Vĩnh “người [Việt] nam mới đầu tiên

04. Phạm Quỳnh “ngọn gió [N] nam

05. Phan Khôi “thầy cãi”

06. Nhất Linh “công trình hiện đại hóa”

07. Đinh Gia Trinh “tinh thần khoa học”

08. Nguyễn Hiến Lê “tự làm nên mình”

09. Thanh Lãng “cái nhìn thế hệ”

10. Nguyễn Khắc Dương “tìm mình qua những xung đột văn hóa”

11. Nguyễn Tài Cẩn “từ ngôn ngữ đến văn hóa”

12. Hoàng Ngọc Hiến “triết lý hai bàn chân”

13. Đặng Tiến “những vũ trụ thơ”

14. Đặng Nghiêm Vạn “đi tìm một tổng thể”

15. Nguyễn Văn Trung “dấn thân trí thức”

16. Văn Tâm “khối mâu thuẫn lớn”

17. Hà Văn Tấn “theo dấu các văn hóa cổ”

(Trong văn bản gốc không đánh số và các cụm từ đi kèm với tên người không nằm trong ngoặc kép. Tôi thêm số thứ tự và đưa các cụm từ liên quan vào trong ngoặc kép chỉ để tiện trình bày và nhấn mạnh ý mình muốn nói)

Tôi đã đọc Đỗ Lai Thúy khá nhiều và có cảm nhận chung – đây là một học giả tài danh của nước Việt.

Tôi không võ đoán, các bạn thử hình dung xem, ông phải là một người như thế nào mới có được một gia tài học thuật như thế này chứ:

* Về sách viết:

Có: Mắt thơ (xuất và tái bản: 1992, 1994, 1997, 2000, 2012); Từ cái nhìn văn hóa (1999); Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999, 2010); Chân trời có người bay (2003, 2005); Văn hóa, nhìn từ mẫu người văn hóa (2005);

Bút pháp của ham muốn (2009, 2010, 2011); Phê bình văn học, con vật lưỡng thế ấy (2010); Thơ như là mỹ học của cái khác (2012); Vẫy vào vô tận (2014).

* Về sách biên soạn:

Có: Nghệ thuật như là thủ pháp (Lý thuyết văn chương của Chủ nghĩa hình thức Nga, 2002); Sự đỏng đảnh của phương pháp (2004); Theo vết chân những người khổng lồ (2006); Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật (2000, 2004);

Phân tâm học và văn hóa tâm linh (2002, 2005); Phân tâm học và tình yêu (2003); Phân tâm học và tính cách dân tộc (2007).

* Dịch, BT, viết giới thiệu:

Có: Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức (của Trần Đức Thảo, 1997); Huyền thoại về nguồn gốc của lửa (của J. Frazer, 2001); Văn hóa học, những xu hướng nhân học văn hóa (của Belik, 2001); Văn hóa nguyên thủy (của E.B. Tylor, 2001); Luận về xã hội học nguyên thủy (của R. Lowie, 2001, 2008);

Tuyển tập V. Propp (2002, 2004); Cành vàng (của J. Frazer, 2007); Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy (của Levy Bruhl, 2008); Khảo về quà tặng (của M. Mauss, 2010); Những tiếng nói đã mất (của J. Duvignaud, 2011); Những cấu trúc xã hội học của Bouthoul (2011).

Tuy chưa đọc hết sách của Đỗ Lai Thúy; nhưng qua những cuốn đã đọc, cảm nhận chung của tôi là rất thú vị và bổ ích... Đỗ Lai Thúy quả là một học giả vừa uyên bác, lại vừa uyên thâm…

Vỗ vào vô tận là một cuốn sách hay của Đỗ Lai Thúy. Bạn đọc nào quan tâm đến giới tinh hoa nước nhà trong khoảng một thế kỷ nay rất nên tìm đọc…!!!

TÂM VĂN

Từ Thường Châu đến vô địch AFF cup

Đây là cuốn sách hay viết về bóng đá. Nó cung cấp cho người đọc những gì “ẩn chứa” phía sau trái bóng tròn và những trận cầu mà mọi người đã xem trên sân cỏ, trên truyền hình và trên các phương tiện truyền thông khác trong gần hai năm qua.

Sách do Lê Huy Khoa và Trương Anh Ngọc viết.

Trong đó, Lê Huy Khoa vừa là dịch giả, người nghiên cứu về Hàn Quốc, vừa là người biên soạn cuốn từ điển Hàn – Việt đầu tiên ở Việt Nam.

Ông đã từng làm việc tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, đã giảng dạy tại đại học Shunchonhyang (Hàn Quốc), Đại học Hồng Bàng và Nguyễn Tất Thành (Việt Nam).

Lê Huy Khoa là trợ lý ngôn ngữ đội tuyển bóng đá Quốc gia U23, đội tuyển bóng đá nam Việt Nam. Hiện ông đang là trợ lý ngôn ngữ cho HLV Park Hang Seo tại SeaGamese 30 (Philippines)…

Trương Anh Ngọc là một nhà báo làm việc tại Thông tấn xã Việt Nam, người có nhiều bài viết hay về bóng đá Việt Nam và thế giới. Ông cũng là Nhà báo duy nhất đại diện cho Việt Nam bỏ phiếu danh hiệu Quả bóng vàng Thế giới.

Sơ lược về hai tác giả để thấy đây là cuốn sách đáng đọc. Sách hay thể hiện ở nội dung, bên cạnh còn phản ánh ở tên sách, người viết và Nxb…

Tôi không tiếc vì đã bỏ tiền mua cuốn sách này!

Sách dày 240 trang, được in đẹp và có giá bán hợp lý (99.000 VNĐ/1 bản). Cuốn sách được Nxb. Lao động và Hanoibooks liên kết ấn phát hành quý I-2019.

Nội dung được trình bày trong 4 chương:

  • Chương 1: THƯỜNG CHÂU QUA HÌNH ẢNH
  • Chương 2: HÀNH TRÌNH ASIAD 2018
  • Chương 3: HƯỚNG TỚI AFF CUP 2018 VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN HẬU TRƯỜNG
  • Chương 4: NHÀ BÁO ANH NGỌC VỚI HƠI THỞ AFF CUP

KẾT LUẬN:

Đây là cuốn sách hay, chỉ hơi tiếc do sách không làm mục lục, nên khi muốn tìm nhanh nội dung thì người đọc gặp… khó khăn!

Tối này (10/12/2019), lúc 19h00, đội tuyển U22 Việt Nam sẽ có cuộc “tái đấu” với U22 Indonesia để tranh HCV SeAgames môn bóng đá nam.

Đọc “Từ Thường Châu đến Vô địch AFF” sẽ tăng thêm niềm tin cho mỗi chúng ta về chiến thắng của U22 Việt Nam trong buổi tối nay.

Tôi dự báo: Tỷ số 2-1 nghiêng về U22 Việt Nam

TÂM VĂN

Còn ai đọc “Hai sắc hoa Ti-gôn” nữa không?

Nhân dọn dẹp tủ sách (vì chưa đầy 2 tháng nữa lại Tết đến – Xuân về), tôi gặp lại tập thơ tình chọn lọc, in khổ nhỏ này…

Bên trong là 102 bài thơ TÌNH của các nhà thơ tài danh thuộc nhiều thế hệ thời hiện đại.

Tôi lật mở, đọc một số bài mình thích và gặp lại những câu thơ:

Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng/ Bóng chiều không thắm, không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?” (Thâm Tâm);

“Người ấy thường hay vuốt tóc tôi/ Thở dài những lúc thấy tôi vui/ Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ/ Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!” (T.T.KH);

Bảy năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng”, “Anh đi bộ đội, sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm” (Vũ Cao);

Anh đứng trên cầu đợi em/ Đứng một ngày đất lạ thành quen/ Đứng một đời đất quen thành lạ/ Nước chảy… kìa em, anh đợi em” (Vũ Quần Phương);

“Đất nước đau buồn chưa hết, Mỵ Châu ơi!/ Lông ngỗng bay như số phận giữa trời/ Trọng Thủy đứng suốt đời không hết lạ/ Vệt lông ngỗng con đường tình trắng xóa/ Có ai hay thăm thẳm giếng khôn cùng…” (Hoàng Nhuận Cầm).

Và còn đây “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ: “Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/ Tươi như cánh nhạn lai hồng /…

Và người chồng ấy, đã ra đi…/ Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào/ “Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau!”/

Nhưng tôi biết, cái màu đỏ ấy,…/ Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi/ Trên đỉnh dốc cao, vẫy gọi đoàn người!/ Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp/ Một làng xa giữa đêm gió rét…/

Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi/ Như không hề có cuộc chia ly…”.

Thời thế đã đổi thay, theo đó cảm xúc, cảm thụ, tình yêu thơ cũng nhiều thay đổi. Đó là lẽ thường!

Vậy mà, những bài thơ trong “Hai sắc hoa Ti-gôn” vẫn làm cay cay sống mũi một người còn nặng lòng với quá khứ, như tôi!

TÂM VĂN

Một nén hương tưởng niệm Thầy Hà Văn Tấn

GS. Hà Văn Tấn đã giã từ cõi tạm, trở về với cõi vĩnh hằng!

Thời sinh viên tôi may mắn được học thầy Tấn môn Phương pháp luận Sử học và được đi khảo cổ cùng Thầy ở Đồng Gai (Vĩnh Phúc) trong năm thứ nhất (1980-1981).

Thầy Tấn là một trong bốn học trò xuất sắc của các GS: Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu và Trần Đức Thảo… Không biết từ lúc nào và từ ai, người ta gọi bốn GS: Lâm, Lê, Tấn, Vượng là “tứ trụ” của khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp HN (nay là khoa Lịch Sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội).

Bốn thầy đều có những mặt hay, nổi trội của mình, trong đó thầy Tấn trẻ nhất nhưng “xứng đáng được coi là một gương mặt hàng đầu của giới khoa học xã hội Việt Nam hiện đại” [Hàm Châu, 2014].

Nếu xét theo phả hệ họ Hà thì thầy Tấn thuộc diện “con nòi”. Bố thầy là cụ Hà Văn Cát đã “dùi mài kinh sử” để chờ đi thi; nhưng do thực dân Pháp hủy bỏ các khoa thi Hán học, nên cụ lỡ thời… Nhưng may mắn là cụ Hà Văn Đại (anh ruột cụ Cát) kịp thi đỗ phó bảng trong khoa thi cuối cùng (1919). Hai anh em sống chung trong một cơ ngơi, vì thế cậu bé Hà Văn Tấn chịu ảnh hưởng sâu đậm của người bác ruột và được học một ít chữ Hán từ bác mình…

Thầy Tấn cùng quê với đại thi hào Nguyễn Du (Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Đây cũng là quê của Nguyễn Công Trứ – một nhà thơ tài hoa và là nhà kinh tế tài ba. Như vậy, thầy Tấn xuất thân từ một gia tộc có học ở vùng đất được xem là “địa linh nhân kiệt” (Nghệ Tĩnh). Vùng này đã sản sinh ra những nhân tài hàng đầu cho đất Việt – La Sơn Phu Tử, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn…

Nghệ tĩnh là đất nghèo, vùng này nghèo đến nỗi: “Ông nghè, ông cống sống bởi ngọn khoai/Anh học, anh nho nhai hoài lộc đỗ”. Gia cảnh cụ phó bảng (nơi thầy Tấn sống thời trẻ) rất thanh bần. Cảnh bần bạch của cụ đồ Nghệ phần nào được phản ánh qua đôi câu đối mang hơi hướng “chơi chữ”: “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai – khoai ba bữa/ Ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ – đỗ cả nhà”…

Xuất thân từ hoàn cảnh đó đã tạo động lực và buộc thầy Tấn phải “vượt qua hoàn cảnh”, “vượt lên chính mình” để trở thành một học giả, một trí thức nổi danh thời hiện đại. GS. Đặng Nghiêm Vạn có lần nói với Đỗ Lai Thúy: “Tấn là thiên tài”…

Nhờ đâu Hà Văn Tấn trở thành một “thiên tài” đất Việt? Lũ hậu sinh chúng tôi nhờ đọc một số tài liệu mà biết đôi chút về thầy mình như thế này:

Từ vốn tri thức được học 9+2 (như Hà Văn Tấn vẫn thường tự trào mình và, có lẽ, qua đó để tiếu người…) đến một nhà bác học quảng vấn, chỉ có một con đường là tự học… Người thầy trực tiếp của Hà Văn Tấn là học giả Đào Duy Anh – một tấm gương sáng của đại tự học… Hà Văn Tấn không chỉ ham học mà còn biết cách học; trong đó tự học, quan trọng hơn cả, là đọc sách.

Song, để đọc được sách thì cần phải giỏi về ngôn ngữ. Nắm được tiếng Việt đã đành, còn phải biết ngoại ngữ nữa… Hà Văn Tấn đã bắt đầu từ chỗ bắt đầu ấy. Ông học tiếng Việt, đọc các sách viết về ngữ âm, ngữ pháp và đặc biệt tìm hiểu các vấn đề liên quan đến nguồn gốc tiếng Việt. Với ông, tiếng Việt không chỉ là công cụ tư duy, phương tiện biểu đạt, mà còn là một nguồn sử liệu dưới dạng trầm tích.

Mặc dù giỏi ngôn ngữ đến mức trở thành hội viên Hội ngôn ngữ Việt Nam bấy giờ và, quan trọng hơn, được Cao Xuân Hạo rủ làm ngôn ngữ học. Song, Hà Văn Tấn trước sau chỉ coi ngôn ngữ là chiếc chìa khóa giúp ông mở vào tòa nhà Sử học. Ông tiếp tục học chữ Hán và tiếng Anh, tiếng Pháp. Ông học thêm tiếng Nga, tiếng Đức… Rồi cả tiếng Nhật nữa. Về sau theo lời thầy Đào Duy Anh: muốn hiểu sâu văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ thì phải biết tiếng Pali hoặc tiếng Phạn, Hà Văn Tấn đã lao vào học tiếng Phạn, một thứ tử ngữ rất khó.

Thời ấy, học ngoại ngữ cực kỳ khó khăn, đến giáo trình cũng khan hiếm, phải qua các ngữ trung gian. Ví như, học tiếng Nga qua tiếng Pháp, tiếng Đức và Nhật qua tiếng Nga, tiếng Pháp qua tiếng Đức…

Thuật học của Hà Văn Tấn là đọc trực tiếp các tác phẩm nguyên ngữ sau khi đã có một số vốn nhất định… Ông được trời phú cho một năng khiếu ngoại ngữ biểu hiện ở cái tư duy đặc trưng và có một trí nhớ hơn người.

Chính nhờ sự tự học (ngoại ngữ và các kiến thức khác) mà Hà Văn Tấn đã sớm khẳng định được bản thân và trở thành nhân tài từ khi còn rất trẻ. Năm 21 tuổi ông được nhà Hán học Phan Duy Tiếp tin tưởng giao cho hiệu đính bản dịch tiếng Việt cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Phần chú thích, dẫn giải của Hà Văn Tấn “dài gấp bốn lần chính văn” (115/38 trang). Để chú thích ông phải đọc, dẫn dụng tới “30 bộ sách của các tác giả Trung Quốc và 16 bộ sách của Việt Nam!”. Số tài liệu này được ông đọc trực tiếp từ nguyên văn chữ Hán…

Hà Văn Tấn đã để lại cho hậu thế một di sản có giá trị to lớn. Ông đã viết hàng trăm bài báo, luận văn, sách, tài liệu khoa học. Ở đây chỉ kể một số công trình tiêu biểu là: “Lịch sử chế độ Cộng sản nguyên thủy ở Việt Nam” (viết cùng Trần Quốc Vượng, 1960); “Sơ yếu khảo cổ học nguyên thủy” (viết cùng Trần Quốc Vượng, 1961); “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII (viết cùng Phạm Thị Tâm, 1968); “Theo dấu các văn hóa cổ” (1997)…

Trong các ấn phẩm trên, cuốn sách “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII” được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước khi Người qua đời… Cố GS. Phan Huy Lê – CT Hội Sử học Việt Nam đã nói về GS. Hà Văn Tấn: “Quả thực anh là một nhà khoa học thâm thúy, có nhiều công trình lỗi lạc, có nhiều cống hiến xuất sắc trong nghiên cứu và đào tạo khảo cổ học và nghiên cứu Việt Nam nói chung”.

Vậy mà… hôm nay ông đã thành người thiên cổ!

KÍNH VĨNH BIỆT GS. HÀ VĂN TẤN – MỘT TRONG NHỮNG “NGƯỜI THẦY LỚN” CỦA CHÚNG TÔI…!!!

TÂM VĂN

LẠI NÓI VỀ SÁCH

Chiều tối qua, trên lộ trình đi bộ, tiện đường tôi ghé vào Nhà sách Trí Tuệ (cạnh trường ĐH Thương mại, Hà Nội).

Mục đích xem có gì mới, chứ không có ý định mua. Vì trong khoảng 2 tháng nay, tôi đã khuân về mấy chục cuốn sách các loại. Tiền mua sách đã vượt khá nhiều so với “ngân sách” phân bổ cho sách rồi.

Vậy mà khi vào bên trong, ham muốn trong tôi trỗi dậy, kết quả tôi móc ví, mua 5 cuốn: “Khảo về quà tặng” (Marcel Mauss), “Gương chiến đấu” (Nguyễn Hiến Lê), “Nghệ thuật ngày thường” (Phan Cẩm Thượng), “Lịch sử nhìn lại dưới góc độ Y khoa” (Bùi Minh Đức) và “Lý luận và phê bình văn học” (Trần Đình Sử).

Tổng tiền trả nhà sách là 305 ngàn NVĐ…

Đôi điều về mấy cuốn này:

1) Cuốn “Khảo về quà tặng” đọc rất khó, vì đây là loại sách nghiên cứu của học giả nước ngoài trình bày về thành tựu nghiên cứu thuộc chuyên ngành Nhân học văn hoá (Dân tộc học).

Sách trích dẫn nhiều công trình chuyên môn sâu, rồi giải thích nhiều nội dung liên quan đến điều tra thực địa thuộc nhiều nơi trên thế giới.

Đọc cuốn này chả khác gì đọc “Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước” do Ph. Ăng-ghen viết vậy!

Song vì đây là tác phẩm tiêu biểu của nhà nhân loại học bậc thầy liên quan đến chuyên ngành xưa tôi được đào tạo ở đại học Tổng hợp. Chả lẽ không mua, không đọc?

2) “Gương chiến đấu” của Nguyễn Hiến Lê đọc không “đau đầu” như “Khảo về quà tặng”, lại rất thú vị.

Khi cầm cuốn này ở hiệu sách, tôi định không mua; nhưng xem qua nội dung thấy “có vẻ được”, nên lại thay đổi quyết định = mua.

Tôi đã đọc nhiều sách của Nguyễn Hiến Lê. Tôi rất khâm phục ông và ở một khía cạnh nào đó, tôi còn chịu ơn học giả này.

Vào nửa cuối thập niên 1980, do gặp nhiều áp lực của cuộc sống, tôi mắc bệnh, sức khỏe giảm sút rất nhiều…

Đúng thời điểm cam go tôi gặp cuốn “Quẳng gánh lo đi mà vui sống” (do ông dịch ra tiếng Việt).

Cuốn sách đã “cứu” tôi trong đoạn đời bi đát đó… Nguyễn Hiến Lê là một học giả – một tài năng lớn của nước Việt.

3) Cuốn “Nghệ thuật ngày thường” của Phan Cẩm Thượng, lúc ở hiệu sách, cầm cuốn sách này tôi khá băn khoăn cân nhắc có nên mua hay không?

Lí do cũng đơn giản, tôi chưa đọc cuốn sách nào do ông viết. Lại nữa, lướt qua mục lục nội dung thì thấy có vẻ tản mạn, kiểu viết như tản văn.

Nhưng rồi có cái gì đó (rất khó giải thích) đã “mách bảo” tôi nên mua cuốn này… Và tôi đã mua. Khi đọc thấy quyết định mua là đúng.

Sách viết theo lối tản văn, các bài viết được xếp theo 4 chủ đề:

1. Suy nghĩ về nghệ thuật;

2. Nghệ thuật ngày thường;

3. Tản văn nhàn đàm;

4. Nông thôn và kiến trúc

Các bài trong sách đã được đăng trên một số tạp chí, báo…

Cách viết nhẹ nhàng, tác giả như thủ thỉ tâm sự cùng bạn đọc. Nhưng càng đọc càng thấy thú vị!

Cũng từ đây, tôi thường để ý đến các ấn phẩm mang tên Phan Cẩm Thượng khi đi mua sách…

4) “Lịch sử nhìn lại dưới góc độ Y khoa” của bác sĩ Bùi Minh Đức là một cuốn sách hay. Những kiến giải về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật trong lịch sử Việt Nam và thế giới dưới góc nhìn Y khoa được trình bày trong cuốn sách thật độc đáo, đọc rất thú vị.

Sách được GS. Sử học Phan Huy Lê viết lời giới thiệu. Với tác phẩm này, bác sĩ Bùi Minh Đức đã trở thành người Việt Nam đầu tiên gây dựng môn khoa học liên ngành mới: Y học – Lịch sử!

5) Cuối cùng là quyển “Lý luận và phê bình văn học” của Trần Đình Sử, được xuất bản lần đầu năm 1996.

Năm 1997 cuốn này được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam; sau đó đến năm 2000 thì nó trở thành một trong 4 cuốn sách thuộc “cụm công trình” được tặng giải thưởng Nhà nước của GS.TS Trần Đình Sử.

(Đủ thấy “Lý luận và phê bình văn học” là một cuốn sách giá trị).

Vậy là, vào một buổi chiều tà, do cơ duyên, tôi có thêm “5 người bạn”. Đời còn gì vui hơn…???

(Đã đăng trên Blog – YUME.VN/BUIDAVID, 29/7/2012)

TÂM VĂN

MỘT “NAN ĐỀ” TRONG TRIẾT HỌC HEGEL

Xin thưa bạn đọc: trong tiêu đề bài viết tôi dùng chữ “nan đề”, nhưng chưa dám khẳng quyết về tính minh xác của nó! Tôi không phải dân chuyên triết, nên nếu có dùng từ chưa chính xác thì mong các bạn lượng thứ… Chữ “nan đề” tôi dùng với hàm ý vấn đề nan giải, khó giải quyết, vậy thôi!

Chả là cũng khá lâu rồi, tôi có nghe người ta nói tới một câu nổi tiếng được Hegel sử dụng trong “một Lời Tựa khét tiếng!” của ông là câu: Cái gì hợp lý thì cái ấy tồn tại

Tôi (và nhiều người) đã hiểu và ứng dụng câu này theo tinh thần: phàm một sự vật, hiện tượng nào xuất hiện hay tồn tại trong hiện thực khách quan thì nó đều có cơ sở hay có cái lý của nó. Cứ hiểu, cứ tin một cách giản dị như vậy!

Nhưng đến một ngày, khi đọc cuốn “Các nguyên lý của triết học pháp quyền (Grundlinien Der Philosophie Des Rechts)” của G.W.F. Hegel do dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, tôi mới nhận ra mình đã “bé cái lầm”…

Kỳ thực câu mà Hegel nói là thế này: “Cái gì hợp-lý tính thì hiện thực. Và cái gì là hiện thực thì hợp lý tính”… Vậy mà mình cứ đinh ninh câu của ổng như trên…

Đến đây tôi càng thấm thía quy luật “tam sao thất bản” mà khoa Văn bản học vẫn cảnh báo những người hành nghề nghiên cứu – chớ vội tin một câu, một đoạn trích hay lớn hơn là một tài liệu nào đó mà chưa thẩm/giám định kỹ càng…

[P/s: Có lẽ, như Marx nói: “Lục tìm trong sách báo” cũng là một cái thú (như chơi chim, cây cảnh…) đem lại niềm vui cho con người…].

TÂM VĂN

“Người lái đò” thầm lặng

Hình minh họa

Mỗi thầy cô giáo là một người lái đò thầm lặng đưa ta đến bến bờ tri thức. Trong đời làm “trò” của tôi đã có biết bao thầy, cô như thế. Trong niềm vui chung chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, tôi xin viết về chú – người đồng nghiệp của tôi.

Tôi tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau khi ra trường tôi thi tuyển vào Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Thương mại.

Là ứng viên duy nhất thi vào Bộ môn, có lẽ vì thế tôi được các cô, chú, các chị trong Bộ môn rất quan tâm giúp đỡ. Trước khi thi vấn đáp, tôi nhận được sự góp ý chân thành của Bộ môn, đặc biệt là của chú về giáo án, bài giảng.

Ngày tôi thi giảng, Chú đi công tác nên không dự được. Chú chúc tôi bình tĩnh, tự tin thực hiện tốt bài giảng thử của mình. Chính nhờ sự động viên của Chú cũng như của Bộ môn mà tôi đã quyết tâm, cố gắng để thực hiện bài giảng cũng như phần thi vấn đáp đạt kết quả tốt. Tôi trúng tuyển về làm việc tại Bộ môn.

Ngay từ khi tôi mới về Trường, tôi đã nhận được sự tận tình giúp đỡ của các cô, chú, các chị và đặc biệt là sự giúp đỡ trực tiếp của Chú – người hướng dẫn tôi tập sự…

Là người nhận được sự hướng dẫn trực tiếp của Chú, tôi có điều kiện để tiếp xúc và hiểu Chú hơn. Trong quá trình tập sự, tôi được dự giờ Chú giảng ở nhiều lớp, nhiều đối tượng từ hệ chính quy đến hệ tại chức với nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau, kết hợp giữa truyền thống với hiện đại.

Hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Giáo dục – Đào tạo và của nhà trường về đổi mới phương pháp dạy học, có thể nói, Chú là người đi đầu của Bộ môn chúng tôi về việc thực hiện giảng dạy bằng giáo án, bài giảng điện tử.

Tôi thật sự bất ngờ khi biết chú sử dụng thành thạo máy vi tính từ năm 1996, thời điểm mà công nghệ thông tin chưa phải là phổ biến ở nước ta. Áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học, mỗi tiết giảng của Chú luôn lôi cuốn được sự chú ý của sinh viên bởi những câu chuyện, những đoạn phim về Hồ Chí Minh, bởi sự khúc chiết trong mỗi nội dung giảng.

Từ năm 2009, chúng tôi giảng dạy theo giáo trình mới về môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là thử thách mới đến với Chú và chúng tôi.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Nghề thầy giáo là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo”.

Chú đã chứng minh câu nói này là hoàn toàn đúng, và Chú đã nhân lên sự sáng tạo của mình bằng việc đọc giáo trình, tài liệu tham khảo để bổ sung cho bài giảng.

Chú là người ham đọc sách, tự học, nghiên cứu qua sách vở, báo chí… Chú nói với tôi, tủ sách của Chú là tài sản lớn nhất, tài sản tri thức Chú dành cho các con.

Mặc dù đến tháng 5/2009 chúng tôi mới nhận được giáo trình mới; song Chú đã nhanh chóng nghiên cứu, soạn bài giảng điện tử và tiếp tục giảng dạy theo tinh thần đổi mới của nhà trường.

Nếu ai đã từng được học và làm việc với Chú đều nhận thấy ở Chú là người cẩn trọng, khoa học, nghiêm túc và hết sức nhiệt tình, tận tâm với nghề.

Là giảng viên tập sự, tôi đã học được ở Chú đức tính luôn luôn cẩn thận, nghiêm túc trong công việc. Bởi như một nhà tư tưởng đã từng nói: “Nếu một người thợ kim hoàn làm hỏng một đồ vàng bạc thì anh ta có thể đem nấu lại. Nếu một viên ngọc quý bị hư thì có thể phá bỏ… Nhưng làm hư một con người là một tội lớn, một lỗi lầm lớn không thể nào chuộc được”.

Để giáo dục một con người vừa “hồng” vừa “chuyên” thật không dễ dàng, đơn giản… Học phần mà chúng tôi giảng dạy không chỉ cung cấp cho các em sinh viên những tri thức khoa học mà còn giáo dục cho các em về bản lĩnh chính trị, về đạo đức làm người.

Trong mỗi bài giảng của Chú luôn thể hiện rõ điều đó. Tôi còn nhớ một buổi đi dự giờ, Chú giảng về giá trị truyền thống dân tộc. Mặc dù nội dung bài học chỉ nói về truyền thống yêu nước, thông minh, sáng tạo… của dân tộc ta; nhưng Chú đã lồng ghép thêm một nội dung quan trọng khác là truyền thống tôn sư trọng đạo.

Người Việt Nam (nói rộng ra cả người phương Đông) chẳng mấy ai không biết câu nói: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy) của cha ông. Mỗi khi nghe câu nói đó có ai buông những lời thiếu trân trọng về người thầy của mình, ta lại nhớ đến câu đó như một lời nhắc nhở về “đạo làm trò”.

Tôi nghĩ lời răn lớn nhất của câu này là: Làm người, trước sau như một phải luôn ghi lòng tạc dạ công ơn những ai đã dạy mình nên người. Bởi có ai nên người mà không phải tích luỹ những điều đã được dạy, được học?

Vâng, tôi cũng đã được Chú dạy và cũng học được ở Chú biết bao nhiêu điều.

Chú không chỉ là người thầy lớn của tôi trong cuộc sống. Chú không chỉ hướng dẫn tôi hoàn thiện kiến thức trong mỗi trang giáo án, trong mỗi bài giảng mà Chú còn là người chỉ bảo cho tôi  bao điều hữu ích, từ cách cư xử, giao tiếp, quan hệ với đồng nghiệp đến ứng xử phù hợp với sinh viên trên giảng đường và ngoài cuộc sống…

Xin được cám ơn Chú – người Thầy – “Người lái đò thầm lặng” – đã chở tôi qua sông!  Để đến hôm nay tôi cũng sẽ bước tiếp, cũng sẽ như Chú, chở những chuyến đò đi tới những bến bờ tri thức…

                                                                    NGÔ THỊ MINH NGUYỆT

TÂM VĂN

NGHỀ BẮT VÀ NUÔI RẮN Ở PHỤNG THƯỢNG

Phụng Thượng, một làng quê nằm trong miền đất cổ xứ Đoài xưa, nay là một xã thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây.

Hoạt động kinh tế của cư dân nơi đây chủ yếu là nghề trồng trọt, chăn nuôi, kết hợp với chút ít nghề phụ: mộc, xây, dệt, rèn và buôn bán nhỏ.

Trong những thập niên gần đây, bên cạnh nông nghiệp, nhiều ngành nghề khác của thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ được mở mang, phát triển. Riêng trong nông nghiệp, hoạt động chăn nuôi vừa mang tính kế thừa truyền thống (nuôi gia súc, gia cầm, cá) lại vừa mang tính đổi mới (nuôi các loại đặc sản như: rắn, ếch, ba ba, chim cút…). Trong đó, hoạt động bắt và nuôi rắn là một hướng phát triển mới của kinh tế Phụng Thượng.

Phát sinh là nghề bắt rắn…

Xưa Phụng Thượng không có nghề bắt và nuôi rắn, chỉ đi bắt cua, ốc, ếch… Ở đây, nghề bắt cua là một hoạt động có ý nghĩa đối với một bộ phận cư dân Phụng Thượng. Ca dao làng Phụng Thượng phản ánh rõ hoạt động bắt cua nơi đây: Doanh Bằng là đất mò cua/ Ngày ngày cái giỏ đi khua khắp đồng. Hay: Trong làng cắt cỏ tài ghê/ Chả bằng ngoài trại nó lê một hồi.

Theo dân làng kể lại, cách đây khoảng 50 năm, có ông Hai Nước (người Thổ Tang, Vĩnh Phúc) thường đến Phụng Thượng bắt rắn. Bấy giờ, ở làng Phụng Thượng có ba ông – Trang, Hành, Mai thường đi bắt ếch đã tò mò đi theo xem ông Hai Nước bắt rắn; sau đó học nghề bắt rắn.

Từ năm 1949 ba ông chuyển từ bắt ếch sang làm nghề bắt rắn. Lịch sử phát triển ngành nghề của Phụng Thượng có thêm nghề bắt rắn…

Ông Trang kể lại: Thời kỳ đầu ba ông đi bắt rắn chung, được rắn bán lấy tiền chia nhau. Địa bàn hoạt động của các ông là Phụng Thượng và các xã khác lân cận trong vùng, trong tỉnh.

Các ông bắt tất cả các loại rắn – hổ mang, cạp nong, cạp nia, rắn ráo… Sau này khi hành nghề thành thạo ba ông tách ra làm ăn riêng cùng với con cháu trong nhà. Ông Trang và 4 con trai ông đều theo nghề bắt rắn. Đến năm 1978-1982, ông còn kiêm thêm việc mổ rắn thuê cho Xí nghiệp Dược phẩm I của tỉnh Hà Sơn Bình.

Cùng thời gian này, gia đình ông Trang vừa làm nghề bắt rắn vừa thu mua rắn ở các nơi bán cho xí nghiệp trên, đồng thời đi mổ rắn thuê cho họ.

Những năm này, thị trường trong ngoài nước có nhu cầu về rắn để ngâm rượu, làm thuốc và xuất khẩu. Các loại rắn – hổ mang bạnh, cạp nong, cạp nia, hổ mang thiếc và rắn ráo hợp thành bộ “ngũ xà” và ba loại – hổ mang, cạp nong, rắn ráo thì hợp thành bộ “tam xà” bán rất có giá trị kinh tế.

Từ năm 1982, Xí nghiệp Dược phẩm Hà Sơn Bình thôi không thu mua rắn nữa nhưng ông Trang và các con ông vẫn tiếp tục nghề bắt rắn, làm ruộng và…

… Chuyển dần sang nuôi rắ

Thời kỳ đầu ông Trang nuôi các loại rắn: hổ mang, cạp nong, cạp nia nhưng không thành công lắm vì rắn hay bị chết.

Trong những năm này, có một người Trung Quốc sang đặt hàng thu mua rắn cạp nong, cạp nia con mới nở với giá 2.500 đồng một con. Thế là gia đình ông Trang xoay sang nuôi rắn chửa đẻ, lấy chứng ấp nở để bán rắn con. Nhưng sau một thời gian thấy nuôi rắn đẻ không có lãi (do nuôi khó khi ấp nở, rắn con hay bị chết), nên ông Trang thôi không nuôi nữa, nhưng vẫn tiếp tục đi bắt rắn, nuôi các loại rắn để bán.

Từ tháng tư (âm lịch) năm 1993, gia đình ông Trang bắt đầu tiến hành nuôi rắn Hổ chúa. Đây là loại rắn hổ mang to, có màu đen, sọc trắng và có các khoang vàng. Loại rắn này có nọc cực độc và môi trường sinh sống là những khe, hang hốc vùng núi đá, rừng rậm…

Việc ông Trang quyết định nuôi rắn Hổ chúa bắt nguồn từ một sự kiện khá lý thú. Một lần do ông nhốt rắn Hổ chúa với 2 con rắn ráo trong cùng một chuồng. Đến hôm sau, ông không thấy 2 con rắn ráo đâu nữa, trong khi chuồng nuôi rất kín đáo, chắc chắn rắn không thể bò ra ngoài được.

Trước việc đó, ông suy nghĩ và rồi phát hiện ra – rắn Hổ chúa đã ăn 2 con rắn ráo nhốt chung chuồng. Ông Trang nghĩ, có thể nuôi được rắn Hổ chúa, vì ông đã tìm ra loại tức ăn nuôi chúng. Nghĩ sao, làm vậy, ông Trang và hai con trai ông năm đầu tiên đã nuôi thử mấy chục con rắn Hổ chúa.

Sau một năm thử nghiệm thấy thành công, gia đình ông quyết định mở rộng chuồng trại, đầu tư phát triển nuôi số lượng nhiều hơn. Liên tục trong nhiều năm gia đình ông gặt hái thành công và trở nên khá giả nhờ nuôi rắn Hổ chúa.

Nhiều gia đình trong thôn, xã học và làm theo, tạo thành một phong trào nuôi rắn phát triển mạnh mẽ ở Phụng Thượng. Hiện nay, theo thống kê sơ bộ, ở Phụng Thượng có khoảng 70% số hộ gia đình nuôi rắn (xã có khoảng 2.550 hộ) và hoạt động này đã đem lại nguồn thu nhập lớn cho họ. Số lượng rắn Hổ chúa nuôi trong các gia đình có khác nhau, tuỳ thuộc vào nguồn vốn và các năng lực lao động khác.

Ai nhiều vốn, nhiều nhân lực và kinh nghiệm thì nuôi tới hàng trăm con. Nguồn cung cấp rắn Hổ chúa giống chủ yếu từ hai nước Lào và Căm-pu-chia. Giá mua các loại rắn giống cũng khác nhau.

Vào đầu năm 1998, nếu mua một rắn giống có trọng lượng từ 0,5-1kg giá tiền là 450.000 đồng/kg; từ 1-3kg giá 650.000 đồng/kg; từ 3-5kg giá 480.000 đồng/kg. Giá loại rắn giống thứ ba rẻ hơn loại hai vì vốn mua một con quá lớn, nhiều người không đủ tiền mua nên có ít người mua, nên giá rẻ hơn.

Đến khi bán rắn, từ 2-5kg giá 440.000 đồng/kg; từ 6,7kg đến 20kg là 480.000 đồng/kg… Loại rắn hổ mang bình thường khi mua rắn giống từ 0,5-1kg giá 230.000 đồng/kg; từ hơn 1kg đến 5kg giá 90.000 đồng/kg. Thức ăn để nuôi loại rắn hổ mang bình thường là chuột, cóc. Khi bán nếu trọng lượng từ 1-1,5kg giá là 210.000 đồng/kg; từ 1,6-2,3kg giá bán là 250.000 đồng/kg.

Hàng năm người ta bắt đầu mua rắn giống và tiến hành nuôi từ tháng 3 âm lịch, kết thúc vụ và bán rắn vào khoảng tháng 11 âm lịch. Đây là khoảng thời gian tiết trời ấm nóng phù hợp cho rắn sinh trưởng. Đến mùa lạnh (từ cuối thu trở đi) là lúc rắn “ngủ đông”, các gia đình bán rắn cho các thương lái mang đi Trung Quốc.

Tại Phụng Thượng người ta mới chỉ nuôi được rắn Hổ chúa có trọng lượng lớn nhất tính đến khi bán là 17-18 kg. Thường một rắn giống khi mua nuôi đến khi bán tăng trọng trung bình gấp đôi.

Thức ăn cho rắn Hổ chúa là các loại rắn khác, nhỏ hơn như rắn nước, rắn ráo… Phổ biến nhất là rắn nước. Các gia đình đi bắt hoặc mua rắn nước về làm mồi nuôi Hổ chúa. Một con Hổ chúa loại trung bình một ngày tiêu thụ hết 0,2-0,3 kg rắn mồi. Rắn càng to, lượng thức ăn nuôi chúng càng hết nhiều.

Khi cho rắn Hổ chúa ăn người ta chặt bỏ đầu đuôi và rạch bụng rắn mồi giúp rắn Hổ chúa dễ tiêu thụ thức ăn, không bị chướng bụng, hay bị bệnh chết.

Từ cuối mùa Thu trở đi, khi thời tiết lạnh dần là lúc rắn lười ăn. Người nuôi phải chủ động “nhồi” cho rắn ăn. Đây là công việc rất nguy hiểm đối với người nuôi. Khi làm công việc này, thường phải có 2-3 người phối hợp thực hiện.

Một người nắm đầu rắn để nhồi thức ăn, còn 1-2 người khác giữ thân, phối hợp với người giữ đầu nhồi và vuốt cho thức ăn trôi dần vào bụng rắn. Cụ thể, người nắm đầu bóp cho miệng rắn há ra để đưa thức ăn vào. Người này dùng một chiếc đũa hoặc que tre chọc vào bụng rắn mồi rồi từ từ đưa vào miệng – họng rắn Hổ chúa rồi vuốt dần cho thức ăn trôi xuống phần bụng. Mỗi ngày một lần người nuôi nhồi cho Hổ chúa ăn từ 3-4 con rắn mồi con. Để rắn tăng trọng nhanh và không bị bệnh, người nuôi còn trộn cả thuốc B1 và Ganidan được tán nhỏ vào cho rắn ăn.

Đầu tư xây dựng chuồng trại nuôi rắn không tốn kém bằng mua rắn giống và thức ăn cho rắn. Chuồng được làm khá đơn giản, có hình vuông hoặc hình chữ nhật, diện tích độ 40-50cm2 chiều cao 70-80cm.

Bên trên có nắp đậy bằng xi măng hoặc bằng gỗ (có người căng lưới sắt) có lỗ nhỏ đủ để thò tay vào bắt và thả rắn. Đáy chuồng làm bằng gạch đất, mục đích để khi rắn bài tiết (phân, nước tiểu) được gạch này hút khô, không đọng bẩn, gây mất vệ sinh dễ làm rắn “bị nổ[2].

Về mặt kỹ thuật, chuồng nuôi rắn phải giữ sạch sẽ, ấm áp, được che đậy kín đáo, tránh gió mưa, ẩm thấp và lạnh; đồng thời không để rắn thoát ra ngoài đi mất hoặc gây nguy hiểm cho con người.

Các hộ gia đình thường làm chuồng rắn ngay trong nhà ở, nhà ngang hay dưới bếp. Cũng có một số người xây hệ thống chuồng trại riêng ở ngoài vườn, bên trên lớp ngói như nhà ở của người vậy.

Nuôi rắn ở Phụng Thượng đem lại thu nhập cao cho nhiều người dân nơi đây, nhưng nghề này nguy hiểm, nhiều rủi ro. Có nhiều người đã bị rắn cắn, hàng chục người đã chết do không cứu chữa kịp hoặc do nọc rắn Hổ chúa quá độc. Một số người có thuốc gia truyền thống chữa trị; nhưng thường chỉ hiệu nghiệm với các loại rắn bình thường như hổ mang, cạp nong, cạp nia.

Còn khi đã bị Hổ mang chúa cắn thì người ta chỉ có thể sơ cứu, sau đó phải mang gấp xuống bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) để cứu chữa. Nếu chậm trễ, tính mạng người bị Hổ chúa cắn rất khó được an toàn, thoát khỏi cái chết.


[1] – Bài đăng tạp chí Xưa & Nay, số 66, tháng VIII-1999.

[2] – “Bị nổ” là từ nhân dân địa phương dùng để chỉ chuồng không sạch, các chất thải đọng lại ở đáy chuồng bám vào da gây nên tình trạng rắn bị ghẻ, lở loét, sinh bệnh, khiến rắn có thể chết.

TÂM VĂN

VỀ MỘT CHÚ GIẢI TRONG SÁCH “ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ”

Đại Việt sử ký toàn thư là một trong ba bộ quốc sử của dân tộc ta còn lại đến ngày nay. Năm 1967, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã dịch và xuất bản thành 4 tập.

Trong lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm được nhà Hán học Cao Huy Giu dịch và và giáo sư Đào Duy Anh hiệu đính. Về sau, Đại Việt sử ký toàn thư được tái bản nhiều lần.

Đặc biệt khi phát hiện ra bản in xưa nhất thuộc năm Chính hoà thứ 18 (1697), Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã tổ chức nghiên cứu, phiên dịch và xuất bản thành 4 tập, khổ lớn. Trong đó, ba tập đầu là nội dung tác phẩm, còn tập 4 là phần nguyên văn chữ Hán của toàn bộ tác phẩm.

Như vậy, từ trước đến nay bộ sách này đã qua nhiều lần xuất, tái bản; mỗi lần đều có sự chỉnh lý, bổ sung cho hoàn thiện hơn.

Tuy nhiên, gần đây một người bạn[2] của tôi phát hiện có một địa danh lịch sử sách chú giải chưa chính xác.

Tôi đọc và kiểm tra lại Đại Việt sử ký toàn thư thì thấy đúng như vậy. Vì thế tôi viết bài này những mong các nhà nghiên cứu và làm sách xác định và đính chính lại địa danh đó để bộ quốc sử nếu được tái bản sẽ hoàn chỉnh hơn.

Trong tập IV của Đại Việt sử ký toàn thư (in lần thứ hai, năm 1973, từ trang 183 đến 185) và tập III (sách mới, xuất bản năm 1998, từ trang 168 đến 170) đã mô tả về trận chiến giữa quân đội Lê-Trịnh với quân đội nhà Mạc ở địa phận xã Phấn Thượng.

Đây là trận đánh lớn trong cuộc chiến lâu dài giữa hai thế lực phong kiến. Đại Việt sử ký toàn thư đã mô tả sự kiện này như sau[3]:

“Ngày Nhâm Tý 21, ban đêm, mặt trăng phạm vào sao Tuế. Bấy giờ, họ Mạc bàn cử hết đại binh, thúc gọi binh mã 4 trấn, 4 vệ, 5 phủ quân, được độ hơn 10 vạn, hẹn đến ngày 16 tháng ấy hội quân ở Hiệp Thượng, Hiệp Hạ để quyết chiến (…)”.

Ngày 27, chia đường cùng tiến. Đến địa phận xã Phấn Thượng, hai bên đối trận với nhau, dàn bày binh mã (…).

Kết cục của trận chiến: “(…) Quân Mạc kinh hoàng, cánh quân tả không kịp trông cánh hữu, quân sau không kịp nhìn quân trước, binh lính tuy đông nhưng cờ xí lộn xộn, hàng ngũ đã rối loạn, quan quân nhân thế đánh tan.

Các quân thừa thắng đuổi dài đến Giang Cao, chém được hơn 1 vạn thủ cấp, máu chảy khắp đồng, thây chết thành núi, cướp được khí giới và ngựa nhiều không kể xiết.

Mạc Hậu Hợp sợ đến vỡ mật, xuống thuyền vượt sông mà chạy. Tàn quân tranh nhau xuống thuyền, sợ thuyển đắm, lấy gươm chặt đứt tay rơi xuống sông chết đến quá nửa, còn lại thì đứa nào đứa nấy đều chạy trốn.

Duy chỉ có tướng Nam đạo là Nguyễn Quyện lánh xa nên được an toàn. Mạc Hậu Hợp trốn về kinh ấp…”.

Trong đoạn mô tả trên, địa danh Phấn Thượng (ở trang 169, sách mới xuất bản năm 1998) được chú thích ở cuối trang là: 2-Phấn Thượng: sau là xã Tảo Thượng, nay là xã Ngọc Tảo, huyện Tùng Thiện, tỉnh Hà Tây”.

Còn trong bản dịch và xuất bản lần đầu (tái bản năm 1973), ở cuối sách – phần “Chú giải và khảo chứng”, trang 355, giáo sư Đào Duy Anh đã chú giải:

(53) Phấn-Thượng: Cương mục q.29 chú tức là xã Tảo Thượng huyện Tùng-thiện, nay là xã Ngọc-tảo huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây”.

Tương tự, một tác phẩm khác của Lê Quý Đôn mới được tái bản gần đây, ông Nguyễn Khắc Thuần cũng chú giải địa danh này là “thuộc huyện Tùng Thiện (Hà Tây)”[4].

Xem xét và đối chiếu kỹ các chú giải trên đây, chúng tôi nhận thấy, hình như các tác giả sau đều lấy lại tinh thần chú giải của giáo sư Đào Duy Anh, có khác chăng chỉ là về cách diễn đạt hay ngôn từ.

Rất tiếc, theo suy nghĩ của chúng tôi, các chú giải trên đều chưa chính xác.

Theo thông báo trong chú giải của giáo sư Đào Duy Anh, chúng tôi biết giáo sư đã căn cứ vào bộ quốc sử của triều Nguyễn – Cương mục để chú giải về địa danh Phấn Thượng.

Nhưng khi khảo cứu lại Cương mục chúng tôi thấy sách này chỉ có “Lời chua”: “Phấn Thượng: Nay là xã Tảo-thượng. Từ Mã-yên đến Phấn-thượng trên đều thuộc tỉnh Sơn-tây”[5].

Như vậy, nếu so sánh hai chú thích trên (của Cương mục và của giáo sư Đào Duy Anh), chúng ta thấy có sự khác nhau rất cơ bản.

Cương mục chỉ “chua”: “Phấn-thượng nay là xã Tảo-thượng”, còn trong chú giải của giáo sư Đào Duy Anh lại có thêm đoạn giải thích: “(…) xã Tảo-thượng thuộc huyện Tùng-thiện, nay là xã Ngọc-tảo, huyện Tùng-thiện, tỉnh Hà-tây”.

Chúng tôi chưa có điều kiện xác minh xem giáo sư Đào Duy Anh đã căn cứ vào đâu để “chú” thêm đoạn này…

Song, có lẽ do sự nhẫm lẫn bắt nguồn từ đây mà về sau các sách đều chú giải “sai giống nhau” về địa danh này!

Vậy, sự thực địa danh Phấn Thượng là ở đâu trong cương vực địa lý nước ta hiện nay?

Chúng tôi cho rằng, Phấn Thượng chính là Phụng Thượng – một xã thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây ngay nay.

Khi xác định như vậy, chúng tôi đã dựa vào các căn cứ sau đây:

1) Theo nguồn tài liệu điều tra, khảo sát thực địa của chúng tôi. Qua lời kể của nhân dân địa phương[6] và hiện tại, trong địa giới xã Phụng Thượng vẫn còn 2 voi đá, 2 ngựa đá (trong đó có 1 con phục chế lại) được tạo dựng từ thời Lê-Trịnh ở đầu thôn Tây của xã, di tích này cách quốc lộ 32A Hà Nội – Sơn Tây khoảng 100 mét.

2) Theo sách Sơn Tây tỉnh dư địa chí, ông Phạm Xuân Độ cũng cho biết: “Ai qua làng Bún-thượng trên đường Hà Nôi – Sơn Tây, tất cũng nhận thấy 2 voi và 1 ngựa đá đứng trơ trơ giữa cánh đồng ruộng phẳng lỳ. Nơi này vốn xưa có đền thờ các trận vong tướng sỹ đời Lê Trung hưng.

Nguyên vua Lê Trang Tông bị nhà Mạc cướp ngôi, phải chạy vào Thanh Hoá. Sau gặp trung thần là Nguyễn Kim, bèn ra khôi phục đất Thăng Long. Quân Mạc lúc bấy giờ phải lui về Bún-thượng.

Quân Lê tiến đến chợ Săn thuộc huyện Thạch Thất, nhân đêm tối phát cơm cho binh lính, rồi kéo đến phá tan quân Mạc, nên đã có câu: “Cơm nắm chợ Săn phá tan Bún-thượng”.

Nhà Lê muốn kỷ niệm chiến công, cho lập đền thờ các tử sĩ và tạc voi đá, ngựa đá. Lâu năm đền cổ đổ nát, rồi vật đổi sao dời, ngày nay chỉ còn voi ngựa quỳ phục ở giữa đồng không cảnh vắng, như thể đánh dấu một cuộc tang thương”.

Ông Độ còn giải thích về tên làng Bún như sau: “Phấn-thượng nay là làng Phụng-thượng, thuộc huyện Phúc-thọ”.

Ở cuối trang sách, ông còn chú thích: “Cũng vì làng Phụng-thượng, xưa kia gọi là Phấn-thượng, nên ngày nay mới có tên tục là làng Bún”[7].

3) Qua khảo cứu một số sách có nói đến địa danh trên đất nước ta tương đối cụ thể như: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX và Nomenclature des Communes du Tonkin của Ngô Vi Liễn, chúng tôi thấy – không có tài liệu nào nói đến Phấn Thượng thuộc về huyện Tùng Thiện.

Như vậy, dựa vào các căn cứ trên đây chúng tôi nhận định:

Phấn Thượng không phải là một địa danh (mà nay là xã Ngọc Tảo) thuộc huyện Tùng Thiện tỉnh Hà Tây như các sách trên đã chú giải, mà Phấn Thượng chính là Tảo Thượng (hay Cảo Thượng – thời Nguyễn), rồi về sau được đổi thành Phụng Thượng[8] – một xã thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây như ngày nay.


[1] Bài đăng tạp chí Xưa & Nay, số 56, tháng 10-1998.

[2] Anh Trần Văn Ẩm, trước học cùng đại học với tôi, hiện đang công tác tại Ban Tuyên giáo Huyện uỷ huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây.

[3] Sách mới (theo bản Chính hoà thứ 18) – tập III, xuất bản năm 1998.

[4] Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, 1996, tr. 248.

[5] Quốc sử Quán: Việt sử thông giám cương mục chính biên, tập XIV, quyển thứ 29, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, tr. 87.

[6] Nhân dân địa phương kể lại: Trận đánh lịch sử trên đã làm chết và bị thương rất nhiều người thuộc cả hai bên tham chiến. Vì thế, triều đình phong kiến đã chỉ dụ cho quan quân, dân chúng địa phương lập đền thờ các binh sỹ trận vong tại địa điểm diễn ra trận chiến.

Trước cửa đền thờ này tạc 4 tượng đá lớn, gồm 2 voi đá, 2 ngựa đá. Tương truyền trước đây vào một đêm giông bão, 1 trong 4 tượng đá (ngựa) bị thần lấy đi, nên hiện chỉ còn 3. Có người cho rằng, ai đó đã lấy mất 1 tượng – ngựa đá để nung vôi hay dùng vào việc gì đó. Về sau nhân dân địa phương phục chế lại. Còn đền cổ Tảo Thượng (Phụng Thượng) thì bị phá huỷ trong thời Pháp thuộc.

[7] Phạm Xuân Độ: Sơn Tây tỉnh địa chí, 1941, tr. 158 và tr. 169.

[8] Lịch sử Đảng bộ và nhân dân Phụng Thượng, tập I (1930-1954), Đảng uỷ xã Phụng Thượng, 1995, tr. 7.

TS Bùi Hồng Vạn (TMU)

TÂM VĂN

TUỔI 60 – TUỔI “KHỞI SINH”

Đó là tên cuốn sách nổi tiếng thuộc bộ Happy Life, bộ sách bán chạy nhất tại “đất nước mặt trời mọc” của Ken Honda. Sách đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng.

Tại Việt Nam, cuốn sách được Nguyễn Thùy Linh dịch sang tiếng Việt và được nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản quý I năm 2018.

Ảnh bìa trước cuốn sách

Sách gần 200 trang, in khổ 12x18cm, 5.000 bản. So với nhiều ấn phẩm khác đây là cuốn sách “bé”; nhưng là “Bé hạt tiêu/Bé bé nhỏ bé xiêu lòng người” (Xuân Diệu), “bé nhưng nó có võ”…

Cuốn sách như một lời khẳng định tuổi 60 chưa phải là già. Ngày xưa Cụ Hồ cũng đôi lần nói theo kiểu uy-mua (hài hước) về cái tuổi này:

Chưa năm mươi tuổi đã kêu già

Sáu ba mình nghĩ vẫn là đương trai…

Cụ Hồ thuộc “típ” người lạc quan nên Người nói và sống như vậy là phải.

Còn nói đến tuổi 60, Đức Khổng Tử nói kiểu khác: “Lục thập nhi nhĩ thuận”.

Những người sống đến độ tuổi 60 thì đã từng trải, nếm đủ mọi đắng cay, ngọt bùi. Họ nghe gì cũng lọt tai… và hầu như không còn ganh đua và tham vọng. Mặc thiên hạ ai nói/làm gì; họ đứng ngoài mọi cuộc chơi, sự lý của đời sống.

Tất nhiên triết lý sống của Khổng Tử có người theo, người không theo. Vì con người đa dạng về tính cách, nhân sinh quan, thế giới quan; nên chọn lối sống lạc quan hay bi quan là tùy từng người…

Trong cuốn “Tuổi 60 khởi sinh”, Ken Honda chủ trương tuổi lục thập nên/cần làm những việc này: “Làm những việc bạn muốn làm năm 20 tuổi”, “Gặp lại bạn bè”, “Bỏ đi suy nghĩ thôi vậy”, “Nhận định rõ ràng mối quan hệ với bạn đời”, “Không bám víu vào công việc”, “Đừng để mình đau đầu về vấn đề tiền bạc”, “Có sở thích cá nhân”, “Có những người bạn trẻ tuổi”, “Đừng đếm số tuổi hưởng dương của bố mẹ bạn”, “Đi du lịch”, “Học những điều mới”, “Tìm kiếm những phương pháp giữ gìn sức khỏe phù hợp với bản thân”, “Tìm ra lẽ sống của cuộc đời mình”, “Không can thiệp vào cuộc sống của con cái”, “Đầu tư cho tương lai”, “Nói lời yêu thương”…

Những việc Ken Honda nêu trên xét cho cùng là sự khẳng định: Tuổi 60 cần lựa chọn một cách sống sống tích cực, để không phải hối hận

Tôi thực sự cảm ơn Ken Honda vì đã cho ra đời cuốn sách này. Càng đọc, càng ngẫm mới thấy đây là cuốn sách hay; “trung thư hữu ngọc”.

Cuốn sách có giá trị kích hoạt tinh thần, giúp tôi phấn chấn hẳn lên.

Vậy là tuổi 60 không như mình (và nhiều người khác) vẫn nghĩ.

Tuổi 60 cũng là “thời điểm khởi sinh, thời điểm bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới”… Cảm ơn ông Ken Honda thật nhiều!

TÂM VĂN

“CÔ ĐƠN, CÔ ĐƠN HƠN NỮA…”

Trong bài viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (“Con đường văn học”) có câu: “Cô đơn, cô đơn, cô đơn hơn nữa”. Hàm ý câu này là gì? 

Trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, cô đơn là một thuộc tính vốn có từ xa xưa. Dẫu vẫn biết con người cần phải sống trong tập thể, sống với cộng đồng. Nhưng nếu họ không có những khoảng lặng (cô đơn) thì khó mà tồn tại, chứ đừng nói đến sáng tạo, phát triển. 


Con người cần sống hài hòa giữa tập thể và cá nhân. Sự kết hợp – kết nối – tương tác – hợp tác giữa các cá nhân tạo nên giá trị “NGƯỜI” trong phạm trù CON-NGƯỜI. Song, họ cũng rất cần những “khoảng lặng”, sống trong sự tĩnh lặng, cá nhân (CÔ ĐƠN). 


Nếu tất cả chỉ có ồn ào, náo nhiệt, tập thể thì con người có nguy cơ mắc bệnh do sự mất quân bình trong cuộc sống là khá cao. Triết lý phương Đông đã định nghĩa bệnh chính là biểu hiện của mất quân bình ÂM-DƯƠNG. Chữa bệnh (thực chất) là lập lại thế quân bình âm dương cho cơ thể con người.

Sự tĩnh lặng, trạng thái cô đơn là cực kỳ cần thiết đối với MỖI CON NGƯỜI. Trong những giờ phút tĩnh lặng, người ta tập trung suy ngẫm, phát hiện và tạo nên những thành tựu vĩ đại. Đó là những phát kiến, phát minh về khoa học, kỹ thuật, công nghệ; những sáng tạo về tư tưởng, triết lý; những tri kiến mang tính đột phá, khai minh… Những nhà tu hành, các đạo sư thường giác ngộ ĐẠO trong sự tĩnh lặng của môi trường sống.

Như vậy, cô đơn trở thành một phần – một điều kiện – một tiền đề thiết yếu giúp con người tạo nên những giá trị, những thành tựu văn hóa, văn minh… (Có lẽ) vì thế mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã khẳng định: “Cô đơn, cô đơn, cô đơn hơn nữa – đấy là lối mòn bậc thánh nhân”. Không phải chỉ có Nguyễn Huy Thiệp, trên thế giới rất nhiều người chia sẻ tư tưởng này và họ thường biến sự cô đơn thành một trong những điều kiện để tạo nên giá trị, sự thành công, phát triển…

Trong số những người cô đơn thì các vĩ nhân là những người cô đơn nhất. Do họ có khả năng vượt trội so với những người khác về một lĩnh vực nào đó nên hầu hết/tất cả mọi người không hiểu và không thể chia sẻ được với tư tưởng, hành động của họ… Dưới góc nhìn của Nguyễn Huy Thiệp vua Gia Long (triều Nguyễn) là “một khối cô đơn khổng lồ”. Tương tự, những Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Trường Tộ, Hồ Chí Minh… cùng các nhân vật lịch sử khác như: Ga-li-lê, Hê-ghen, Can-tơ, C.Mác, Lê nin, Anh-xtanh, Niu-tơn, v.v… đều là những người/kẻ CÔ ĐƠN ở những mức độ khác nhau. 


Chuyện kể lại khi Hê-ghen công bố hệ thống triết học của ông thì không một người đương thời nào hiểu nổi. Khi nằm trên giường bệnh, Hê-ghen nói: Chỉ có một học trò hiểu triết học của ông, nhưng tiếc rằng, anh ta lại hiểu… sai (!). BUỒN, CÔ ĐƠN của các VĨ NHÂN là thế…!!!

Vậy cái kết của bài này có thể/nên/là: CÔ ĐƠN LÀ BUỒN, NHƯNG CON NGƯỜI VẪN CẦN ĐẾN SỰ CÔ ĐƠN…!!!

TÂM VĂN

“ĐAU LÒNG” SÁCH BIẾU, SÁCH TẶNG

Xưa nay, chuyện tặng nhau sách, báo và các vật phẩm khác đã trở thành một nét văn hóa, thói quen của không ít người. Nhưng nếu chịu khó quan sát, để ý thì việc trao tặng, nhận và sử dụng quà tặng này cũng khối chuyện để nói.

Tôi có một thú vui (hơn nhiều thú vui khác) là đọc sách. Thành thử, cứ khi nào có thời gian rỗi tôi lại “lượn lờ” qua các hiệu/nhà sách lớn nhỏ ở Hà Nội. Chiều qua, do ngồi nhà đọc sách mãi thấy mệt nên quyết định lên “ngựa sắt” (xe máy) đi săn sách cũ.


Khi đến một cửa hàng chuyên bán sách cũ (Hà Nội) tôi tìm được gần chục cuốn sách cũ rất giá trị (tất nhiên là với tôi). Trong số sách tôi mua được có hai cuốn tôi coi là của quý. Đó là hai cuốn: “Nguyễn Cảnh Toàn – Tuyển tập các công trình Toán học và Giáo dục” (Nxb Giáo dục, 2005) và “Nguyễn Cảnh Toàn – Tuyển tập tác phẩm, Tập 2 – Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” (Đại học Sư phạm Hà Nội và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, 2001). Cuốn đầu dày 897 trang, cuốn sau dày 777 trang khổ lớn.

Mặc dù bị liệt vào hàng sách cũ, nhưng hai cuốn này còn rất mới. Người bán phát giá 300 ngàn đồng; sau thương thảo, tôi mua 2 cuốn với 200 ngàn đồng.

Tôi rất vui khi mua được hai cuốn sách trên! Vui vì đây là hai tổng tập công trình của một nhà khoa học – nhà giáo dục tên tuổi của Việt Nam, được thế giới đưa vào danh sách “một trong những trí tuệ lớn của thế kỷ 21”, thuộc tốp “500 người hàng đầu” của nhân loại do Trung tâm Tiểu sử Quốc tế phong tặng.

Trong hai cuốn sách này có bút tích đề tặng của GS Nguyễn Cảnh Toàn cho một người nguyên là quan chức cao cấp nước ta. Tuy vậy, bên cạnh niềm vui thì có cả nỗi buồn. Buồn vì hình như người được tặng sách đã không hề đọc chúng. (Vì cả hai cuốn sách đều còn rất mới, trong các trang không có chút dấu vết nào tỏ ra người ta đã đọc nó).

Tôi cứ nghĩ vẩn vơ về chuyện này: để viết được một bài đăng trên báo chí đã khó. Viết cả một cuốn sách thì cái khó nhân lên hàng chục lần. Khổ, kỳ công lắm, cả thời gian cũng nhiều lắm mới tạo ra một cuốn sách. Chả thế mà người ta coi sách như là “đứa con tinh thần” của tác giả… Vậy mà, có những người khi được tặng sách đã chẳng ngó ngàng đến nó chút nào. Có thể họ xếp những cuốn sách được tặng lên giá sách, còn tệ hơn thì vất ở một xó xỉnh nào đó. Rồi đến “một ngày đẹp trời”, những cuốn sách này sẽ được thải loại theo kiểu bán giấy vụn cho mấy bà “đồng nát”.

Trong sách “Giăng lưới bắt chim” (2010), nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có câu: “Khác với phương Tây, truyền thống chính trị phương Đông chưa hề bao giờ có sự tôn trọng đúng mức các nhà văn, các nhà tư tưởng”. Theo tôi, có thể chèn thêm vào cuối câu này dòng chữ: “và các nhà khoa học”.

Ý kiến trên đúng đến đâu, tôi không bàn. Chỉ nghĩ suy một điều nếu hôm nay người đi mua sách là GS.VS.TS.NGND Nguyễn Cảnh Toàn thì không biết ông sẽ nghĩ sao, có cảm giác thế nào về việc người ta đối xử với những đứa con tinh thần của mình? 

Còn với tôi (có thể cả bạn nữa) cần rút ra bài học – tốt nhất chỉ nên tặng sách cho những người thật sự cần và trân quý nó… 

Phan Cẩm Thượng (một nhà nghiên cứu tên tuổi về nghệ thuật Việt) đã chua chát viết ra điều này trong cuốn sách (“Nghệ thuật ngày thường”) của ông: “Không nên tặng sách cho các thi hào, danh nhân, trân trọng nhất là họ xếp lên giá sách và không bao giờ đọc”.

Ông còn chua thêm rằng: “Quan chức các ngành nhận được nhiều sách biếu nhất, thứ đến các giáo sư, tiến sĩ, danh nhân, rồi mới đến bạn bè. Sinh viên là những người cần đọc nhất thì chẳng ai tặng…”. Phải chăng đây là một trong những nghịch lý của CUỘC ĐỜI ???

(Đã đăng trên YUME.VN ngày 2/8/2012)

TÂM VĂN

CHỚ ĐÙA VỚI QUYỀN LỰC

          Trong cuộc sống nếu không tỉnh sẽ dẫn tới những hệ lụy khôn lường, có khi phải trả giá bằng cả tính mệnh của mình. Câu chuyện sau đây cho chúng ta thấy rõ điều đó:

          Chuyện kể lại, thời trẻ Tào Tháo có một người bạn học rất thân, đó là Hứa Du. Hai người chia sẻ với nhau đồ ăn, đồ chơi. Tào Tháo lúc nhỏ có tên là A Man. Hứa Du thường gọi Tào Tháo bằng tên này. Hai người hay nói đến chí hướng của mình. Hứa Du nói sau này muốn trở thành Thái thú, còn Tào Tháo mơ ước trở thành Tể Tướng. Về sau Tào Tháo làm Tể tướng còn Hứa Du làm mưu sĩ của Tào Tháo.

          Có một lần, Tào Tháo bàn chuyện quan trọng, tham gia hội nghị toàn những thủ hạ thân tín của Tào Tháo, bầu không khí lúc đó rất nghiêm túc. Đang lúc hội nghị bế tắc, Hứa Du đi đến trước mặt Tào Tháo, vỗ vào tay của Tào Tháo mà nói: A Man, sao anh ngốc nghếch thế… Tất cả mọi người trong phòng lặng đi, nhiều người lộ vẻ mặt bất bình. Nhưng Tào Tháo lại cười ha hả rất to, không tỏ ra chút nào là bực bội… 

          Mưu sĩ Trình Dục đến gặp và nói với Tào Tháo: Hứa Du chỉ là một người bạn học thuở nhỏ của ngài, việc vừa rồi thực ra là làm nhục Tể tướng. Ngài sao không trừng phạt hắn? Lúc đó Tào Tháo nói với Trình Dục: Hứa Du là người bạn học tốt của ta hồi nhỏ, lại là ân nhân cứu ta hai lần trong đời… Ta sao có thể vì hắn gọi tên của ta thời nhỏ mà trị tội hắn chứ? Sau vài lần khuyên can không được, Trình Dục cáo từ. Hứa Chử, Trương Liêu cùng nhiều võ tướng khác cũng gặp, đề nghị Tào Tháo trị tội Hứa Du nhưng Tào Tháo đều chối từ…

Chuyện tưởng dừng lại ở đó, nhưng cái kết chuyện Tào Tháo – Hứa Du lại “có hậu” như sau: Năm đó, đất Hứa Đô đại hạn, lương thực thiếu hụt. Tào Tháo hỏi Hứa Du phải làm gì? Hứa Du nói: Nhân dân không có lương thực để ăn; nhưng các quan phủ, quý tộc lại lấy lương thực để nấu rượu, thật lãng phí. Tào Tháo lập tức truyền lệnh toàn thành từ nay cấm uống rượu, người trái lệnh sẽ bị xử trảm. Tào Tháo sai Hứa Chử, Trương Liêu cùng các võ tướng đi tuần, gặp người uống rượu cứ xử theo chính pháp.

Tối hôm đó, Tào Tháo lặng lẽ đón Hứa Du vào tướng phủ uống rượu. Tháo nói người khác không được uống, nhưng bạn học là ngoại lệ. Hứa Du gật đầu: “Được, A Man…”. Rồi hai người chén thù, chén tạc cho đến say. Hứa Du mơ mơ màng màng rời tướng phủ. Đêm khuya, ánh trăng mờ ảo. Hứa Du đang bước thấp, bước cao trên đường về nhà thì có tiếng vó ngựa dồn dập; Hứa Chử phụng mệnh Tể tướng đi tuần đêm. Gặp Hứa Du, Hứa Chử sai lính bắt trói lại. Khi đó, Hứa Du nói mình cùng A Man uống rượu thì làm gì có tội? Hứa Chử vung đại đao, Hứa tiên sinh như chiếc lá mùa thu rụng trên mặt đất.

Đám tang Hứa Du được tổ chức vào một ngày đẹp trời. Dân chúng toàn thành kéo đến xem người vốn được khen là bạn học tuyệt đỉnh thông minh của Tể tướng. Kèn đám vang lên thống thiết, một giọng cảm động của phường bát âm cất lên khúc hát tư vãn. Tào Tể tướng khóc bạn rất bi thương, ngất đi mấy lần. Những người đi bên cạnh thấy miệng ngài mấp máy. Họ lắng nghe được câu ngài nói đi, nói lại: “Từ nay còn ai gọi ta là A Man nữa!”. 

       Tào Tháo được tả hữu dìu đến bên linh cữu, văn võ các quan cùng tiến theo; đi cuối là quan chủ bạ Dương Tu. Dương Tu vỗ vỗ vào quan tài Hứa Du than rằng: “ANH LÀ MỘT NGƯỜI TUYỆT ĐỈNH THÔNG MINH, CŨNG LÀ NGƯỜI NGU XUẨN NHẤT ĐÓ!”. Dương Tu còn nói thêm: Lời của Tể tướng nói, anh đã nghe thấy chưa? Nói xong, Dương Tu chắp tay sau lưng, lắc đầu đi ra…

TÂM VĂN

TẢN MẠN VỀ TÌNH YÊU!

(hình minh họa) 

Nói đến tình yêu lứa đôi, giới trẻ rất thích. Học giả Thích Chân Quang cho rằng: Tình yêu nam nữ mãnh liệt là thứ tình cảm tiêu biểu của con người. Chính vì quá mãnh liệt nên cũng ích kỷ nhất. Ai cũng nghĩ tình yêu đem lại hạnh phúc… Xưa nay, bao thơ văn, nhạc, họa, sáng tác nghệ thuật hầu như dành để ca ngợi tình yêu nam nữ. Nhưng khi tình yêu tan vỡ thì người ta vô cùng đau khổ. Sao vậy? Vì bản chất của tình yêu là ích kỷ, đương nhiên sẽ gây đau khổ cho con người.

Schopenhauer (triết gia Đức) có nói: “Chỉ có những triết gia mới có thể sống hạnh phúc trong hôn nhân; chỉ tiếc là một triết gia thực sự lại không chịu lấy vợ”. Cuộc sống gia đình rất phức tạp, vợ chồng luôn đòi hỏi dành cho nhau sự chăm sóc đặc biệt. Do đó, phần lớn con người không đáp ứng nổi. Chỉ có người rất thông minh, rất đạo đức mới đáp ứng được yêu cầu này. Người vừa rất thông minh lại vừa rất đạo đức chính là triết gia… 

Thường nam nữ gặp nhau, nảy sinh tình cảm, rồi thích nhau chứ không thật sự có tình yêu. Tình yêu đích thực rất mạnh, nó đòi hỏi sự ứng xử khéo léo, sự hy sinh cho nhau để được bền vững dài lâu. Sự ích kỷ trong tình yêu rất dữ dội, nó bộc lộ rõ nhất lúc ghen tuông. Khi ghen, người ta có thể làm tất cả như đánh, giết, tạt acic… Vì thế, để sống êm ấm, hạnh phúc trong gia đình thì chỉ những triết gia thông minh và đạo đức mới làm nổi. 

Tuổi thanh xuân, sống bản năng, tuổi trẻ thường sôi nổi, bồng bột. Người ta cứ tưởng tình yêu sẽ đem lại hạnh phúc nên tìm đến với nhau và hy vọng sẽ tràn trề hạnh phúc. Nhưng khi đã trở thành vợ chồng thì hạnh phúc đâu chẳng thấy, bất hạnh ngày càng nhiều thêm… (Phải thế chăng mà có nhà thơ đã viết: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”).

Tình yêu, hôn nhân làm tăng dần sự ích kỷ trong con người. Và chính sự ích kỷ đã làm những lứa đôi đau khổ. Muốn có hạnh phúc, những lứa đôi cần tìm một mục đích chung cao cả để hướng tới. Đó có thể là sự giải thoát khổ đau tạm thời trong cõi nhân gian nhiều trầm luân, khổ ải này…!!!

TÂM VĂN

CHUYỆN TÌNH CỦA NGƯỜI ĐẸP

(hình minh họa) 

Đó là người phụ nữ có vóc dáng mảnh mai và đường nét thon thả được nhiều người đàn ông theo đuổi. Chị là người phụ nữ đẹp theo lối cổ điển, nề nếp và kín đáo.

Chị không dùng vẻ đẹp kiều diễm để khoe khoang hay lẳng lơ lòe bịp, cám dỗ đám đàn ông ngầm tìm kiếm niềm vui. Chị là người phụ nữ giàu lòng tự trọng và rất thận trọng. Tuy vậy, chị không phải là cô tiên mà rất đàn bà, một người đàn bà phàm trần, vì thế cũng cần tình yêu.

Vào năm 20 tuổi, lần đầu chị hẹn hò với một người đàn ông. Trong công viên vắng lặng, hai người rầm rì tâm sự. Người đàn ông đòi ôm chị. Chị nói không.

Người đàn ông buồn bực nói: cô thì đẹp thật, nhưng quá phong kiến. Nói xong anh ta bỏ đi. Chị rất khó xử!

Năm 22 tuổi, chị hẹn hò với một người đàn ông khác. Bên bờ sông yên tĩnh… Người đàn ông đòi ôm hôn chị.

Chị nói không thể được, chị né tránh, làm người đàn ông không thỏa nguyện. Người đàn ông bực tức nói cô xinh đẹp nhưng quá cũ kỹ… rồi bỏ đi. Chị rất đau khổ!

Năm 24 tuổi, chị hẹn hò lần thứ ba. Dưới hàng liễu thướt tha, hai người rầm rì tâm sự. Người đàn ông đòi ôm hôn chị và còn đòi nhiều hơn thế… Nhưng chị nói không thể, kiên quyết chối từ…

Người này cũng buồn bực nói cô xinh đẹp nhưng chẳng thoáng chút nào. Có lẽ cô là gái trinh cuối cùng của thể kỷ này. Nói một hồi cho bõ tức rồi bỏ đi. Chị rất lo sợ!

Năm 26 tuổi, chị lại có một cuộc hẹn hò với một người đàn ông khác. Dưới ánh trăng êm đềm, hai người rì rầm tâm sự. Chỉ mới một tối tiếp xúc, anh ta đã vội vàng ôm hôn chị và làm cái chuyện không cần giải thích…

Sau chuyện xẩy ra, chị nói với người đàn ông: “Em đã trao cho anh tất cả, sau này nhất định anh phải yêu em thật nhiều”.

Lúc đó anh ta nói: “Em cái gì cũng tốt, nhưng lại quá dễ dãi. Anh dễ dàng chiếm được em, có thể thấy em chẳng phải là người nghiêm túc trong cuộc sống. Em đẹp, trước đây hẳn có nhiều đàn ông theo đuổi, chắc em đã làm chuyện đó với họ”.

Anh ta nói thêm: “Em thật đẹp nhưng sao nhiều tuổi thế vẫn chưa có người yêu, chưa lấy chồng?”. Người đàn ông này còn nói nữa, nói nhiều điều nữa… “Đồ mất dạy”. Chị thẳng tay giáng cho anh ta một cái tát, rồi đau đớn hét lên: “Không…”.

(Đặng Dược Hoa)

TÂM VĂN

“MÙI VỊ” CỦA CHIẾN TRANH

Đêm đó, đơn vị An ém quân tại một cánh rừng thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới Việt Nam – Căm-Pu-Chia. Gần một ngày hành quân bộ qua bao thôn ấp đến chập tối thì tới địa điểm dừng chân. Rừng ở đây cây cối còn khá rậm rạp.

An nhập ngũ gần được một năm. Anh đã qua huấn luyện, sản xuất, nhưng tham chiến thì chưa. Đây là trận chiến đầu tiên mà An tham gia trong cuộc đời binh nghiệp của mình. 

Nằm trên tấm ni lông trải dưới một gốc cây, An miên man nghĩ đến mẹ, đến gia đình, quê hương, đến cuộc đời và cả về cái chết có thể xẩy ra với anh, đồng đội trong trận đánh ngày mai. Song do ban ngày hành quân mệt mỏi nên An cũng nhanh chóng chìm vào giấc ngủ giữa đất rừng biên giới phương Nam…

Vào lúc hơn 4 giờ sáng, anh Hải (đại đội trưởng đại đội 2) đánh thức An và anh Bái dậy. Theo lệnh, bộ đội khẩn trương thu xếp vũ khí, quân trang cá nhân và lặng lẽ tiến sát mép rừng. Phía trước cách vị trí An ngồi khoảng 15-20 mét là cánh đồng bằng phẳng, lác đác nổi lên vài mô đất cao bên trên thấp thoáng những cây xanh.

An và anh Bái là hai lính thông tin vô tuyến của tiểu đoàn cử xuống đi cùng đại đội 2, có nhiệm vụ giữ liên lạc với cấp trên trong quá trình tác chiến. Là lính mới, An được bố trí đi số 2, với nhiệm vụ bảo vệ số 1 (người đeo máy PR-C25 loại 2W của Mỹ) và sẵn sàng thay thế khi cần… An mang súng AK, đeo ba lô chứa quần áo, lương khô, pin dự trữ cho máy và đồ dùng cá nhân của hai người…

Trong lúc chờ đợi giờ “G” (là giờ hành động) An ngồi bên cạnh anh Bái và anh Hải đại đội trưởng. Anh Bái nói nhỏ, khi có lệnh xung phong, anh chạy trước em bám sát phía sau nhé. An đáp: vâng!

Khoảng 5 giờ sáng, bỗng vang lên những loạt đạn pháo bắn cấp tập xuống các vị trí quân Khơ me đỏ đóng chốt. Sau đó một loạt tiếng nổ đinh tai nhức óc của hàng chục quả mìn Cley-mo được kích nổ, thổi bay mọi vật cản, kể cả những quả mìn mà bọn lính Pôn-pốt chôn dọc biên giới nhằm ngăn bước tiến của bộ đội ta. Sau loạt tiếng nổ dọn đường đó, bộ binh được lệnh tấn công – cận chiến với lính Khơ me.

Anh Bái và An bám sát anh Hải chạy lên phía trước. Tiếng nổ của các loại súng, lựu đạn, mìn… vang lên chát chúa. Đạn bay chiu chíu quanh người, pháo ùng oàng gầm rít trên không trung. Tất cả cộng hưởng tạo thành thứ âm thanh hỗn tạp, vang động, phá tan sự yên tĩnh của một vùng biên giới Tây Nam.

Cố gắng bám sát anh Bái, An vừa chạy vừa sợ… Chạy được mấy trăm mét thì An gặp tình huống đặc biệt. Một tổ gồm ba chiến sĩ đang khiêng khẩu đại liên vận động lên phía trước bị đạn pháo địch bắn hất văng ba người cùng khẩu súng xuống hố bom sâu chừng hơn mét, bùn, nước lầy lội. Đúng lúc An, anh Bái, anh Hải chạy tới. Anh Bái bảo An: “Em xuống băng bó cho các anh ấy đi”. Nói xong anh cùng anh Hải chạy lên phía trước. An nhảy xuống hố bom, dựng khẩu AK cạnh hố, gắng sức kéo khẩu đại liên đang đè lên người một đồng đội và lấy băng cá nhân ra băng cho anh này. Mặc dù đã được học về băng bó cho người bị thương trong thời kỳ huấn luyện. Nhưng tay An vẫn cứ run run, lúng ta lúng túng khi băng cho người đồng đội dính phải vết thương ở đầu, máu chảy rất nhiều. Hai bàn tay An thấm đẫm máu đồng đội. Giữa lúc các vòng băng trắng cứ vuột ra trong tay An thì anh Tặng, y tá của đại đội cùng mấy cậu lính vận tải từ phía sau lên tới nơi. An bàn giao cho họ, nhảy lên khỏi hố bom, chạy nhanh về phía trước…

Trận đánh diễn ra đến gần trưa thì bộ đội ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Trước lực lượng quân đội Việt Nam mạnh hơn bọn lính Pôn-pốt bị đánh bật về sâu trong đất Căm-pu-chia. Bữa ăn trưa diễn ra ngay trên mảnh đất còn khét nồng mùi thuốc súng và cả mùi tanh của máu. Nhận nắm cơm từ tay anh nuôi đưa cho, rất đói, nhưng An loay hoay mãi không biết làm cách nào để ăn được. Vì hai bàn tay An lúc đó vẫn còn sẫm màu máu của đồng đội… An tìm nước rửa tay, song tìm đâu ra nước ở chốn đồng không, mông quạnh này.

Thấy vậy, anh Bái bảo An dùng lá lót tay rồi cầm cơm ăn đại đi. Gặp tình cảnh như vậy, An chẳng biết làm sao… Đành làm theo lời người đồng đội vốn là một cựu binh thời chống Mỹ. Nhưng do tay còn dính đầy máu, rau canh chẳng có, cổ họng đang khát khô… nên dù rất cố gắng An cũng chỉ nhai, nuốt được vài miếng cơm nắm. An lặng lẽ tìm chỗ khuất, vất đi nắm cơm là khẩu phần bữa trưa của mình!

Chiến tranh là thế này sao? An đã đọc một số sách báo viết về chiến tranh, về hình ảnh những anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Với họ, gian khổ, hy sinh, máu, nước mắt và hoa (được tặng ngày chiến thắng), đủ cả… Nhưng đến hôm nay, khi chính mình là người lính xung trận, An mới cảm nhận được “mùi vị” thật sự của chiến tranh là thế nào…!!!

Hà Nội, ngày 30/9/2012

TÂM VĂN

ĐẠO LÀM… CHA

Chúng ta vẫn nghe đâu đó câu này: “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/Một lòng thờ mẹ, kính cha/Cho tròn chữ HIẾU mới là ĐẠO CON”

Nhiều người biết, đây là một trong những bài học luân lý xưa, dạy con người chữ HIẾU. Nhưng ngược lại, trong mấy câu này ẩn chứa cả đạo làm cha, làm mẹ của văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam nữa.

Trong gia đình hạt nhân (một vợ một chồng và con cái) thì người đàn ông cùng lúc có hai vị trí, hai vai trò – chức năng: làm chồng và làm cha.

Để thực hiện tốt hai chức năng này thật không dễ…  Mỗi người đàn ông, tuy không nói ra nhưng luôn thấy áp lực, mệt mỏi… Với tôi – điều này, cũng không ngoại lệ. Sau đây chỉ là một trong muôn vàn “áp lực” mà cuộc sống đã “dành” cho tôi.

Có một lần, độ hơn mười năm về trước, con trai út của tôi nói ra câu này: “Sao bố mẹ không sinh con sớm (?), sinh con muộn sau này bố mẹ về hưu thì ai nuôi con ăn học đại học”.

Hơn mười tuổi, nhưng thằng bé thuộc diện “cả nghĩ”, hay lo xa đã nói ra cái điều mà người làm cha như tôi cảm thấy xót xa, ái ngại…

Bấy giờ tôi đã trấn an con mình bằng câu: “Con cứ yên tâm, lúc đó dù về hưu rồi bố cũng sẽ tìm việc làm để có tiền nuôi con học xong đại học”.

Miệng nói mạnh nhưng trong lòng thấy lo, không biết rồi mình có làm được theo lời mình nói không.

Ơn giời, nhờ Phật gia ân, cảm ơn TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI – nơi tôi gắn bó gần như cả cuộc đời viên chức đã giúp tôi thực hiện được lời hứa của mình.

Nay trai út của tôi đã học xong, ra trường và bắt đầu cuộc mưu sinh, phát triển như bao người đàn ông khác trên cõi nhân gian này… 

[P/S: Vậy là căn bản tôi đã hoàn thành “sứ mệnh” làm cha… XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN TẤT CẢ – THANKS VERY MUCH !!!]

TÂM VĂN

“CHÚT XÍU” VỀ TÊN TÔI

Sinh ra ở đời, ai cũng được cha mẹ, ông bà (ai đó) đặt cho một/những cái tên. Thời xưa, những gia đình có người học chữ Nho hay chọn đặt cho con cháu mình, người thân những cái tên như: Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Tiến Đạt, Trần Đại Nghĩa, Phạm Quang Minh, Nguyễn Bách Khoa, v.v…

Thời nay, thế hệ trẻ thường gắn thêm vào tên mình một biệt danh kiểu như: Agela Phương Trinh, Sơn Tùng MTP, Trang Moon, Sobin Hoàng Sơn… Những tên này khi đọc lên nghe lạ tai, còn nhìn vào thì lạ mắt, nhưng ý nghĩa ít ai biết.

Chỉ chủ nhân, người thân hoặc bạn bè của họ mới giải thích được những tên gọi đó…

Đấy là nói về “thiên hạ”, còn bây giờ xin nói về tên tôi. Bùi Hồng Vạn là cái tên khai sinh của tôi. Tôi đã, đang và sẽ mang cái tên này từ khi sinh ra cho đến khi trở về với cát bụi.

Theo xu thế chung, tôi cũng tự đặt cho mình những cái tên khác theo kiểu bút danh, biệt danh, nói theo ngôn ngữ thời @) – nicknam là: Bùi Tâm Văn, Bùi Hà Phúc, Bùi Lê Khoa, Bùi David, Kevin Bùi…

Mỗi cái tên mang một ý nghĩa mà chỉ tôi mới hiểu đầy đủ, trọn vẹn. Người ngoài có thể hiểu đúng hoặc hiểu theo ý nghĩa khác. Tốt thôi! Đời thế càng vui!

Trong những tên trên tôi giải thích chút xíu về cái tên Bùi Hồng Vạn. Thực sự đến giờ tôi vẫn chưa hiểu hết về cái tên này. Bố mẹ thì đã mất, còn anh chị không ai biết… Khi mẹ tôi còn sống, tôi dò hỏi thì cụ có nói: chữ Vạn bắt nguồn từ chữ đầu tên một nhân vật trong truyện kiếm hiệp Trung Hoa, đó là Vạn Nhân Địch.

Chả là thời trẻ, mẹ tôi mê truyện kiếm hiệp Tàu, bà thích nhân vật này. Vì thế khi sinh tôi bà lấy chữ “Vạn” đặt tên cho tôi. Chỉ đơn giản vậy thôi. Nhưng xét về góc nhìn văn hóa thì đây là hiện tượng “tiếp biến văn hóa”. Đó là chuyện của Mẹ tôi, chuyện đó nay đã thành dĩ vãng…

Còn với tôi, cái tên Bùi Hồng Vạn theo “cách nhìn” thời nay có vẻ như không hay/có sức hút cho lắm. Nhưng tôi vẫn phải ngàn vạn lần cảm ơn Mẹ tôi, vì bà đã sinh ra, nuôi dưỡng tôi nên người. Thêm nữa bà đã đặt cho con trai mình một cái tên thuộc diện “độc nhất vô nhị” (từ góc độ truy cập mạng).

Tôi rất vui/thích, vì mỗi lần dùng Google để search mấy chữ “Bùi Hồng Vạn” thì chỉ có những thông tin liên quan đến tôi hiện lên trên màn hình. Điều đó thật thú vị. Vì thế, một lần nữa con xin cảm ơn Mẹ đã đặt cho con cái tên tuyệt vời này…!!!

TÂM VĂN

LỜI TRI ÂN BẠN ĐỌC!

Tôi nhớ rõ bài đầu tiên tôi post lên trang blog “buitamvan.blogspot.com” là bài “Một ngày buồn!”. Gọi là bài kỳ thực đấy chỉ là mấy dòng chia sẻ về tâm trạng của tôi lúc bấy giờ. Đó là ngày 17-10-2019. Thấm thoắt đã hơn ba tuần rồi, chính xác là 23 ngày.

Tôi đã chia sẻ nhiều thứ trên trang “buitamvan.blogspot.com”. Trong khoảng thời gian đó tôi nhận được sự quan tâm, tình thương mến từ rất nhiều người (gồm bạn bè, đồng nghiệp, sinh viên, cả người thân và những người tôi chưa từng gặp mặt). Những bài viết, chia sẻ của tôi còn nhiều hạn chế, chưa có mấy giá trị, ý nghĩa; nhưng các bạn vẫn theo sát, ủng hộ tôi. Điều đó khiến tôi rất cảm động!

Cũng từ hôm nay (8-11-2019), tôi không post bài lên blog “buitamvan.blogspot.com” nữa, thay vào đó tôi chia sẻ những nghĩ suy, cảm xúc, kiến thức và cả những câu chuyện đời… trên trang blog mới “buitamvan.com”.

Khi trở lại “sân chơi” blog, theo các bạn trẻ tư vấn, tôi tạo lập blog mới trên nền tảng WordPress. Blog tạo dựng nơi đây có điều kiện vận hành chuyên nghiệp, ổn định và lâu dài hơn so với trên nền tảng Blogger (của Google).

Trong hai ngày qua, tự mình vừa học vừa làm, thêm sự trợ giúp của con trai út – Bùi Quốc Hưng (cựu sinh viên Học viện Bưu chính viễn thông Việt Nam), tôi đã tạo lập được trang blog mới với tên miền buitamvan.com trên WordPress.

Như vậy giống như trước đi xe đạp, nay tôi “tậu” được xe máy và “phi” trên đường cho phù hợp với nhu cầu cuộc sống thời cách mạng công nghiệp 4.0.

Vì lẽ đó, tôi post bài này để cảm ơn tất cả những ai đã ủng hộ tôi trong thời gian qua, đồng thời thông báo tôi “chuyển nhà”. Mong mọi người tiếp tục ủng hộ BÙI TÂM VĂN trong thời gian tới…

Trân trọng…!!!

Hà Nội, 18h00 ngày 8/11/2019
BÙI TÂM VĂN = BÙI HỒNG VẠN

TÂM VĂN

BÃI BIỂN NHẬT LỆ (QUẢNG BÌNH)

Chuyến khảo sát thực tế kết hợp với du lịch nghỉ mát hè năm 2014 do Khoa LLCT (Trường Đại học Thương mại) tổ chức đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về đất và người Quảng Bình.

Ở tầm quốc gia, quốc tế thì hai danh thắng nổi tiếng là Phong Nha – Kẻ Bàng và động Thiên Đường (gần đây thêm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) là những điểm thu hút khách du lịch bốn phương. Nhưng ở mức khiêm tốn hơn có thể kể đến bãi biển Nhật Lệ cùng nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử khác trên đất Quảng Bình không kém phần hấp dẫn đối với du khách.

Bài viết này nói về một trong những danh thắng, di tích nói trên của Quảng Bình, đó là bãi biển Nhật Lệ với những nét đặc sắc riêng của nó.

1. Về cái tên Nhật Lệ (những giải thích về tên gọi)

Nhật Lệ là tên gọi của một vùng đất và tên một con sông chảy qua nằm trên đất Quảng Bình. Bãi biển Nhật Lệ nằm cạnh cửa sông Nhật Lệ, cách trung tâm thành phố khoảng 3 km về phía Đông Bắc.

Hai tiếng Nhật Lệ dễ gợi lên trong tâm tưởng du khách câu hỏi tại sao sông, bãi biển nơi đây mang tên Nhật Lệ? Người dân địa phương có sự giải thích khác nhau về nguồn gốc của hai chữ Nhật Lệ. Có người nói cái tên “Nhật Lệ” gắn với sự kiện vương phi Mỵ Ê của vua Chiêm Thành đã trầm mình trên dòng sông để thủ tiết sau khi vua Lý Thái Tông chinh phạt Chiêm Thành năm 1044.

Về sau, vào năm 1306, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông muốn yên bờ cõi phương Nam đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành (Chế Mân) làm hoàng hậu[1].

Cuộc hôn nhân chính trị này đã đem về cho nước Đại Việt hai châu Ô, Lý[2]. Nhưng với Huyền Trân thì lại buồn tủi cho thân phận của mình, nàng đã khóc rất nhiều. Không biết bao nhiêu nước mắt của công chúa Huyền Trân đã âm thầm rơi xuống cửa sông nơi mảnh đất này… Cảm thương với hai bậc kiều nữ của hai đất nước đã lặng lẽ rơi những giọt lệ buồn mà người xưa đã gọi tên dòng sông chảy qua đất Quảng Bình là Nhật Lệ.

Người khác lại bảo rằng thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786), khi sông Gianh trở thành lằn ranh của hai bên chiến tuyến thì những lưu dân ở bờ Nam vẫn thường hướng về bờ Bắc, nhớ quê hương mà dòng lệ tuôn rơi. Lâu dần nước mắt chảy thành sông rồi từ sông chảy ra biển mà thành cái tên Nhật Lệ.

Có người nói, theo từ Hán-Việt, “nhật” là ngày, “lệ” là điều được lặp đi lặp lại thành thói quen. “Nhật Lệ” là ngày nào cũng có dòng nước chảy giống nhau, nên gọi là Nhật Lệ… Những cách giải thích trên đây thực hư thế nào, thuyết nào đúng, thuyết nào sai thời nay chúng ta rất khó khẳng định! Dẫu sao cái tên Nhật Lệ vẫn là cái tên đẹp, gây cảm hứng cho du khách đến nơi đây.

2. Bãi biển Nhật Lệ – đẹp, thơ mộng, lãng mạn

Thiên nhiên nơi đây đã ưu ái ban tặng cho Quảng Bình một bãi biển – bãi tắm tuyệt đẹp với nền cát trắng phau và dòng nước biển trong xanh… Đặc biệt, trên bãi biển Nhật Lệ còn có một di chỉ văn hoá khảo cổ học thời đá mới (Bàu Tró) nổi tiếng của cả nước và một hồ nước ngọt xanh trong kỳ lạ.

2.1. Trước hết xin nói về di chỉ khảo cổ học Bàu Tró. Vào mùa hè năm 1923, hai người Pháp (thuộc trường Viễn đông Bác cổ) đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ Bàu Tró. Cuối mùa hè năm đó, nhà địa chất kiêm khảo cổ học Etinen Patte đã tổ chức khai quật và công bố những hiện vật thời tiền sử ở đây.

Những hiện vật này gồm nhiều rìu đá, mảnh tước, hai hòn ghè bằng thạch anh, bàn nghiền hạt mảnh gốm vỡ… Về sau, mùa xuân năm 1980, trường đại học Tổng hợp Huế đã tổ chức khai quật lại di chỉ Bàu Tró ở khoảng cách cách mép nước hồ lúc đó 40 mét, cao hơn mặt nước 2,3 mét và cách hố khai quật của Patte hơn 100 mét về phía Tây. Hiện vật thu được gồm có nhiều rìu, bôn đá, bàn mài, chày nghiền, mũi nhọn và vô số các mảnh gốm vỡ của các loại nồi, niêu, bình, vò…

Các nhà khảo cổ học đã lấy tên di chỉ này để đặt cho nền văn hoá hậu kỳ đá mới phân bố ở các vùng ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế là văn hoá Bàu Tró[3]. Di chỉ khảo cổ văn hoá Bàu Tró có niên đại cách ngày nay khoảng 5.000 năm lịch sử.

2.2. Còn Hồ nước ngọt nằm trong khu di tích Bàu Tró, cách biển hơn 100 mét. Có thể coi hồ nước này là một trong những hiện tượng thiên nhiên đặc biệt. Bởi dù chỉ cách biển (nước mặn) rất gần nhưng nước trong hồ lại ngọt như nước suối trên rừng. Cư dân Đồng Hới xưa thường ra hồ lấy nước về ăn và giặt quần áo cho trắng. Nước hồ chủ yếu rịn ra từ cát nên rất trong mát và có thể tẩy sạch được áo quần dính bẩn.

Đây là nguồn nước ngọt duy nhất cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân vùng này bao đời nay. Bao xung quanh hồ là những dải rừng cây phi lao xanh tươi nổi lên trên một vùng cát trắng. Gần đây do môi trường sinh thái hồ được cải thiện nên có rất nhiều đàn chim bay về cư trú trong rừng cây. Du khách sẽ cảm thấy rất thú vị khi mắc võng dưới rừng cây nằm nghe sóng biển rì rào xen lẫn tiếng chim rừng hót, kêu ríu ran…

Vào mùa hè, khi mực nước trong hồ cạn xuống khoảng một phần ba, trông hồ giống như dấu một bàn chân trái khổng lồ. Có những câu chuyện huyền thoại về hồ nước. Chẳng hạn, người ta kể rằng hồ sâu đến nỗi không có đáy.

Có người đã ném một quả bưởi xuống hồ, sau đó thấy nó nổi lên ở hồ Sen thuộc huyện… Lệ Thuỷ! Có lẽ những câu chuyện huyền thoại chỉ là để nói lên nguồn nước của hồ không bao giờ cạn, cho dù trong mùa hè nắng nóng dai dẳng hàng tháng trời… Hiện, Hồ Bàu Tró vẫn là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng cho cư dân Đồng Hới.

2.3. Nằm cạnh cửa sông Nhật Lệ, bãi biển Nhật Lệ là một trong những bãi biển thuộc diện đẹp nhất của nước ta. Nơi đây còn mang một vẻ đẹp nguyên sơ, với bãi cát trắng phau trải dài cùng làn nước biển trong xanh nhìn rõ tận đáy.

Thiên nhiên ưu ái ban tặng cho biển Nhật Lệ một khung trời huyễn hoặc với bãi cát trắng trải dài, làn nước biển trong xanh và những cây rau Muống biển hoa tím mọc tràn lan khắp bãi cát, tạo nên nét hoang sơ và lãng mạn.

Từ ngoài khơi xa từng lớp sóng bạc tiến vào bờ tựa như những chùm hoa sóng tung bọt trắng xóa… Những lúc trời xanh trong gió mát, bãi biển sạch như lớp nệm mới, nền cát mịn óng ánh được dầm nén chắc chắn, người ta có thể đạp xe hay chơi các trò chơi thể thao trên đó…

Bãi tắm nơi đây thoai thoải sâu và rất an toàn, gió lồng lộng thổi mát hòa cùng tiếng sóng vỗ rì rào tạo nên một bản giao hưởng của tự nhiên giới với nhiều cung bậc du dương. Dạo chơi trên bãi cát trắng mịn và sạch sẽ, cảm giác thú vị khi từng đợt sóng dạt vào bờ, liếm vào chân rồi nhẹ nhàng rút đi sau khi đã xóa sạch những vết hằn một cách tài tình…

Bãi biển Nhật Lệ náo nhiệt từ khi bình minh ló dạng đến lúc mặt trời đứng bóng, với những tiếng cười đùa cùng những hoạt động sôi nổi của cả dân địa phương lẫn du khách. Đa số dân Đồng Hới thích ra biển khi kết thúc ngày làm việc.

Họ đến đây để tắm biển, chơi thể thao, ăn nhậu hay chỉ đơn giản là gặp bạn bè “bù khú” bên cốc cà phê…

Biển Nhật Lệ có những khoảnh khắc thật lãng mạn lúc hoàng hôn. Đây là thời điểm lắng đọng cho những cuộc hẹn hò tình tứ của những đôi trai gái yêu nhau… Khi màn đêm buông xuống, cả một vùng cửa biển với đủ loại tàu thuyền giăng đèn chấp chới, sáng rực như một thành phố thần tiên. Lúc đó du khách ngỡ như mình được nhìn thấy hàng ngàn vì sao đang tỏa sáng lung linh… Tắm biển hay ngắm biển Nhật Lệ đem lại cho con người niềm vui, hạnh phúc vô bờ bến!

3. Ẩm thực ở bãi biển Nhật Lệ

Được thiên nhiên – biển trời ưu ái, biển Nhật Lệ có đầy đủ các loại hải sản phong phú, tươi ngon, là những sản phẩm ẩm thực thượng hạng. Thời điểm đẹp nhất để đến với biển Nhật Lệ là từ tháng 5 đến tháng 8.

Du khách đến đây, bên cạnh tắm và ngắm biển còn có dịp thưởng thức nhiều món hải sản tươi ngon của Quảng Bình như Hàu, Nghêu, sò Huyết, sò Lụa, sò Điệp, Ghẹ, tôm Hùm, Mực, cá Mú, cá Hồ, cá Chim, cá Bả trầu, cá Hồng, cá Chình, cá Hanh… được các nhà hàng dọc con đường ven biển chế biến rất chuyên nghiệp.

Buổi chiều tối, du khách có thể ghé vào những nhà hàng thoáng mát nằm sát bờ biển Nhật Lệ để thưởng thức những món hải sản hấp dẫn, có hương vị đậm đà riêng. Hấp và nướng là hai cách nấu chủ đạo.

Dưới bàn tay khéo léo của người dân Quảng Bình, du khách thoải mái thưởng thức những món hải sản dù đã nấu chín vẫn giữ được nguyên mùi vị đặc thù, tươi rói, khi ăn thì béo và ngọt. Các món sò huyết, hàu khi hấp lên rất ngon, cá mú, cá hanh, cá chim nướng thơm ngon và béo ngậy, còn mực thì giòn và ngọt…

Trong các món hải sản ở đây, ấn tượng nhất phải kể đến là Đẻn (rắn) biển, một món ăn độc đáo đã được nhắc đến trong thơ ca: “Cụng đầu tí chút mùi men/ Lai rai hương Đẻn mà nên bạn tình”.

Món đẻn được chế biến theo nhiều kiểu khác nhau, nhưng được nhiều người biết đến nhất là tiết đẻn pha rượu và ram đẻn. Rượu tiết đẻn có cái vị ấm nồng và hơi chát hòa lẫn tạo nên cảm giác rất khó quên. Vị đặc trưng của món ram đẻn khó mà diễn tả bằng lời.

Cách làm ram đẻn khá đơn giản, những con đẻn được làm sạch sẽ, băm nhuyễn rồi cho gia vị vào trộn đều, sau đó cuốn lá lốt thành những chiếc ram nhỏ và cho lên chảo rán đều. Một đĩa ram đẻn nóng hổi, thơm ngon sẽ cuốn hút, khiến du khách khi đã thưởng thức rồi thì muốn ở mãi không về.

Đến với Nhật Lệ, du khách không nên bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món bánh bột lọc, được làm từ hai nguyên liệu chính là bột sắn và tôm sông. Sau khi trải qua giai đoạn xay, lọc và nhào bột khá công phu, người làm bánh sẽ có một thứ bột thơm và dẻo. Đem vắt mỏng bột sắn thành từng miếng nhỏ, rồi bỏ vào trong mỗi miếng là một con tôm sông đã được rim kỹ cùng vài sợi nấm mèo thái mỏng, gói chặt trong lá chuối sứ. Công đoạn cuối cùng là hấp bánh lên cho đến khi bánh chuyển sang màu trong suốt thì đưa ra khỏi nồi, ăn kèm với chén mắm ớt cay nồng sẽ rất tuyệt.

Ngoài những món kể trên thì bánh canh là món ăn bình dân rất nổi tiếng ở Đồng Hới. Đây là món mang hương vị thơm ngon đặc trưng của miền Trung, được chế biến khá đơn giản. Bánh canh làm từ bột gạo thơm, dẻo và trắng tinh cắt thành từng sợi mỏng.

Nguyên liệu chính để nấu món này là sườn heo và tôm tươi, loại tôm sống ở đầm, cho thịt đậm đà, không tanh. Một bí quyết nữa làm nên sức hấp dẫn của món bánh canh là chén nước mắm ớt xanh thơm, hăng hăng để ăn kèm.

Ngay trên bãi biển, du khách cũng có thể thưởng thức một số món ăn bình dân được chế biến đơn giản của những người bán hàng rong. Chỉ với một bếp than nhỏ, người bán có thể cung cấp cho du khách món nướng hay luộc đầy hấp dẫn.

Ngoài những món ẩm thực được dùng tại chỗ thì còn có những sản phẩm ẩm thực phục vụ khách du lịch mua về làm quà cho người thân, bạn bè và gia đình. Các sản phẩm ẩm thực kể trên không chỉ đơn thuần có giá trị sử dụng và phục vụ cho hoạt động du lịch, mà ở đó còn kết tinh các giá trị văn hóa truyền thống đang được người dân nơi đây lưu giữ và nâng niu, phát triển…

Khi chọn biển Nhật Lệ du khách sẽ không phải ân hận, bởi Quảng Bình trước sau vẫn là một điểm đến đẹp, nhiều chỗ để tham quan, khám phá và giải trí… Thêm điều đáng ghi nhận nữa là cư dân nơi đây hiền hòa, chất phác, thức ăn rẻ và khách không cần mặc cả…

Đây còn là quê hương của cố thi sĩ tài hoa mà mệnh bạc Hàn Mạc Tử, với những vần thơ dung dị mà đầy sức quyến rũ du khách thập phương: “Mơ khách đường xa, khách đường xa/Áo em trắng quá nhìn không ra…/Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/Ai biết tình ai có đậm đà…”

Đến Nhật Lệ lần đầu, dù chỉ lưu lại đây khoảng thời gian ngắn (hai ngày), mặc dù vẫn còn có hiện tượng chưa làm du khách vui lòng[4] nhưng với bãi biển đẹp cùng những món ẩm thực đặc sắc, nơi đây đã để lại trong tôi những ấn tượng không thể nào quyên về một vùng văn hoá miền Trung của đất nước.

Tài liệu tham khảo

1- Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư (Dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1998.

2- Mục Huyền Trân công chúa, trên http://vi.wikipedia.org/wiki.

3- Mai Kim Thành: Lung linh bãi biển Nhật Lệ (Quảng Bình), đăng trên trang http://www.aseantraveller.net.

4- Bàu Tró – Hồ xanh trên cát, trên http://donghoi.gov.vn.

5- Thông tin điện tử thành phố Đồng Hới (Quảng Bình) – http://donghoi.gov.vn.

Hà Nội, ngày 15-10-2011

TS. BÙI HỒNG VẠN

[1] – Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư (Dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1998, tr. 90.

[2] – Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Tr%C3%A2n, ở mục Huyền Trân công chúa có chú giải – Hai châu Ô, Lý thời Trần là vùng đất tính từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay.

[3] – Bàu Tró – Hồ xanh trên cát, trên http://donghoi.gov.vn.

[4] – Ở bãi biển Nhật Lệ có hiện tượng một số thiếu niên đi xin tiền du khách. Nếu cho 1-2 đứa thì những đứa khác quanh đó sẽ quây lại xin. Nếu không cho du khách sẽ phải nghe những lời nói không hay gây khó chịu, bực mình…

TÂM VĂN

MỘT NGÀY VUI!

* XIN CHÀO CÁC BẠN!

* Tôi là Bùi Hồng Vạn, sinh năm 1957 (1958). Quê quán: Võng Ngoại, Võng Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.

* Bên cạnh tên khai sinh, tôi đã và đang sử dụng một số tên – nickname: Bùi Tâm Văn, Bùi Hà Phúc, Bui David, Kevin Bui, Bui Van, Bùi Lê Khoa, Văn Khoa…

Ảnh Bùi Tâm Văn

* Hiện tôi đang là giảng viên (kéo dài công tác) của Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Thương mại (TMU).

* Hôm nay là “Một ngày vui”, tôi vừa xây xong “ngôi nhà” – buitamvan.com – trở thành “công dân toàn cầu”(!)

* TÔI QUAN NIỆM RẰNG: CUỘC SỐNG CẦN ĐƯỢC CHIA SẺ. NẾU CHIA SẺ TỐT SẼ TẠO NÊN HẠNH PHÚC! Tôi hy vọng sẽ nhận được từ các bạn sự cảm thông, chia sẻ và tình cảm tốt đẹp!

TRÂN TRỌNG!

Hà Nội, 10h00′ ngày 8-11-2019

Bùi Hồng Vạn – Bùi Tâm Văn