TẢN MẠN CHUYỆN MUA ĐIỆN THOẠI

Hôm qua sau khi thăm bạn bè, đồng nghiệp về tôi quyết định đi mua điện thoại mới, coi như món quà tự thưởng cho mình sau một năm vất vả…

Theo phân tầng xã hội, tôi thuộc diện “dân nghèo thành thị”. Vì thế, khi mua sắm tôi luôn phải suy nghĩ, cân nhắc. Nào lên mạng tìm hiểu, nào tham khảo con cái, bạn bè… Là dân nghèo, trời lại “ban” cái tính cẩn thận nên tôi đến mấy nơi bán điện thoại để xem hàng, khảo sát, so sánh giá cả rồi mới quyết định “mở ví”…

Sau khi khảo sát, tôi định mua hàng ở một siêu thị gần nhà. Đây là nơi tôi đã nhiều lần mua hàng (điều hòa, ti vi, tủ lạnh, tủ đông, điện thoại, v.v…). Mới chiều tối ngày 29 Tết tôi còn mua điện thoại cho “bà xã” ở đây. Theo chính sách của siêu thị này thì tôi được xem là “khách hàng thân thiết!”.

Dự định hôm nay sẽ sắm vai khách hàng thân thiết thêm lần nữa, nhưng điều này không thực hiện được! Lý do rất đơn giản – tôi không hài lòng với cung cách phục vụ của một nữ nhân viên bán hàng tại đây…

Văn minh thương mại luôn đề cao việc tôn trọng khách hàng, coi “khách hàng là thượng đế”, “khách hàng luôn có lý”… Vậy mà nữ nhân viên bán hàng không có tinh thần này. Cô đã không đem lại cho tôi sự hài lòng khi tiếp xúc. Từ vẻ mặt, đến nói năng khiến “thượng đế” không hài lòng… Và thế là “thượng đế” quyết định sang Store Viettel Cầu Diễn, Hà Nội để mua hàng.

Tại đây, chỉ có 1 nữ nhân viên bán hàng và 1 bảo vệ. Hỏi ra thì biết mùng 4 Tết, một số người quê xa được cho nghỉ thêm thời gian. Nữ nhân viên ở cơ sở này thể hiện đúng tinh thần của văn minh thương mại. Cô rất vui vẻ, điềm đạm trả lời, rồi còn tư vấn, hướng dẫn cho một “thượng đế” khó tính như tôi về sản phẩm… Cô khiến tôi rất hài lòng, vì thế quyết định mua “con” Samsung Galaxy A51 (Mede in Viet Nam) với giá 7.490.000 đồng.

Tôi càng vui khi giá “con A51” bán ở đây chỉ 7.490 ngàn đồng, giảm 500 ngàn đồng so với những nơi khác (7.990.000 đồng). Đã thế còn được tặng thêm 1 lock Coca Cola 6 lon nữa, thái độ người bán lại rất Ok…

Hết câu chuyện đi mua điện thoại… Còn bây giờ thì nhân đầu năm mới, Bùi Tâm Văn xin chân thành cảm ơn các bạn gần xa – những độc giả yêu quý – đã ủng hộ trang blog buitamvan.com này. Chúc tất cả các bạn sang năm Canh Tý luôn an khang, thành công, hạnh phúc và mọi sự đều Cát Tường…!!!

Trân trọng!

(Hà Nội, mồng 5 Tết Canh Tý)

Bùi Tâm Văn

Thuật bắt tay

Chữ “thuật” trong những văn, ngữ cảnh khác nhau sẽ mang ý nghĩa khác nhau. Điều đó không có gì lạ. Ở đây, chữ thuật, đơn giản được hiểu là cách thức, phương pháp thủ thuật làm một cái gì đó cho đúng cách, đem lại hiệu quả. Vậy thôi!

Bắt tay là một hành vi trong cuộc sống người. Bắt tay đúng cách đem lại giá trị. Vì thế, một trong những chuyên gia xây dựng hình ảnh cá nhân, đồng thời là nhà tư vấn tâm lý và nhân cách – Ingrid Zhang, đã có lời khuyên về “thuật bắt tay” sao cho tốt.

Ingrid Zhang khuyên chúng ta hãy giới thiệu về bản thân trước khi đưa ta ra bắt tay người khác. Và khi thực hiện hành vi này thì lưu ý:

* Những người có địa vị cao, phụ nữ, người lớn tuổi thường giơ tay ra trước. Nếu họ không chủ động đưa tay ra bắt thì bạn nên chờ đợi. Nếu người khác chủ động đưa tay ra, bạn phải nắm lấy tay họ. Nếu không sẽ khiến người ấy cảm thấy không được tôn trọng, đồng thời thể hiện bạn không hiểu phép lịch sử tối thiểu.

* Khi bắt tay, phải nhìn thẳng vào mắt đối phương, miệng tươi cười. Nhìn thẳng thể hiện sự tôn trọng và tình tình của bản dành cho đối phương, đồng thời đây cũng là cách thể hiện sự tự tin, đàng hoàng của bạn và có thể quan sát biểu hiện trên khuôn mặt của đối phương.

* Khi đưa tay ra bắt, lòng bàn tay và ngón tay cái tạo thành một góc nhưng khi bạn bắt tay đối phương thì toàn bộ bốn ngón tay và ngón cái nên nắm lấy bàn tay đối phương. Đặc trưng của phương thức bắt tay “cá ươn” là không nắm ngón cái vào tay đối phương.

* Phải nắm chặt và mạnh một chút khi bắt tay đối phương nhằm thể hiện bạn là người kiên định, có sức mạnh và thái độ nhiệt thành. Cái bắt tay không có lực sẽ khiến nó trở thành loại hình bắt tay “cá ươn”. Nhưng nếu nắm quá chặt sẽ khiến đối phương khó chịu và nghĩ là bạn có ý đồ mờ ám.

* Thời gian nên kéo dài khoảng 5 giây, dưới 5 giây, cuộc bắt tay bị coi là quá vội vàng; nhưng nếu kéo dài quá 5 giây thì cũng bị coi là quá nhiệt tình. Đặc biệt khi nam giới bắt tay phụ nữ, không nên nắm quá lâu, dễ khiến họ nảy sinh tâm lý đề phòng.

* Nếu tay bạn dễ ra mồ hôi, hãy nhớ lau sạch trước khi bắt tay người khác!

[Đoạn trên được trích từ cuốn sách Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô của Ingrid Zhang (xuất bản tiếng Việt, 2013) để bạn nào có nhu cầu thì tham khảo, thực hành thuật bắt tay, giúp bản thân tăng thêm khả năng thành công trong cuộc sống].

Hà Nội, 25/01/2020

Bùi Tâm Văn

Nghe và Nói: Cái nào quan trọng hơn?

“Nghe và Nói” thuộc về kỹ năng (mềm) của con người. Hai kỹ năng này có vai trò quan trọng trong các kỹ năng mà con người cần quan tâm học hỏi, xây dựng và phát triển, phát huy trong cuộc sống. Nếu làm tốt chúng sẽ góp phần hỗ trợ con người thành công trong cuộc sống nói chung, trong sự nghiệp nói riêng.

Thành ngữ Việt có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Câu thành ngữ này nói đến “học ăn” nhưng không thấy nói học “nghe”, học “lắng nghe”! Trong khi đó, khoa tâm lý học giao tiếp phương Tây rất coi trọng chuyện nghe. Các chuyên gia nhấn mạnh: một người giỏi giao tiếp trước hết phải là một người biết lắng nghe. Khi cần mở lời, trước hết anh ta phải biết quan sát phản ứng phi ngôn ngữ của người khác, sau đó sẽ quyết định nên dùng hình thức và nội dung giao tiếp nào.

Thống kê tâm lý xã hội học cho biết có khoảng từ 50% đến 80% thời gian của một người là dùng để giao tiếp với người khác. Trong đó thời gian lắng nghe chiếm tới một nửa toàn bộ thời gian tham gia giao tiếp.

Trong phát triển sự nghiệp cá nhân, “lắng nghe” được coi là kỹ năng giao tiếp quan trọng hơn “nói”. Các chuyên gia còn nhấn mạnh: “Nghe, là cơ hội tốt nhất giúp bạn nâng cao giá trị và tri thức”, “Những gì chúng ta nói có quan hệ mật thiết với những gì chúng ta nghe, thậm chí nó được bắt nguồn từ những gì chúng ta nghe”.

“Lắng nghe” được xem như một bộ môn nghệ thuật mà những người muốn thành công phải biết nắm bắt. Lắng nghe chính là phương pháp đơn giản nhất giúp bạn xây dựng hình tượng đẹp cho bản thân. Các chuyên gia tâm lý giao tiếp luôn đề cao nguyên tắc: “Trước khi học nói, hãy bắt đầu từ học nghe”…

Từ thời cổ đại, ở phương Tây, người ta đã coi trọng việc lắng nghe. Chuyện kể lại rằng: Một thanh niên trẻ đến bái Socrates làm thầy. Thanh niên này muốn ông truyền cho mình kỹ năng diễn thuyết.

Để thể hiện khả năng ăn nói thiên phú và xuất sắc của mình, anh ta thao thao bất tuyệt diễn thuyết trước mặt Socrates. Socrates đã ngắt lời và bảo anh thanh niên phải trả học phí gấp đôi thì ông mới thu nhận làm học trò. Thanh niên kinh ngạc hỏi lại ông: “Vì sao con phải trả học phí gấp đôi?”. Socrates đã trả lời: “Bởi vì tôi phải dạy cho cậu hai môn học: môn thứ nhất là học cách im lặng, không nói, chỉ lắng nghe. Sau đó là môn học mở miệng nói những gì mình nghĩ”…

Vậy là, giữa nghe và nói, nghe được xác định quan trọng hơn nói. Cả hai truyền thống văn hóa Đông Tây đều tương đồng nhau ở điểm này. Lão Tử (của Phương Đông) bảo: “Đại âm hi thanh; đại tượng hi hình” (nghĩa là: Âm thanh lớn chưa hẳn khiến người khác nghe lọt tai; hình ảnh lớn chưa hẳn khiến người khác nhìn lọt mắt). Còn cách ngôn phương Tây thì nói: “Thượng đế ban tặng cho chúng ta hai cái tai và một cái lưỡi, vì muốn chúng ta nghe nhiều, nói ít”… Góp vào kho tàng văn hóa nhân loại về nghe và nói, thành ngữ Việt có câu: “Im lặng là vàng”. Nếu bình tán rộng thì thành ngữ này cũng có ý trùng với tư tưởng Đông Tây nói trên…

Hà Nội, ngày 22/1/2020

Bùi Tâm Văn

TIỂU THUYẾT LÀ GÌ?

Thú thực có lúc tôi định bỏ nghề giáo, theo nghề văn. Nhưng do không có năng lực, lại không có duyên với nghề/nghiệp này nên tình yêu đối với văn chương chỉ dừng lại ở độ nửa chừng (xuân) vậy thôi…

Nhưng, do còn nặng lòng với văn, nên tôi vẫn hay đọc những cuốn sách văn học mình yêu thích. Các tác giả trong văn chương người Việt hấp dẫn tôi phải kể đến Nam Cao (hồi học cấp 2), Nguyễn Huy Thiệp (khi đã đi làm) và Đỗ Lai Thúy (gần đây)…

Còn trên thế giới, với nước Tàu thì tôi “mê” Ngô Thừa Ân (với Tây du ký), La Quán Trung (với Tam quốc diễn nghĩa), Thi Nại Am (với Thủy Hử), Tào Tuyết Cần (với Hồng Lâu Mộng). Nước Nga thì thích Lép Tôn-xtôi (với Chiến Tranh và Hòa bình), Puskin (các bài thơ tình), Sô-lô-khốp (Đất vỡ hoang), Ốt-xtơ-rốp-xki (với Thép đã tôi thế đấy), Ai-rơ-man-tốp (Đa-ghet-xtan của tôi)…

Còn nhiều nữa các tác giả nước ngoài, như Vích-to Huy-gô (với Những người khốn khổ), Sếc-xpia (với Ham lét), Giắc-Lơn-Đơn (với Tiếng gọi nơi hoang dã), v.v… Kể ra không hết được, vả lại định hướng của bài viết không phải nói về điều này.

Bài viết đề cập đến quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp (một nhà văn Việt mà tôi yêu thích) về thể loại tiểu thuyết.

Vậy, Nguyễn Huy Thiệp quan niệm thế nào về tiểu thuyết?

Mục “2. Tiểu thuyết là gì?” thuộc chùm bài viết về tiểu thuyết có tên “Thời của tiểu thuyết” in trong tập tiểu luận “Giăng lưới bắt chim” (xuất bản 2010) sẽ trả lời câu hỏi vừa nêu. Mời bạn cùng đọc nhé:

Độ dày và tạp của tiểu thuyết có một cái gì đấy “hấp dẫn” (có lẽ hấp dẫn người viết hơn là người đọc).Tiểu thuyết vừa là một “sự tha hóa, xuống cấp” của truyện ngắn vừa là một sự “phát triển, bứt phá lên” của truyện ngắn. Nói ra điều này thật buồn cười, có phần khó hiểu với người ngoại đạo. Nếu như truyện ngắn đòi hỏi tinh lọc, thậm chí khắc nghiệt thì tiểu thuyết tạp đến nỗi cái gì cũng có thể thâu nạp vào được. Tiểu thuyết như một nồi lẩu nóng hổi của nghệ thuật.

Khi từ viết truyện ngắn chuyển sang tiểu thuyết, nhà sáng tác có phần nào dễ dàng hơn, “thênh thang” hơn. Không phải tự dưng các nhà cổ điển khuyên các nhà văn trẻ hãy bắt đầu từ truyện ngắn. Việc rèn luyện kỹ năng từ các bài tập truyện ngắn giúp cho các nhà sáng tác khi viết tiểu thuyết nhiều thuận lợi hơn.

“Thời kỳ truyện ngắn” của hơn thập niên qua đủ độ dài cho các nhà sáng tác ở ta có kinh nghiệm chuyển sang “thời kỳ tiểu thuyết”.

Tiểu thuyết là gì? Tôi ngờ ngợ võ đoán tương lai trên văn đàn ở ta sắp tới sẽ có mấy dạng sau đây:

* Tiểu thuyết tự vấn (chữ của nhà văn Nguyên Ngọc) dành cho những nhà văn loại một có “tư tưởng”. Tôi nghĩ rằng đây sẽ thuộc về những nhà văn khoảng độ tuổi “đầu 5”. Trẻ hơn rất khó “tự vấn” vì kinh nghiệm sống không đủ cho họ có thể xem xét nội tâm của mình và nội tâm xã hội.

Ý thức công dân và bản lĩnh của thế hệ nhà văn này theo tôi là chẳng có gì đáng ngại trừ những thằng điên thực sự. Chiến tranh và những kinh nghiệm lịch sử, ký ức, hồi ức, ẩn ức… với độ dài về thời gian sẽ giúp họ có thể xây dựng những tác phẩm có giá trị. Đòi hỏi về tự do tư tưởng của lối tiểu thuyết tự sự, tự vấn này rất lớn và cũng không phải ai cũng “nuốt được thuốc đắng”.

Với lối tiểu thuyết này, điều cơ bản không phải là những đề tài, những vấn đề mổ xẻ “tấn trò đời” (có quá nhiều nguyên liệu dành cho nó) mà việc tìm ra một giọng điệu mới sẽ quan trọng hơn.

Viết theo lối mòn của tiểu thuyết cũ thì chẳng ai đọc được. Đây sẽ là kiểu tiểu thuyết đòi hỏi rất nhiều “võ” (ý tôi muốn nói về kỹ thuật viết văn). Những nhà văn xoàng đừng dại đâm đầu vào lối viết này. Văn chương có điều oái oăm là không phải cứ có ý chí là sẽ làm cho nó hay được. Nhưng thật trớ trêu, đối với các nhà văn xoàng thì càng khó, họ sẽ lại càng đâm đầu vào viết. “Điếc không sợ súng” cũng là một chân lý có thực trong văn học.

Gần đây, người ta thấy nhan nhản các bộ tiểu thuyết, thậm chí trường thiên tiểu thuyết ra đời liên tiếp. Chỉ nhìn qua thống kê trong cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004 của Hội Nhà văn Việt Nam người ta cũng đủ giật mình: con số tiểu thuyết được viết ra trên dưới ba chục cuốn dù cho cuộc thi mới đi được nửa chặng đường!

Trong số các nhà văn viết dài thì Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Đình Chính nổi lên như những “kiệt hiệt”. Những cố gắng không mệt mỏi của Lê Lựu, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Nguyễn Việt Hà, v.v… cũng đáng nể phục…

* Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng, rồi đây thành công của tiểu thuyết Việt Nam sẽ không phải là ở dạng tiểu thuyết “chính thống” kiểu tự vấn, tự sự mà có khả năng sẽ rơi vào dạng tiểu thuyết “mua vui cũng được một vài trống canh”: tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết phiêu lưu, trinh thám hoặc cái gì từa tựa như thế.

Thực tế, một khi xã hội ổn định, đời sống vật chất tinh thần tăng dần lên thì người ta sẽ không còn băn khoăn quá nhiều về “lý tưởng” hoặc “chân lý” gì nhiều nữa (ở đây tôi muốn nói đến lý tưởng sống chung chung và chân lý phàm tục thường nhật chứ không muốn ám chỉ về khía cạnh chính trị).

Có thể nhìn rộng ra thêm ở các hoạt động âm nhạc biểu diễn để so sánh: các ca khúc thu hút giới trẻ (nhạc trẻ) vẫn thường ăn khách ở những tụ điểm vui chơi nhiều hơn “ca khúc truyền thống”. Sẽ là tương tự như thế, những tiểu thuyết best seller hấp dẫn người ta với những chủ đề vô thưởng vô phạt rồi đây sẽ chiếm thế thượng phong.

Tôi cũng nghĩ rằng những nhà văn tiên phong hàng đầu trong lối viết này (nhất là ở giai đoạn đột phá) sẽ phải là những nhà văn tài năng số một. Việc ra đời hàng loạt các tờ báo, tạp chí sẽ tạo điều kiện để các tiểu thuyết fenilleton xuất hiện. Thực tế trong văn học sử nước ta, Thế Lữ, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài, v.v… cũng từng đã viết như thế.

Tại sao tôi nói phải là những nhà văn tài năng số một đột phá vào dạng tiểu thuyết này? Vì nhiều lẽ: một là, thường ở những nhà văn tài năng thì sự nhạy cảm về thời vận ở họ là điều hiển nhiên. Họ chẳng dại gì khư khư một kiểu, một lối mà không đổi mới chính mình; hai là, bởi sức ì của thói quen “đọc văn học” rất ghê gớm, buộc độc giả thay đổi một thị hiếu thì phải có tác phẩm lớn thực sự, thậm chí phải có “thiên tài” đi đầu đột phá. Nếu “võ công” không cao, khó mà thuyết phục được họ!

* Tóm lại, kiểu gì thì kiểu không có một tài năng khai phá thì chẳng thể làm trò trống gì được với thị hiếu – vốn “vô tư”, nhẹ dạ và bạc bẽo, lại cũng hay thay đổi…

Hà Nội, ngày 22/1/2020

Bùi Tâm Văn

ĐẠO SĨ VÀ BẦY CHUỘT

Ở Ấn Độ xưa có một người đi tu. Thời kỳ đầu, ông ta tu tốt, sống cũng rất đơn giản. Ông sống trong một hang động, không làm gì, chỉ lo tu và đi khất thực.

ĐỨC PHẬT THÍCH CA

Từ cái hang nơi ông ở vào làng khá xa. Mỗi lần đi khất thực, ông đều xin nhiều lương thực, thực phẩm để dành trong một cái bao. Cứ khoảng một tuần ông lại rời hang xuống làng khất thực.

Cuộc sống của ông đơn giản, bình yên. Nhưng rắc rối xẩy ra bắt đầu từ mấy con chuột. Vì phát hiện có thức ăn để dành nên lũ chuột kéo đến quấy phá. Vị Đạo sĩ cảm thấy phiền toái, nên ông thấy cần một con mèo canh giữ những thứ để dành.

Vì thế, khi vào làng khất thực, Đạo sĩ xin thêm con mèo. Thức ăn chay vốn đơn giản, mèo con không chịu ăn. Đạo sĩ nghĩ cần sữa cho mèo uống. Do sống xa làng bản, lấy đâu ra sữa cho con mèo. Đạo sĩ lại nghĩ nuôi thêm một con bò lấy sữa nuôi mèo. Và khi có bò, Đạo sĩ phải bớt thời gian tu để chăn bò và vắt sữa cho mèo.

Cứ thế, thời gian trôi qua, bao nhiêu chuyện rắc rối xẩy ra. Khi bò bị bệnh, ông phải bỏ nhiều công sức chăm sóc nó. Lúc này Đạo sĩ không còn thời gian để nấu cơm. Một Phật tử có lòng cảm mộ xin đến ở nấu cơm cho Thầy. Ông đồng ý, nhưng lại nảy sinh vấn đề mới là cô Phật tử ở đâu, vì chỉ có một cái hang nhỏ?

Ông Đạo sĩ lại phải cất một căn nhà cho ni cô ở. Dần dà lại có thêm vài chú tiểu lo lắng việc trong, việc ngoài. Cuộc sống của nhà tu hành đã thay đổi. Một thời gian sau thì việc tu hành cũng chấm dứt…

Vậy là, chỉ vì mấy con chuột, do không xử lý tốt mà công quả tu hành của một người không thể thành tựu, viên mãn…

Trên thực tế, việc tu hành không dễ. Có rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến quá trình này. Những ai không đủ dũng khí, kiên trì và cả trí tuệ thì khó thành tựu công quả. Chả thế mà các bậc thánh như Đức Phật, Đức Khổng Tử, chúa Giê-su, V.I. Lênin… đều khẳng định: Chiến thắng lớn nhất của một người là chiến thắng được chính bản thân mình…

Hà Nội, ngày 21/1/2020

Bùi Tâm Văn

Chuyện của Alexandre Đại đế

Ở vùng Trung Đông, sau thời Đức Phật khoảng mấy thế kỷ, có vị đạo sư tên Điôzen. Ông sống đơn giản, trên người chỉ có một mảnh áo che thân, một cái bát uống nước. Có lần ông nhìn thấy một người cúi xuống múc nước bằng tay để uống. Ông cảm thấy cái bát của mình trở nên thừa nên quăng đi…

Dân trong vùng coi ông như một vị Bồ tát, họ rất nể phục ông. Mỗi khi ông khuyên bảo họ điều gì về đạo lý, họ đều cảm thấy mình được hạnh phúc và an lạc. Tiếng lành về Điôzen đồn xa khắp vùng…

Alexandre Đại đế trên đường chinh phục Trung Đông, nghe đồn về Điôzen, bèn tìm gặp. Alexandre Đại đế gặp Điôzen đúng vào thời điểm ông đang ngồi phơi nắng trong một ngày đông lạnh giá.

Từ xa, Alexandre cùng đoàn tùy tùng thấy một ông lão đang ngồi ung dung tự tại, râu tóc dài. Trên người ông chỉ có một tấm áo quấn quanh, đẹp rực rỡ dưới ánh mặt trời. Ông bèn xuống ngựa, chầm chậm đi đến bên ông lão. Khi đến nơi nhà vua hỏi:

* Ngài có phải là Điôzen?

* Phải, Ngài cần gì?, Điôzen từ tốn đáp.

Hai bên chỉ trao đổi vài câu ngắn ngủi; nhưng phong thái ung dung tự tại của Điôzen khiến vua Alexandre cảm phục. Alexandre là một Đại đế bách chiến bách thắng; nghe danh ông, ai cũng sợ hãi. Chỉ có ông già râu ria xồm xoàn này liếc nhìn ông với ánh mắt bình thản, khiến nhà vua vô cùng cảm phục. Sau vài câu ngắn ngủi, vua Alexandre lên tiếng:

* Thưa Ngài, Ngài có cần gì không?

Hỏi như vậy vì ông nghĩ mình là một vị vua bách chiến bách thắng, uy danh khắp thiên hạ. Ông có nhiều tài sản; nếu Điôzen cần gì, ông sẽ tặng ngay.

Nghe hỏi vậy, Điôzen trả lời:

* Có, tôi cần Ngài xích qua một chút, đừng che ánh mặt trời tôi đang sưởi. Rất cảm ơn!

Thì ra, nhà vua và đoàn tùy tùng đi đến từ hướng đông, khi đứng đã vô tình che hết ánh nắng buổi sáng chiếu vào ông. Nghe vậy, vua Alexandre quay sang nói với đoàn tùy tùng: “Nếu ta không phải là Alexandre Đại đế, ta sẽ là Điôzen”…

Câu chuyện trên thật đáng suy ngẫm phải không các bạn. Rốt cục con người nên lựa chọn lối sống nào đây: lối sống của một vị đế vương, lối sống của những người dân thường, hay lối sống của Ngài Điôzen?

Câu trả lời tùy thuộc vào nhận thức, quan niệm của mỗi chúng ta thôi…

Hà Nội, 20/01/2020

Bùi Tâm Văn

Đố vui (có thưởng)

Xưa, con người đã bày trò đố vui có thưởng. Trong bài này tôi cũng bày ra mấy câu đố. Nếu bạn đoán được sẽ không có thưởng. Nhưng điều đó nào có quan trọng gì… Vì khi đoán được những câu đố, niềm vui chiến thắng sẽ đến với bạn. Điều này chẳng phải là phần thưởng cho bạn sao?

Bạn sẵn sàng chưa? Nào chúng ta bắt đầu nhé:

* “Đi đứng, đứng đổ” là cái gì?

* “Vì mày tao phải đánh tao/ Vì tao, tao lại đánh tao, đánh máy” – là cái hay con gì?

* “Gặp nhau đấy, tìm người để lấy/ Lấy được nhau thì bỏ nhau đấy/ Không lấy được nhau thì đưa nhau về” – là gì?

* Xin thưa trước, câu đố này khó, đòi hỏi bạn phải suy tư nhiều hơn:

Xưa, ở một vùng nọ có một tên quan độc ác, bất nhân. Hắn hay nghĩ ra những trò oái oăm để gây phiền nhiễu, làm hại dân chúng. Khu vực viên quan cai trị có một chiếc cầu bắc qua sông. Dân trong vùng thường qua lại trên chiếc cầu này…

Một hôm viên quan nghĩ ra một trò chơi ác. Hắn cho lính đến canh gác hai đầu cầu và đặt ra luật lệ: một người nào muốn đi qua cầu phải nói một câu. Lính canh sẽ xem xét câu nói đó; nếu xét thấy câu đó đúng thì người nói sẽ bị chém đầu, còn nếu xét thấy câu nói sai thì người đó sẽ bị treo cổ…

Một câu nói khi xem xét thường rơi vào một trong hai trường hợp – đúng hoặc sai. Với điều luật quái ác này dân chúng không dám đi qua cầu nữa. Cuộc sống của họ bị đảo lộn, gặp nhiều khó khăn…

May thay, có một nhà thông thái, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ đã tìm ra một câu mà mỗi khi qua cầu nói câu đó thì bọn lính không thể khép tội được. Nhà thông thái đã truyền bá câu nói đó cho người dân trong vùng. Câu đó là câu gì, theo bạn?

Bạn có thể lời giải các câu đố trên cho tác giả bài viết theo email: buitamvan@gmail.com hoặc phản hồi trực tiếp trên trang blog này…

Trân trọng cảm ơn bạn!

Hà Nội, ngày 18/1/2020

Bùi Tâm Văn

6 blog Việt nổi tiếng dành cho các bạn yêu thích blog

Theo Shel Holtz & Ted Demopoulos (tác giả sách “Blog trong kinh doanh”) thì Blog xuất hiện cách nay 14-15 năm. Ngày 2-5-2005 là một bước ngoặt trong lịch sử ứng dụng blog vào kinh doanh.

Trước thời điểm này, chỉ một số nhà kinh doanh sử dụng blog, một số người vẫn đang cân nhắc và một số khác chỉ dừng lại ở mức độ cảm nhận về nó.

Nhiều quản trị viên dù đã có ý niệm mơ hồ blog là gì nhưng vẫn xem nó như một thứ mốt nhất thời rồi lại qua, hay chỉ đơn giản như một công cụ không liên quan mà giới trẻ sử dụng để viết về những vấn đề riêng tư của họ.

Nhưng từ sau ngày 2-5-2005, nhiều nhà kinh doanh đã dần hiểu ra blog là một công cụ cần quan tâm, đồng thời đây là một nhân tố thiết yếu đầy tiềm năng trong vấn đề giao tiếp giữa người với người.

Ngày 2-5-2005, Tuần báo Kinh doanh (Bisiness Week) xuất bản bài “Blog sẽ thay đổi công việc kinh doanh của bạn”. Theo Shel Holtz & Ted Demopoulos blog không phải là một mốt nhất thời. Từ khi ra đời, blog phát triển mạnh mẽ và đã góp phần xứng đáng vào các hoạt động của con người.

Blog là nơi dành cho những cuộc chuyện trò – một trang trao đổi thông tin. Trong kinh doanh, blog góp phần cập nhật thông tin, nó còn là nơi chủ blog – nhà kinh doanh tham gia vào các cuộc hội đàm của khách hàng trên mạng xã hội.

Từ khi ra đời đến nay, blog là một trong những công cụ hữu ích của con người. Nếu bạn có nhu cầu xây dựng cho mình một blog (điều này có lợi cho bạn) thì ở Việt Nam hiện có một số trang mạng giúp bạn việc này. Đó là 6 blog sau:

1. Thạch Phạm (thachpham.com)

Với cộng đồng yêu thích WordPress thì có lẽ Thachpham.com là website khó bỏ qua. Đây được coi như một cuốn từ điển tiếng Việt về tất cả những thứ liên quan trong quá trình sử dụng ngôn ngữ này. Nội dung của blog phần lớn là do chính tác giả và cộng sự gây nên, chúng có tính chuyên sâu và được giải quyết nhanh gọn nhất.

Mục tiêu chính của blog chính là chia sẻ đến người học những thông tin hữu ích, thủ thuật thú vị với website wordpress. Ngoài ra những thông tin về PHP, JavaScript, HTML/CSS cũng được đề cập khá nhiều.

2. Canh Me (canhme.com)

Được đánh giá khá tốt về chất lượng bài viết với tính hữu ích cao cho các lập trình viên, blog canhme.com chia sẻ các kiến thức về làm web, tạo blog trên nền tảng wordpress. Ngoài ra những thông tin cần thiết cho một website hoạt động như đăng ký tên miền, shared host, VPS… đều được hướng dẫn rất rõ cho người dùng.

Canhme.com không chỉ là một blog chia sẻ kiến thức thông thường, canhme.com còn update hàng ngày, hàng giờ những thông tin “hot” nhất của giới công nghệ một cách nhanh chóng, chính xác nhất.

3. Free Tuts (freetuts.net)

Là blog được thành lập năm 2014, Freetuts nhận được đông đảo sự quan tâm từ những người trong ngành với nhiều mảng kiến thức khác nhau từ lập trình web đến kiếm tiền online.

Hơn 1000 bài viết đã chứng minh sức mạnh với cộng đồng mang lại nhiều kiến thức bổ ích. Blog có lịch trình ra bài khá chu đáo được ghi dưới chân trang cho người quan tâm đến lĩnh vực của mình tiện theo dõi.

Mục tiêu mà Freetuts đặt ra cho mình chính là dù giọng văn có thể không bay bổng nhưng khi đã ra nội dung mới thì phải hữu ích, được nhiều người quan tâm, đặc biệt với 3 lĩnh vực: viết bài affiliate, lập trình, kiếm tiền online.

4. Wp Căn Bản (wpcanban.com)

Được đổi tên từ eBooksvn.com, wpcanban.com là blog có Rank và điểm số tăng rất nhanh vào cao. Tại đây bạn sẽ được tiếp cận những thông tin hữu ích về thiết kế wordpress, youtube, kiếm tiền online.

Không chỉ được đọc tin, học cách làm việc mà sự tương tác khá nhanh từ cộng đồng wpcanban sẽ giải đáp thắc mắc khá nhanh những khó khăn mà bạn gặp phải.

5. Jam Việt (www.jamviet.com)

Jamviet.com là blog chia sẻ các thủ thuật về wordpress và seo nhiều nhất. Với người học, đó là blog tuyệt vời với những bài viết dược cập nhật nhanh chóng. Đến đây bạn sẽ được học những kiến thức thực tế nhất theo ý nghĩ của tác giả – một chuyên gia về các thủ thuật Internet.

Tuy nhiên gần đây, lượng độc giả và dân Seo len lỏi vào khá nhiều nên chất lượng bài viết có phần giảm sút. Nếu chỉ quan tâm đến kiến thức WordPress và Seo thì bạn hoàn toàn nên học hỏi từ Blog này.

6. Tôi đi code dạo (toidicodedao.com)

Hầu hết ai làm về website đều biết đến blog này. Không chỉ là những kiến thức cơ bản của ngành mà còn là những kiến thức liên quan với nhiều lĩnh vực khác nhau toidicodedao.com đã lấn át được không ít những trái tim yêu nghề.

Với giọng văn hài hước, dí dỏm, tác giả Blog là Phạm Huy Hoàng đã giúp cho độc giả của mình cảm thấy nhẹ nhàng hơn rất nhiều khi thu nạp kiến thức mới.

Theo tác giả, Blog này ra đời với mục tiêu 50% nội dung về kỹ thuật lập trình, 50% còn lại sẽ dành cho những bài viết chia sẻ kinh nghiệm học được từ những khía cạnh khác nhau trong cuộc sống như: cách deal lương, sắp xếp thời gian, kỹ năng mềm…

Hà Nội, ngày 18-01-2020

Bùi Tâm Văn

7 bí quyết giúp bạn “bắt tay đúng cách” trong giao tiếp

Cái bắt tay xuất hiện trong lịch sử nhân loại vào thời nào? Rất khó trả lời câu hỏi này. Nhưng ở thời hiện đại, cái bắt tay giữa hai người trong giao tế trở thành hành vi phổ biến. Tuy nhiên, bắt tay như thế nào cho đúng, phù hợp giúp cho tình cảm giữa người với người ngày càng tốt đẹp, công việc làm ăn thêm hanh thông, thuận lợi thì không phải ai cũng làm tốt được điều này…

Nhưng mọi việc ta đều có thể học. Dưới đây là 7 bí quyết giúp bạn bắt tay đúng cách. Các bạn tham khảo nhé:

1) Cái bắt tay lạnh nhạt và cái bắt tay thô bạo: Điều quan trọng nhất khi bắt tay là phải sử dụng một lực vừa phải. Nhiều người sẽ có ấn tượng xấu về bạn nếu bạn đón tiếp họ với cái bắt tay lạnh nhạt. Cụ thể: bạn đặt bàn tay yếu ớt, thiếu sinh khí của mình vào bàn tay họ một cách hờ hững. Có người nghĩ bạn yếu đuối, có người nghĩ bạn thuộc chíp người thiếu quyết đoán. Thậm chí, một số người sẽ nghĩ: “Mình sẽ không bao giờ giao dịch với con người này”.

Ở một thái cực khác là cái bắt tay thô bạo: người khác có thể nắm tay bạn mạnh đến mức bạn có cảm giác như máu ngừng chảy và chiếc nhẫn trên tay họ để lại dấu hằn trên các ngón tay bạn vài ngày. Đa số mọi người tự hỏi: “Anh chàng này muốn chứng tỏ điều gì?” Cái bắt tay lý tưởng sẽ nằm giữa sự lạnh nhạt và thô bạo – mạnh nhưng không quá mức (để thành thô bạo)…

Một số bạn nam hỏi có nên bắt tay phụ nữ nhẹ nhàng không? Câu trả lời là không, vì điều này sẽ tạo cảm giác bạn có vẻ kẻ cả. Vì thế, bạn cần bắt tay một cách phù hợp với cả hai phái…

2) Chỗ hõm giữa ngón chỏ và ngón cái của hai bàn tay phải chạm nhau: Để có cảm nhận thật sự về mối liên hệ với người khác, bạn cần bắt tay sao cho chỗ hõm giữa ngón chỏ và ngón cái của bàn tay bạn chạm vào chỗ hõm ở bàn tay họ. Trong đa số trường hợp, điều này được thực hiện dễ dàng.

Nhưng trong thực tế có những kiểu bắt tay gây cản trở cho lối giao tiếp vừa nêu. Một số người có cách bắt tay găngxtơ: bắt tay từ bên hông. Một số người lại giơ tay từ trên cao rồi đột ngột hạ xuống. Để tránh hai tình huống này, bạn có thể đưa cánh tay thẳng ra phía trước sao cho nó ở vị trí ngay trên thắt lưng.

3) Lắc tay: Bạn nên lắc tay bao nhiêu lần? Nếu chỉ lắc một lần thì chưa đủ, có vẻ thiếu lễ độ, giống như bạn đang làm một việc chiếu lệ. Nhưng đối với nhiều người (điều này thay đổi tùy theo tình huống cũng như nền văn hóa) thì lắc tay ba bốn lần hoặc hơn lại nhiều quá. Thích hợp nhất là nên lắc tay hai lần…

4) Tôi là người bề trên: Khi ai đó đưa bàn tay ra và đặt nó phía trên bàn tay bạn thì họ đang gửi đi thông điệp: “Tôi là người bề trên”. Có thể họ không biết mình đang làm như vậy, nhưng người khác lại nghĩ thế! Một số người để ngửa lòng bàn tay khi chìa bàn tay ra, điều này cho thấy họ ở vị thế của kẻ dưới.

Nếu gặp phải một trong hai tình huống đó, bạn nên đưa tay thẳng, nhờ đó bạn gây được ấn tượng mạnh hơn với hầu hết mọi người.

Khi bắt tay, một số người dùng cả hai bàn tay và còn chạm vào bàn tay, khuỷu tay hoặc cánh tay của người kia. Họ sử dụng một bàn tay theo cách thông thường và đặt bàn tay còn lại ở phía trên cùng hoặc ở lưng chừng trên cánh tay người kia. Bàn tay thứ hai đặt ở vị trí càng cao trên cánh tay của người kia thì càng tạo được cảm giác thân mật. Người sử dụng cả hai bàn tay có thể gửi đi thông điệp “hãy tin tôi”.

Song, hãy thận trọng khi bắt tay người mới gặp theo cách này, bởi nó chỉ đem lại hiệu quả với người bạn đã quen biết. Nếu không họ có thể nghĩ: “Tại sao tôi phải tin anh? Sao anh lại tỏ ra thân thiện đến thế?”.

5) Biết lúc nào cần buông tay ra: Bắt tay người khác quá lâu sẽ khiến họ cảm thấy khó chịu. Còn nếu buông tay quá sớm thì người kia sẽ không cảm nhận được sự nhiệt tình của bạn.

Làm thế nào để biết được mình bắt tay quá lâu hoặc quá nhanh? Trong đa số trường hợp, bạn chỉ cần bắt tay khoảng 1-2 giây. Nhưng bí quyết để biểu lộ sự chân thành là hãy giữ tay họ lâu hơn một tích tắc nữa…

6) Đừng tạo khoảng cách với người khác: Khi ai đó đưa cánh tay thẳng ra thì đó là cách họ tạo khoảng cách an toàn. Hành vi này gửi thông điệp: “Đừng bước vào không gian riêng của tôi”.

Khi bạn làm như vậy, người khác sẽ nhận biết được và nó tạo ra hàng rào cản trở bạn thiết lập quan hệ với họ…

7) Đừng để ra mồ hôi tay và lo âu: Khi tay bạn có mồ hôi hoặc nước sẽ không tạo được ấn tượng tốt đẹp. Trong trường hợp này, bạn nên sử dụng khăn giấy hoặc lau bàn tay vào phía sau quần hoặc váy trước khi bắt tay (đừng để người kia trông thấy) là được…

Tài liệu tham khảo

[1] Amanda Visckers, Steve Bavister và Jackie Smith: Để gây ấn tượng cá nhân (Những điều cần có để tạo sự khác biệt), Nxb TH Tp Hồ Chí Minh, 2010.

[2] Andrew Leigh: Giải mã sức thu hút cá nhân – Cách tạo ấn tượng mạnh mẽ và bền vững, Nxb TH Tp Hồ Chí Minh, 2009.

[3] Ingrid Zhang: Hình ảnh của bạn đáng giá triệu đô, Nxb Văn hóa thông tin, 2013.

Vai trò giáo dục trẻ của phụ nữ Việt trong gia đình

1. Trong thời kỳ ấu thơ, ảnh hưởng của người phụ nữ, đặc biệt là người mẹ, người bà đối với đứa trẻ là rất lớn; trong nhiều trường hợp còn có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành nhân cách của một cá nhân.

Nền giáo dục Việt Nam thời nay chủ trương giáo dục theo bốn chuẩn mực: Đức, Trí, Thể, Mỹ. Cả bốn lĩnh vực này, trên một ý nghĩa nào đó, người phụ nữ đều có tác động quan trọng. Nhưng ảnh hưởng lớn nhất đối với trẻ những năm tháng đầu đời là đạo đức. Phụ nữ là “Người thầy đầu tiên” của trẻ. Ngay từ lúc lọt lòng, đứa trẻ đã nhận được sự giáo dục từ người mẹ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy giáo dục trẻ càng sớm càng tốt. Từ 0 đến 6 tuổi được xem là thời kỳ vàng trong giáo dục trẻ. Trong thời gian này, người lớn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển về trí tuệ, nhân cách, tâm hồn của đứa trẻ. Người Do Thái khẳng định: “Giáo dục của mẹ lớn hơn sự dạy dỗ của cả trăm người thầy[1]”.

Có những bằng chứng nghiên cứu khẳng định giáo dục sớm giúp tốc độ phát triển trí thông minh (IQ) nhanh hơn nhiều so với giáo dục muộn. Theo nhà khoa học Nhật Bản – Kimura Kyuichi thì: “Một đứa trẻ chưa sinh ra vốn có tiềm năng về khả năng là 100 độ. Nếu vừa ra đời đã nhân được sự giáo dục lý tưởng thì sẽ có khả năng trở thành người trưởng thành có năng lực 100 độ. Nhưng nếu bắt đầu giáo dục khi trẻ 5 tuổi, dù giáo dục tốt đến mấy, cũng chỉ trở thành người có năng lực đạt mức 60 độ”[2].

2. Từ khi lập quốc đến nay, nhìn chung, phụ nữ Việt Nam có những phẩm chất quý giá: Thương yêu chồng con; hy sinh bản thân cho chồng con; giữ gìn gia phong; tạo phúc cho con cháu, v.v… Hình ảnh người phụ nữ truyền thống được khắc hoạ qua bài “Thương vợ” của nhà thơ Tú Xương:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo xèo mặt nước buổi đò đông.

Hơn thế, người phụ nữ Việt Nam là người sinh thành, nuôi dưỡng, là người thầy thuốc, người thầy giáo (đầu tiên) đối với con trẻ. Với vai trò người thầy giáo, người phụ nữ trong xã hội xưa sẵn sàng gánh vác trách nhiệm thiêng liêng khi người chồng đi xa: “Ngọt bùi thiếp đã hiếu nan/ Dạy con đèn sách, thiếp chàng phụ thân[3]”.

 Nói đến người mẹ Việt Nam ta không được quên một trong những điểm nổi trội là sự quan tâm tu dưỡng nhân cách và tích đức cho con cháu. Họ luôn sống với tâm niệm “Phúc đức tại mẫu”. Làm gì thì làm người phụ nữ cũng phải nghĩ đến để lại phúc cho con, cháu.

Phúc là cái gì rất trừu tượng, nhưng cũng rất cụ thể trong tâm thức người Việt. Sự tích đức của các bà mẹ Việt Nam đơn giản và cụ thể. Đó là chú ý ăn ở cho tốt, năng làm việc thiện, giữ gìn tư cách, nhân phẩm, bảo tồn nề nếp gia đình. “Nghệ thuật làm mẹ của người phụ nữ Việt chủ yếu là ở sự tích đức” (GS Vũ Ngọc Khánh).

Phụ nữ Việt Nam xưa không/ít được học hành, cuộc đời cũng không mấy êm ả nhưng vẫn luôn tin vào một cái phúc đức nào đó do chính họ ăn ở hiền lành tạo ra (“Ở hiền gặp lành”). Đây là một quan niệm truyền thống, có giá trị, đến nay vẫn hiển hiện trong xã hội chúng ta. Từ quan niệm như vậy, người mẹ Việt Nam đã nuôi dưỡng, giáo dục cho xã hội, đất nước những đứa con hữu ích.

Trong xã hội xưa, do ảnh hưởng của Nho giáo, hiếu học dần trở thành một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta. Trong quá trình học tập để thành tài, người phụ nữ có vai trò quan trọng đối với chồng con họ.

Những người mẹ, người vợ đã đảm đang nhiều việc từ sản xuất (nông nghiệp, thủ công, buôn bán) đến nội trợ gia đình để nuôi chồng, con ăn học thành tài và nên người. Làng xã xưa tôn vinh khi người phụ nữ có công giúp chồng con mình ăn học thành tài. Trong bản Hương ước làng Khuông Hạ (nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội) viết: “Nếu người đàn bà nào nhà nghèo chịu khó làm ăn cặm cụi, nuôi chồng con học hành làm nên danh phận thì dân sẽ có chiếu riêng để khi đình đám, phải mời những người ấy ra đình lễ thần nghe hát[4]”.

Chốn đình trung xưa chỉ dành cho nam giới ra tế lễ, bàn việc làng. Hương ước làng Khuông Hạ cho thấy làng này tôn trọng phụ nữ, đánh giá cao công lao của họ trong việc nuôi chồng con học hành đỗ đạt thành tài. Vì thế mà GS Vũ Ngọc Khánh khẳng định: “Đối với nền văn hoá Việt Nam, phụ nữ quả đã có một vài trò rất lớn: vai trò tạo tác, vai trò duy trì, vai trò triển khai[5]”.

Một trong những chức năng của gia đình là chức năng giáo dục. Chức năng này là “lớn nhất, thiêng liêng nhất” (GS Vũ Ngọc Khánh).

Trong xã hội xưa, phụ nữ phải lập gia đình, phải sinh con và giáo dục con thành người. Giáo dục trong gia đình là chính, quan trọng; còn nhà trường, xã hội chỉ hỗ trợ thêm[6]. Ở Pháp, Voltaire đã từng nói: “Bàn tay lắc chiếc nôi là bàn tay cai trị thế giới”. Phụ nữ quả có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội.

Trong xã hội cũ, hầu hết phụ nữ không được ăn học, nên không biết chữ. Vậy họ dạy con như thế nào? Người phụ nữ Việt căn bản dạy con về mặt đạo đức, để hình thành những con người có nhân cách.

Người phụ nữ Việt Nam luôn có niềm tin vào một cái phúc, đức nào đó. Theo họ, con người cần phải sống ngay thẳng, đạo đức thì sẽ hiểu được điều tốt lành. Quan niệm “ở hiền gặp lành”, luận thuyết nhân quả của Đạo Phật, tu dưỡng bản thân, giáo dục của Nho giáo đã chi phối lối nghĩ, lối sống của người phụ nữ Việt. Họ đã truyền dạy những điều này cho con cháu.

Phụ nữ giữ vai trò quan trọng, to lớn đối với đứa trẻ vì khi trẻ mới sinh chưa đến trường thì người mẹ, người bà là những người gần gũi trẻ nhất. Người mẹ cho trẻ bú mớm, ăn uống và vuốt ve, âu yếm đứa nó. Khoa tâm lý học trẻ em cho biết, với những cử chỉ vuốt ve, âu yếm và những câu nói nựng như “cún con của mẹ”… sẽ “theo dòng sữa vào trong từ thớ thịt đứa trẻ”, nó là vô giá với sự hình thành nhân cách con người.

Theo GS Hồ Ngọc Đại, nuôi trẻ thơ không phải chỉ nuôi bằng sữa mà còn nuôi bằng tình thương. Hạt giống tình thương gieo vào thời điểm này là hợp thời nhất. Nó cắm rễ sâu tới điểm tận cùng của tâm hồn con người. Tình thương đó giúp trẻ vững vàng trong cuộc sống, có tâm hồn thanh thản và một bộ óc thông minh[7].

Sự tích đức của các bà mẹ đơn giản chỉ là sự chú ý làm việc thiện, giữ gìn tư cách đạo đức, bảo tồn gia phong. GS Vũ Ngọc Khánh coi “nghệ thuật làm mẹ” của phụ nữ chủ yếu ở sự tích đức. Sự tích đức này không chỉ bảo vệ, giúp ích cho chồng mà còn có tác dụng lâu dài và ảnh hưởng sâu sắc đến con cháu.

Với tư cách là người mẹ, phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách của con cái. Họ là “cô giáo” trong suốt cuộc đời của con. Không chỉ “dạy con từ thuở còn thơ” mà mẹ Việt còn tiếp tục dạy con mình ngay cả khi họ đã trưởng thành, cả khi thành đạt, có cương vị, địa vị cao ngoài xã hội.

Hạnh phúc nhất của người phụ nữ là khi chồng con, gia đình mình thành đạt, hạnh phúc. Với việc sinh con, người phụ nữ đã tạo ra cả một thế giới. Họ có xu thế hướng nội, tập trung vào gia đình mình. Họ tìm thấy niềm vui, lẽ sống, niềm hạnh phúc trong tổ ấm gia đình mình…

Người phụ nữ Việt Nam đáng được tôn trọng, vinh danh. Họ đã vượt qua các thói tục lạc hậu, bất công của xã hội truyền thống để góp phần tạo nên những con người hữu ích cho xã hội. Họ thật xứng đáng với các danh hiệu: “Tay hòm chìa khoá”; “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” (Hồ Chí Minh).

TS. Bùi Hồng Vạn

Tài liệu trích dẫn


[1] Ikeda Daisaku: Thế kỷ XXI: Ánh sáng giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, 2013, tr.15.

[2] Ngô Hải Khê: Phương án giáo dục sớm từ 0-6 tuổi, Nxb Lao động XH, 2013, tr.19.

[3] GS Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Khôi: Gia đình, gia phong trong văn hoá Việt, Nxb Hà Nội, 2012, tr.185.

[4] – Nguyễn Thế Long: Gia đình – Những giá trị truyền thống, Nxb Văn hoá – Thông tin, 2012, tr.23.

[5] Vũ Ngọc Khánh: Văn hoá Việt Nam – Những điều học hỏi, Nxb Văn hoá – Thông tin, 2004. tr.668.

[6] Vũ Ngọc Khánh: Văn hoá Việt Nam – Những điều học hỏi, Nxb Văn hoá – Thông tin, 2004, tr.670.

[7] Hồ Ngọc Đại: Bài báo, Nxb Lao động, 2000, tr.113.

EM RẤT THÍCH MƯA

Chiều nào cũng vậy, khi hoàng hôn buông xuống đã thấy đôi trai gái ấy đi bên nhau tâm sự trên con đường vắng.

Một  hôm, khi hai người đang đi thì trời bắt đầu rơi vài hạt mưa. Người con trai nhìn lên trời và nói: “Trời sắp mưa to rồi em ơi!”. Người con gái không trả lời, vẫn bình thản đi. Đi thêm một đoạn thì mưa rơi nặng hạt.

Người con trai lại bảo: “Ta vào trú mưa thôi em!”. Người con gái nhìn lên trời, đưa bàn tay đón những hạt mưa rơi và nói: “Em rất thích mưa”… Cô vẫn chậm rãi bước, càng đi mưa càng to dần. Người con trai kéo tay người con gái lên vỉa hè trú mưa. Người con gái không chịu lên, vẫn đi tiếp dưới mưa.

Người con trai đành đứng một mình dưới hiên ngôi nhà cạnh con đường, anh đưa mắt nhìn theo bóng người yêu đi trong mưa cho đến khi trời tối đen…

Chiều hôm sau, khi hoàng hôn buông xuống, người ta không thấy đôi trai gái đó dạo bước trên con đường vắng ấy nữa…

(Truyện cực ngắn của Lưu Đức Trung)

“Tư duy lưỡng hợp” với sinh viên đại học

Chúng ta quan niệm vào học đại học là đã vượt qua một cái “ngưỡng” phổ thông để lên học ở cấp học mới, cao hơn và khác hẳn về chất, nội dung so với phổ thông thì phương pháp học đại học cũng khác phổ thông. Bởi “Đối tượng nào, phương pháp ấy”, “Đối tượng chi phối phương pháp”.

Theo đó, sinh viên vào đại học phải được/tự trang bị một hệ thống phương pháp phù hợp với yêu cầu của cấp học mới.

Bàn đến phương pháp học đại học là một vấn đề rộng lớn mà khả năng và điều kiện có hạn của chúng tôi không cho phép. Vì thế trong bài này, chúng tôi chỉ bàn đến một phương pháp cụ thể – phương pháp “tư duy lưỡng hợp” để góp phần xây dựng phương pháp học tập cho sinh viên hiện nay.

“Tư duy lưỡng hợp” là loại tư duy khi xem xét một sự vật, hiện tượng phải xem xét cả hai mặt: phải, trái; trước, sau; mặt tích cực, mặt tiêu cực… Từ đó tiến tới nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng đang xem xét. Đây là loại tư duy hầu như dân tộc cũng có; nó được phản ánh trong triết học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học…

Ở Việt Nam, “tư duy lưỡng hợp” đã có từ lâu trong lịch sử. Nó có biểu hiện rõ nét trong kho tàng văn hoá dân gian người Việt[2] và được bảo tồn, phát huy đến ngày nay. Chúng ta có thể tìm thấy lối tư duy lưỡng hợp trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong nền văn hoá dân tộc ta.

Trong kho tàng văn học dân gian và kho tàng văn học viết của dân tộc, chúng ta tìm thấy những câu mà khi xem xét về ý nghĩa thấy chúng đối lập nhau. Chẳng hạn, cùng nói về một người, một vị trí trong xã hội xưa, ở chỗ này chúng ta gặp quan niệm: “Một người làm quan, cả họ được nhờ”.

Nhưng ở chỗ khác, ta gặp quan niệm ngược lại: “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Câu trên coi trọng, đề cao địa vị làm quan, nhưng câu dưới thì phủ định lại. Cũng như vậy, chúng ta gặp các câu: “Nhất sĩ, nhì nông”, câu này đề cao giới trí thức phong kiến. Sĩ là số một, cao hơn hẳn nhà nông, nghề nông. Song thời thế không phải lúc nào cũng thế! Chỉ cần đến lúc “hết gạo” phải chạy rông thì lập tức “Nhất nông, nhì sĩ”.

Nói về sự học, dân tộc ta có truyền thống hiếu học. Bao nhân tài của đất nước xưa nay đều “nên thợ, nên thầy nhờ có học”[3]. Nhưng người ta vẫn khuyên nhau: “Ai ơi chớ lấy học trò. Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”.

Trong quan hệ của xã hội xưa, có sự phân biệt đẳng cấp và nghề nghiệp. Vì thế mà mặc dù biết “phi thương bất phú”; nhưng dân ta ít người theo nghề buôn hoặc chỉ buôn bán nhỏ, đã thế còn phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp. Còn ai đó mang lấy nghiệp buôn vào thân thì bị người khác xem/coi thường và họ bị xếp xuống bậc cuối trong thứ bậc “tứ dân”: Sĩ – Nông – Công – Thương.

 Trong xã hội truyền thống, người ta thường coi trọng người đàn ông. Tục ngữ nói rõ: “Đàn ông nông nổi giếng thơi. Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Cái sâu sắc của người đàn bà trong câu trên cũng chỉ bằng cái “cơi đựng trầu”. Trong khi đó, cái nông nổi của người đàn ông đã bằng cái giếng thơi (khơi) rồi.

Song, tình hình không phải lúc nào cũng như vậy. Trong cuộc sống thực, có không ít người phụ nữ tài giỏi, họ chẳng kém gì đàn ông. Thế nên mới có câu: “thấp mưu thua trí đàn bà”.

Trong quan hệ vợ chồng, nhiều người đàn ông tuyên bố: “Nhất vợ, nhìn trời”. Nhưng ở một chỗ khác, trong một bối cảnh khác, nhất là ở nơi quan trên ngó xuống, người ta trông vào thì họ đổi giọng và bấy giờ họ lại nói: “Dạy con từ thuở còn thơ/ Dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về”.

Nói đến chuyện đi đây đi đó, vượt ra khỏi luỹ tre làng, người Việt thường khuyên nhủ nhau: “Đi cho biết đó, biết đây. Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Vẫn biết “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, “Làm trai cho đáng nên trai. Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”… Song ở hoàn cảnh khác, họ lại khuyên nhau: “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”, “Ta về ta tắm ao ta/Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”.

Chuyện quan hệ dòng họ, láng giềng cũng tương tự như vậy. Người ta vẫn thường nói: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Máu chảy đến đâu ruồi bâu đến đấy”. Nhưng cuộc sống cũng dạy con người tình làng, nghĩa xóm trong nhiều trường hợp còn quý/cần hơn tình ruột thịt. Bởi hàng xóm “tắt lửa tối đèn có nhau”, nên mới có câu: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”.

 Trong tình yêu và trong tình nghĩa vợ chồng, người ta vẫn nói: “Một túp lều tranh hai trái tim vàng”; “Chồng ta áo rách ta thương. Chồng người áo gấm xông hương, mặc người”. Nhưng vẫn có những phụ nữ khuyến cáo nhau: “Một giờ ngồi tựa thuyền rồng. Còn hơn cả kiếp ngồi trong thuyền chài”; “Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt. Còn hơn le lói suốt thiên thu”.

Trong quan hệ chính trị, có người quan niệm: “Dân vi bang bản” (Dân là gốc); nhưng ngược lại cũng có cả quan niệm: Dân là gà vịt, quan là chim ưng, gà vịt dùng để nuôi chim ưng!

Đối với thiên nhiên, có lúc người ta ca ngợi sức mạnh con người chinh phục, chế ngự thiên nhiên: “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”, “Vắt đất ra nước thay trời làm mưa”… Nhưng đấy là nói đến mặt làm được của con người.

Song ngẫm lại, con người tự thấy mình còn vô cùng yếu ớt trước sức mạnh ghê gớm của tự nhiên. Vì thế người ta phải cảnh báo, giáo dục nhau: “Núi cao sông hãy còn dài. Dăm năm báo oán, đời đời đánh ghen”…

Tóm lại: “Tư duy lưỡng hợp” là loại tư duy không xa lạ đối với dân tộc ta và nhiều dân tộc khác. Loại tư duy này đòi hỏi phải luôn nhìn các sự vật, hiện tượng trong thế đối lập. Với cách nhìn như vậy sẽ giúp chúng ta nhận chân được bản chất các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

Sinh viên hôm nay, những người sẽ gánh trọng trách của đất nước mai sau cần chuẩn bị hành trang cho mình thật tốt. Hành trang mà mỗi sinh viên cần chuẩn bị, mang theo vẫn sẽ là: Học ở đại học “chủ yếu là nắm lấy phương pháp suy nghĩ…, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề”[4], trong đó hẳn phải có phương pháp “tư duy lưỡng hợp”…

Bùi Hồng Vạn

(Bài đã đăng tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, số 4-1995)


Tài liệu trích dẫn

[2] GS Trần Quốc Vượng: Bài giảng “Phương pháp hay phong cách học đại học” cho sinh viên K25, Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1980.

[3] Dẫn theo sách Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 353.

[4] Phạm Văn Đồng: Hãy tiến mạnh trên mặt trận khoa học và kỹ thuật, Nxb Sự thật, 1969, tr. 33.

TẢN MẠN VỀ NỤ CƯỜI

Thành ngữ Việt có câu: “Dù no, dù đói cho tươi/ Cái miệng em cười đói cũng như no“… Ngày xưa, người phụ nữ được giáo dục theo “tứ đức”: CÔNG – DUNG – NGÔN – HẠNH. Trong bốn đức này, nụ cười thuộc “đức” DUNG. Cái miệng em cười, đói cũng như no, hay thì hay thật nhưng rất áp lực với chị em! Nhưng mà, trời đã sinh ra ta, phong cho ta là “phái đẹp”, biết làm sao đây!

Nụ cười hóa ra lại quan trọng. Thế mới sinh “tiếu lâm” (rừng cười)… và lại thêm những thành ngữ mới: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”; “Cười lên đi cho tâm hồn thoải mái”…

Đấy là nụ cười trong suy tư của người Việt. Còn các bạn Tây thì bảo: “Hãy mỉm cười – nụ cười khiến cả thế giới cười lại với bạn”, rồi bình tán thêm:

“Không gì sánh bằng một nụ cười chân thật khi bạn muốn mở đầu câu chuyện một cách tốt đẹp với người nào đó. Nụ cười tiết lộ nhiều điều tích cực về bạn: bạn hạnh phúc, tự tin, dễ gần, tích cực và nhiệt tình…

Còn nếu bạn không mỉm cười khi gặp người khác thì sao? Bạn sẽ khiến họ nghĩ rằng bạn đang lo lắng, không thoải mái hoặc thậm chí cáu kỉnh. Điều này sẽ không bao giờ tạo được ấn tượng ban đầu tốt đẹp, phải không?

Khi bạn mỉm cười, người khác có khuynh hướng cười lại với bạn vì cảm xúc dễ lây truyền, nhưng đó phải là nụ cười tự nhiên. Người ta dễ phát hiện ra nụ cười giả tạo… Khi bạn cười tự nhiên, các cơ gò má sẽ hoạt động, các cơ này nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức con người.

Do đó, bạn không thể làm cho đôi mắt “long lanh” theo ý muốn chủ quan của mình, điều này chỉ xẩy ra khi bạn nhìn thấy người hoặc vật mình yêu thích… Một số người rất dễ mến khi mỉn cười, dường như họ làm điều đó một cách tự nhiên.

Bạn cũng có thể làm được như vậy dù đôi lúc bạn cảm thấy lúng túng hoặc ngượng ngùng. Vấn đề chỉ là bạn phải chịu khó luyện tập…” [sách “Để gây ấn tượng cá nhân”, Nxb. Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2010, 78-79]…

Vậy là con người cần nụ cười, phần để “đánh chiếm” trái tim người khác trong giao tiếp; phần để cân bằng sự sống người…

Thế nên vua Hề Sác-lô, Mít-stơ Bin ra đời ở Âu Mỹ. Còn trên dải đất hình chữ S này thì xuất hiện các hề chèo thời xưa, và thời nay thì nhan nhản các danh hài sinh ra như nấm mọc sau mưa…

Bùi Tâm Văn

NHẶT CHI CON ỐC VÀNG

Phàm là người thì hầu như ai cũng muốn được nhàn hạ, sung sướng. Đấy là một nét tâm lý chung, cũng là một trong những bản tính của con người…

Thế nhưng, nếu tĩnh tâm ngẫm lại thì thấy rõ: từ khởi thủy đến nay, để một trong những loài động vật (theo Đác Uyn) tiến hóa thành người thì phải mất hàng triệu năm. Loài động vật ấy đã phải gian nan, cực khổ đến thế nào…

Từ động vật đến Homo Faber (người biết chế tạo công cụ), rồi Homo Sapiens (người tinh khôn, hiện đại)… là cả một chặng dài tiến hóa trong sự khổ cực, đớn đau…

Vậy mà thời nay, một bộ phận không nhỏ Homo Sapiens lại mong cầu được cái này, cái kia một sớm, một chiều, mọi cái phải đến thật nhanh, càng nhanh, càng tốt!

Mâu thuẫn, phản quy luật đến thế là cùng… Những hệ lụy tai hại đã/đang/sẽ xẩy ra với họ và với cả những người khác…

Mấy chục năm trước, nữ nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có viết:

Nhặt chi con ốc vàng

Sóng xô vào tận bãi

Những cái gì dễ dãi

Chẳng bao giờ bền lâu!

CHÍ LÝ…!!!

Hà Nội, thứ 6, 10-01-2020

Bùi Tâm Văn

THÊM MỘT

Trong cuộc sống, có những trường hợp nếu thêm vào thì tốt, nhưng có không ít trường hợp thêm vào lại hóa ra dở.

Cũng không nhiều nhặn gì, chỉ “thêm một” thôi cũng làm thay đổi cán cân lực lượng… Nhà thơ Trần Hòa Bình bảo ta thế (Tin hay không thì tùy!):

Thêm một chiếc lá rụng

Thế là thành mùa thu

Thêm một tiếng chim gù

Thành ban mai tinh khiết

Dĩ nhiên là tôi biết

Thêm một – lắm điều hay

Nhưng mà tôi cũng biết

Thêm một – phiền toái thay

Thêm một lời dại dột

Tức thì em bỏ đi

Nhưng thêm chút lầm lì

Thế nào em cũng khóc

Thêm một người thứ ba

Chuyện tình đâm dang dở

Cứ thêm một lời hứa

Lại một lần khả nghi

Nhận thêm một thiếp cưới

Thấy mình lẻ loi hơn.

Thêm một đêm trăng tròn

Lại thấy mình đang khuyết.

Dĩ nhiên là tôi biết

Thêm một – lắm điều hay .

(1986)

THỞ VÀ GIỮ IM LẶNG (3)

NHỮNG CÂU HỎI VỀ THAM VỌNG CÁ NHÂN:

(Bạn nên suy ngẫm về những câu hỏi dưới đây trong khi tập luyện bài tập thở và giữ im lặng nhé):

+ Tôi đang đi đến đâu? Tôi muốn cuộc đời mình đi về đâu? Tôi muốn làm việc gì? Tôi mong muốn trở thành người như thế nào? Tôi muốn đạt được điều gì trong cuộc đời mình?

+ Tôi muốn có tương lai như thế nào? Vào cuối đời tôi sẽ ở vị trí như thế nào? Tôi là ai? Đặc điểm của tôi là gì? Lý do tôi tồn tại? Tại sao tôi lại ở đây? Hình ảnh của tôi là gì? Cách tôi nhìn nhận bản thân? Tôi là người như thế nào? Tôi tin tưởng vào điều gì?

+ Tôi đại diện cho điều gì? Tôi sống vì ai? Niềm tin chính của tôi là gì? Điều gì khiến tôi đặc biệt, khác biệt và nổi bật? Người khác đánh giá về tôi như thế nào? Họ nói gì về tôi? Tôi thu hút họ ở điểm gì?

+ Người khác nghĩ gì về tôi? Họ có thể trông cậy điều gì ở tôi? Họ đánh giá các giá trị của tôi như thế nào? Người khác đánh giá cao điều gì trong công việc của tôi? Điều gì quyết định thành công của tôi? Những tài năng độc đáo của tôi là gì?

+ Tôi được thừa nhận vì điều gì? Tôi tự hào nhất về việc làm nào của mình? Tôi cần những kỹ năng, tài năng và kinh nghiệm gì để gia tăng giá trị cho người khác? Tôi làm gì để tăng giá trị đáng kể, khác biệt và đặc biệt?

+ Tôi làm công việc nào tốt nhất và dễ dàng nhất? Tôi thỏa mãn về điều gì? Tôi say mê điều gì? Điều gì khiến tôi vui hoặc buồn?

+ Tôi thích nhất điều gì? Trong tương lai tôi thích nó nữa không? Điều gì thúc đẩy tôi? Tôi tìm thấy niềm vui ở đâu? Điều gì khuyến khích tôi?

+ Những giá trị và nguyên tắc nào gần gũi với tôi nhất, là điều thiêng liêng nhất đối với tôi, in dấu ấn trong cuộc đời tôi?

+ Điều nào mâu thuẫn trong các giá của tôi và mâu thuẫn với mặt mạnh nào của tôi? Làm thế nào tôi có thể tạo ra được ý nghĩa cho cuộc đời mình và nhận ra ý nghĩa đó trong tất cả mọi việc chứ không chỉ là việc kiếm tiền?

+ Của cải, vật chất quan trọng như thế nào với tôi? Tôi muốn hiểu biết bản thân như thế nào và được mọi người biết đến như thế nào?

+ Tôi muốn khắc lên bia mộ của mình điều gì sau khi qua đời? Những kỉ niệm nào tôi muốn mọi người nhớ đến sau khi qua đời?

+ Tôi muốn được nhớ tới vì điều gì? Nếu tôi chết, tôi sẽ để lại tài sản gì? Tôi muốn để lại cho người khác thứ gì có ý nghĩa?

+ Điểm khác biệt nào tạo nên sự tồn tại của tôi? Những trở ngại nào cản đường tôi đi tới tương lai? Khi đương đầu với những trở ngại đó, tôi có điểm yếu nào?

+ Điều gì ngăn cản tôi trở thành con người như tôi mong muốn? Ai sẽ nhận ra giá trị và những thế mạnh độc đáo của tôi?

+ Mọi người nói gì về tôi? Tôi nghĩ gì về họ? Tôi hiểu người khác đến mức độ nào?

+ Tham vọng của tôi về một cộng đồng mà tôi muốn sống là gì? Tôi muốn được giúp đỡ gì để hiện thực hóa tham vọng này? Với tôi, điều gì tốt và điều gì xấu?

+ Tôi muốn học hỏi điều gì nhất? Tôi muốn bỏ thói quen gì? Tôi thích làm việc gì? Điều tôi coi trọng là gì? Điều gì tôi cho là tuyệt vời và hấp dẫn nhất? Tôi sẵn sàng hy sinh thứ gì để hiện thực hóa mục đích sống của mình? Tôi thật sự mong muốn điều gì?

+ Tôi muốn đầu tư những gì vào cuộc sống và mong muốn nhận được gì từ sự đầu tư đó? Tôi thích cuộc sống hàng ngày của tôi như thế nào? Tôi thích sống trong môi trường nào?

+ Tình trạng sức khỏe thể chất, tinh thần của tôi ra sao? Năm phẩm chất tốt nhất của những người tôi ngưỡng mộ là gì?

+ Những giá trị tinh thần quan trọng như thế nào với tôi? Tôi nghĩ gì về tôn giáo? Những người nào quan trọng nhất trong cuộc đời tôi? Mối quan hệ của tôi với họ ra sao?

+ Mối quan hệ của tôi với bạn đời, bạn bè, gia đình, đồng nghiệp và những người khác như thế nào? Tôi muốn có mối quan hệ như thế nào với bạn bè, gia đình, khách hàng và những người khác?

+ Động cơ làm việc của tôi? Tầm quan trọng của những việc tôi đang làm? Điểm mạnh và điểm yếu của tôi là gì? Tôi thất bại trong việc gì? Những thất bại lớn nhất của tôi là gì? Những vấn đề của tôi là gì? Hậu quả của nó trong mối quan hệ của tôi với người khác và đối với sức khỏe thể chất và tình thần của tôi?

+ Lý do khiến tôi làm việc cho ông chủ hiện tại? Tôi như thế nào ở nơi làm việc? Đến nay, tôi đã hoàn thành những công việc gì và đạt được những thành công nào?

+ Vân vân và vân vân…

THỞ VÀ GIỮ IM LẶNG (2)

Hôm qua, Tâm văn đã đăng phần 1 Bài tập thở và im lặng của Hubert K. Rampersad. Theo lời hứa, hôm nay Tâm Văn đưa phần 2 có nhan đề là “Bài tập thở và giữ im lặng toàn diện” lên blog, giúp các bạn có nhu cầu có thể tham khảo, thực hành, đem lại sức khỏe tốt cho bản thân…

* Bước 1:

– Tìm một nơi yên tĩnh, không khí trong lành và chắc chắn không bị làm phiền.

– Ngồi vào một chiếc ghế thật thoải mái, có lưng tựa, giữ thẳng lưng, thả lỏng vai và cổ.

– Nhẹ nhàng đặt hai tay lên đầu gối, ngửa lòng bàn tay và nhắm mắt lại.

Thở sâu bằng mũi theo nhịp: hít thật sâu và đếm từ 1 đến 6 (bụng căng ra), giữ như vậy cho đến lần đếm thứ 4 thì thở ra và thở thật chậm khi đếm đến 6 (bụng xẹp lại). Hãy nghỉ sau hai lần đếm. Cố gắng tập trung vào nhịp hít vào và thở ra.

– Tập trung hoàn toàn vào thở và thấy nguồn sinh lực đang ào ạt bên trong. Lúc này cơ thể sẽ thư giãn hơn. Tập trung vào cảm giác thư giãn của toàn bộ cơ thể (mặt, vai, tay, chân, v.v…).

– Lặp lại quá trình này trong 10-15 phút.

* Bước 2:

– Sau khi kết thúc bài tập thở, giữ nguyên tư thế ngồi thẳng lưng, thả lỏng tay, nhắm mắt và thở bình thường.

Tập trung hoàn toàn vào suy nghĩ. Nếu suy nghĩ không xuất hiện, đừng cố tìm kiếm, hãy để chúng trôi qua như những áng mây đẹp thêm xanh cho bầu trời.

– Hãy để cho suy nghĩ đến và đi, dù có cả các suy nghĩ liên quan tới những câu chuyện về thương hiệu cá nhân, mục đích sống ở đời.

Sẵn sàng đón nhận tất cả những hình ảnh đến trong tâm trí. Hãy tưởng tượng bạn đang ở trong một khu vườn và một nhà thông thái đang tiến về phía bạn. Sau khi tự giới thiệu, ông ta hỏi bạn một số câu hỏi về thương hiệu cá nhân (được đề cập trong phần 3). Hãy lắng nghe kỹ câu trả lời của tiếng nói bên trong bạn và ngay lập tức viết chúng ra giấy sau khi kết thúc bài tập này.

– Từ từ mở mắt ra sau 10-15 phút, viết các câu trả lời của tiếng nói bên trong bạn vào tuyên bố tham vọng cá nhân và trong nhật kí thương hiệu cá nhân. Những thông tin này sẽ được sử dụng để cập nhật cho tham vọng cá nhân và thương hiệu cá nhân, giúp bạn ghi nhớ những kinh nghiệm và tiến bộ trong mỗi giai đoạn.

NHỮNG CÂU HỎI VỀ THAM VỌNG CÁ NHÂN (TÂM VĂN SẼ CẬP NHẬT, ĐĂNG LÊN BLOG VÀO THỨ 2, NGÀY 6-12-2020) trong nội dung Tập thở và giữ im lặng (3)

Trân trọng và hẹn gặp lại các bạn!

Hà nội, ngày 05-01-2020

Bùi Tâm Văn

THỞ VÀ GIỮ IM LẶNG (1)

Sinh ra ai cũng thở và im lặng, nhưng thở và biết giữ im lặng đúng cách, tạo nên những điều tốt đẹp cho cuộc sống thì không phải ai cũng biết và làm được.

Trong cuốn sách: “Quản trị thương hiệu cá nhân & công ty” của Hubert K. Rampersad (xuất bản tiếng Việt 2008) có giới thiệu một bài “Tập thở và giữ im lặng” rất hay…

Với suy nghĩ, nên chia sẻ những giá trị mình tìm được cho người khác, tôi xin trích và đăng lên để bạn đọc tham hảo và có thể ứng dụng, góp phần làm cho cuộc sống của cộng đồng ngày càng tốt đẹp hơn:

Bài tập thở và giữ im lặng (1)

[Trong phần (1) tác giả phân tích những lợi ích của “Bài tập thở và giữ im lặng” đem lại; còn phần (2) giới thiệu về nội dung thực hành đối với “Bài tập thở và giữ im lặng”]

Nhờ bài tập thở và giữ im lặng, bạn sẽ tập trung vào suy nghĩ của mình, khám phá ra đặc điểm của mình và có thể đưa bản thân thoát khỏi sự sắp đặt của tâm trí.

Thông qua bài tập này, bạn sẽ học được cách nhìn mới mẻ về cuộc sống và đánh giá những sự việc đang diễn ra bên trong mình. Nhờ vậy, bạn sẽ biết được vị trí của mình trong cuộc sống. Cụ thể hóa tham vọng cá nhân nghĩa là xóa bỏ mọi định kiến lỗi thời đã kìm hãm sức sáng tạo của bạn. Bạn được trang bị kĩ càng hơn để có thể tạo ra tương lai và khám phá được đích đến của cuộc đời mình… Chỉ khi nào bạn hiểu được bản thân thì bạn mới có thể khám phá được những tài năng của mình, phát triển thương hiệu và mục tiêu cá nhân, phục vụ bản thân và người khác.

Những bài tập thở và giữ im lặng sẽ chuyển sự chú ý của bạn vào bên trong mình, kiểm soát nhận thức của bản thân và khiến hai bán cầu não hoạt động cân bằng. Khả năng thở (cũng là khả năng suy nghĩ) đều xuất phát từ một nơi. Một khi bạn kiểm soát được hoạt động thở thì bạn cũng kiểm soát được suy nghĩ và ngược lại.

Tư duy có mối liên hệ mật thiết với hoạt động thở. Khi suy nghĩ của bạn bị xáo trộn thì bạn thở nhanh và gấp hơn. Khi bạn tập trung và thư giãn, sự thở của bạn sâu và đều hơn. Thở là sự hợp nhất giữa cơ thể và linh hồn.

Theo Sri Ravi Shankar (một lãnh tụ tâm linh, đồng thời là sáng lập viên Hội nghệ thuật sống của Ấn Độ), thở là sự liên kết giữa cơ thể, suy nghĩ với cảm xúc. Tất cả cảm xúc đều đưa đến một kiểu thở nào đó.

Khi bạn tập trung vào hoạt động thở, bạn sẽ thấy mình đang được thư giãn trong suy nghĩ và cảm xúc. Hoạt động thở giữ vai trò quan trọng vì nó có thể xua tan cơn giận khỏi suy nghĩ và cơ thể. Nhờ bài tập này, bạn có thể thở sâu, chậm, đều hơn và sẽ cảm thấy yên tĩnh.

Thở và thư giãn có liên hệ mật thiết với nhau. Thở đúng cách tạo nền móng vững chắc cho sức khỏe vật chất và tinh thần. Khi chúng ta thở, chúng ta nhận oxy vào cơ thể. Hầu hết mọi người đều thở nhanh, không sâu, không thoải mái và chỉ sử dụng hết một phần ba dung tích của phổi.

Hậu quả là sinh lực yếu đi cùng với sự ngột ngạt và tính lơ đãng. Nếu bạn tràn đầy sinh lực, bạn sẽ khỏe mạnh, vui vẻ, thư giãn và thoát khỏi stress… Bài tập thở sẽ giúp bạn khai thác nguồn sinh lực, tăng thêm nỗ lực và hành động có mục đích, biến ước mơ thành hiện thực…

Sự im lặng được coi là đồng nghĩa với sự suy ngẫm. Đây là phương thức hiệu quả nhất để giao tiếp với nội tâm. Suy ngẫm tạo ra sự sáng tỏ và là trải nghiệm trực tiếp của linh hồn. Theo Đạo Phật, linh hồn chính là sự kết hợp của cảm xúc, quan sát, suy nghĩ với nhận thức về cảm giác.

Khi bạn suy nghĩ, tâm hồn bạn lắng xuống và thư giãn để phát triển nhận thức đưa đến hành động hiệu quả hơn. Linh hồn của bạn quyết định phần lớn phương thức hành động và trạng thái tư duy của bạn.

Suy ngẫm gồm có sự tái phát hiện trạng thái tự nhiên của nhận thức và hình thành cơ sở vững chắc để hiểu biết bản thân, Suy ngẫm không có nghĩa là tập trung mà là trạng thái sâu hơn của thư giãn, thả lỏng, tĩnh tâm và trạng thái cao hơn của nhận thức, sức mạnh tinh thần, sự bình yên bên trong, tận hưởng và thỏa mãn.

Tập trung là kết quả của quá trình suy ngẫm thông qua việc gia tăng sức mạnh tinh thần, sự nhận thức và sự bình lặng của tâm hồn. Trạng thái bình lặng dẫn đến tư duy thông suốt và mang lại sức sáng tạo cao hơn, ít hao phí hơn và quan điểm toàn diện về thực tế…

Suy ngẫm còn đem lại nhiều lợi ích khác. Nhờ có một tâm hồn bình lặng, con người sẽ giảm áp lực trong máu và nhịp đập của tim, tăng khả năng đương đầu với stress và kiểm soát được nỗi đau, v.v…

Tất cả chúng ta đều có những khả năng đó, nhưng lại bị stress và sự căng thẳng che lấp. Suy ngẫm giúp chúng ta thể hiện những khả năng đó.

Thực tế người thường xuyên suy ngẫm sẽ sống lâu hơn người ít suy ngẫm. Suy ngẫm giúp bạn nhìn thấy thế giới qua lăng kính của suy nghĩ, khiến bạn quan sát và nhận ra những suy nghĩ, cảm xúc của mình…

Trong quá trình suy ngẫm, hãy thả trôi suy nghĩ… như việc bạn là ai, bạn đại diện cho cái gì, chuyên môn của bạn là gì, mối quan hệ giữa bạn với mọi người ra sao, v.v…

Quá trình im lặng giúp bạn dễ dàng trả lời được những câu hỏi đó… Các câu hỏi này liên quan đến tiếng nói bên trong, khám phá sự thật về bản thân và cuộc sống của bạn. Bạn nên suy nghĩ tích cực, bạn sẽ đạt được mục đích… Ngược lại, suy nghĩ tiêu cực ngăn cản bạn đạt những mục đích trên và khiến bạn cảm thấy cuộc sống, công việc thật tồi tệ…

Nội dung “Bài tập thở và giữ im lặng toàn diện“, tức phần (2) sẽ được giới thiệu trong bài đăng vào chủ nhật (ngày 05-01-2020).

(P/S: Tâm Văn xin gửi lời chào trân trọng và hẹn gặp lại các bạn trong ngày mai!)

Hà Nội, ngày 04-01-2020

Bùi Tâm Văn

Một số khái niệm, thuật ngữ phục vụ chương 1 LSKTVN

TS. BÙI HỒNG VẠN

[Bài viết bổ sung kiến thức, dành cho sinh viên trường Đại học Thương mại, khóa 55DK, lớp học phần Lịch sử kinh tế Việt Nam]

Các bạn sinh viên thân mến!

Ngoài nghe giảng trên lớp, các bạn cần đọc thêm một số tài liệu (được giới thiệu trong Đề cương học phần) và bài viết này để bổ sung kiến thức cho bài học.

Một số khái niệm, thuật ngữ cần nắm: Lực lượng sản xuất, Quan hệ sản xuất, Phương thức sản xuất, Phương pháp luận, Quan điểm lịch sử.

[Nội dung các khái niệm, thuật ngữ trình bày dưới đây được trích rút từ bộ “Từ điển bách khoa Việt Nam”, tập 2 và 3 (xuất bản năm 2002-2003)].

* Lực lượng sản xuất (LLSX):

Biểu hiện trình độ chinh phục của con người và quan hệ của con người với tự nhiên trong từng giai đoạn lịch sử; là sự thống nhất hữu cơ giữa lao động đã tích lũy (tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động) với lao động sống (những người sử dụng tư liệu sản xuất) để sản xuất của cải nhằm đáp ứng những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người trong mọi xã hội.

LLSX chủ yếu là người lao động, có thói quen và kỹ năng lao động, có kinh nghiệm, tri thức và trình độ chuyên môn – kỹ thuật kết hợp với những yếu tố vật chất của sản xuất như tư liệu sản xuất (tức công cụ lao động và đối tượng lao động). Đối tượng lao động là những gì mà con người tác động đến trong khi sản xuất và để tạo ra của cải vật chất (đất đai, sông, rừng, nguyên liệu, khoáng sản, v.v…).

Tư liệu lao động hay công cụ lao động là tổng hợp những vật thể mà con người làm cho thích ứng và dùng làm vật dẫn tác động đến đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm (gồm: dụng cụ, máy móc, những thiết bị phức hợp và cả những phương tiện phục vụ sản xuất như hệ thống chứa đựng, chuyên chở, thông tin, đường sá, nhà cửa, công trình và những cấu trúc hạ tầng khác), là chỉ tiêu nói lên trình độ kĩ thuật của sản xuất vật chất, là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong LLLSX.

Cùng với sự cải tiến và hoàn thiện tư liệu lao động, kinh nghiệm sản xuất của con người càng phát triển, những ngành sản xuất mới xuất hiện và sự phân công lao động trong xã hội ngày càng mở rộng.

Trong thời đại cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện nay, khoa học được ứng dụng ngày càng rộng rãi vào sản xuất đã trở thành LLSX trực tiếp; tri thức khoa học được vật chất hóa và kết tinh vào mọi nhân tố của LLSX.

LLSX được kế thừa và phát triển liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác và luôn gắn bó một cách hữu cơ với QHSX trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định, hợp thành PTSX. LLSX phát triển và biến đổi đòi hỏi một sự thay đổi tương ứng của QHSX.

Đây là mối quan hệ biện chứng được thể hiện qua quy luật phù hợp của QHSX hiện có với LLSX. Theo quy luật này, khi QHSX hiện có không còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX, nghĩa là khi QHSX và LLSX đã mâu thuẫn với nhau đến độ gay gắt nhất thì cách mạng xã hội nổ ra, một QHSX mới hình thành phù hợp với tính chất và trình độ mới của LLSX.

[tập 2, tr.785].

* Quan hệ sản xuất (QHSX):

Quan hệ kinh tế – xã hội giữa người với người hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất và vận động của sản phẩm xã hội từ sản xuất đến tiêu dùng; về cơ bản nó thể hiện ở mặt quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất.

Bản chất của QHSX do chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định. QHSX gồm những quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất, trong sự trao đổi hoạt động lẫn nhau, trong hình thức phân phối sản phẩm và trong quá trình quản lí hoạt động kinh tế, từ sản xuất, phân phối, lưu thông (trao đổi), đến tiêu dùng. Tất cả các mối quan hệ đó được hình thành về cơ bản phụ thuộc vào chế độ sở hữu.

Mỗi phương thức sản xuất (PTSX) nhất định trong lịch sử có một tổng thể các QHSX riêng của nó, trong đó có một loại hình QHSX chủ đạo, có vai trò quyết định. Trong các hình thái kinh tế – xã hội có đối kháng giai cấp, đã nảy sinh quan hệ thống trị và bị trị, sản xuất phục tùng lợi ích của giai cấp bóc lột. QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một quy luật…” .

[tập 3, tr.576].

* Phương thức sản xuất (PTSX):

Là sự thống nhất của hai mặt chế ước lẫn nhau là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đặc trưng cho tính chất của nền sản xuất xã hội. LLSX là nội dung vật chất, còn QHSX là hình thức xã hội của sản xuất; do đó, LLSX quyết định QHSX, QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX.

Khi QHSX không còn phù hợp với LLSX và kìm hãm LLSX, thì nảy sinh sự cần thiết khách quan phải thay thế PTSX cũ, lạc hậu bằng PTSX mới, tiến bộ hơn. Quá trình này được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội mà giai cấp lãnh đạo cách mạng bao giờ cũng đấu tranh cho một PTSX mới, tiên tiến.

PTSX giữ vai trò quyết định trong hệ thống các điều kiện vật chất và tinh thần của đời sống xã hội. PTSX là biểu hiện đặc trưng cho lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất của con người, giữ vai trò quyết định trong các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Mọi quá trình hoạt động và phát triển xã hội đều cơ bản và xét cho cùng là phụ thuộc vào PTSX. Lịch sử phát triển của xã hội, trước hết là sự phát triển của PTSX, là sự thay thế các PTSX kế tiếp nhau từ thấp đến cao gắn liền với các hình thái kinh tế – xã hội: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.

Sự tác động qua lại giữa QHSX và LLSX là động lực bên trong của sự vận động, phát triển của PTSX, thường xuyên gây nên biến đổi trên từng mặt của PTSX, và cuối cùng đưa đến cách mạng xã hội, làm thay đổi cả PTSX của xã hội.

PTSX mới ra đời đánh dấu một giai đoạn mới, cao hơn. Những thay đổi về PTSX dẫn đến sự thay đổi toàn bộ chế độ xã hội, thay đổi từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, thay đổi cả những tư tưởng và thể chế xã hội.

[tập 3, tr.529].

* Phương pháp luận (PPL):

Là lí luận về các phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo hiện thực; là hệ thống các nguyên tắc, biện pháp vận dụng các nguyên lí lý luận vào việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong một ngành khoa học nào đó.

Có các loại nguyên lí lý luận sau:

1) Nguyên lí thế giới quan gắn liền với bản tính của khách thể nghiên cứu và có tác dụng định hướng trong quá trình tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp;

2) Các nguyên lí chung về các cách xem xét, nghiên cứu sự vật, hiện tượng, các nguyên tắc chung về việc vận dụng các phương pháp, về việc sử dụng tài liệu, sự kiện trong một khoa học nhất định, các nguyên lí và các nguyên tắc chung này gắn liền với đặc điểm của khách thể nghiên cứu, chúng không trực tiếp nằm trong nội dung của phương pháp;

3) Lý luận về bản thân các phương pháp (nội dung, phạm vi và mối quan hệ qua lại giữa các phương pháp) của một ngành khoa học nào đó.

PPL là một bộ phận không thể thiếu của mỗi bộ môn khoa học, là học thuyết về các phương pháp được sử dụng trong bộ môn khoa học ấy, nghĩa là mỗi khoa học đều có PPL riêng của mình.

Một số bộ môn khoa học có liên quan rất chặt chẽ với nhau, vì vậy tồn tại PPL chung của một số bộ môn khoa học. Nhưng PPL chung nhất, phổ biến nhất, áp dụng được cho mọi bộ môn khoa học là PPL triết học. Phương pháp biện chứng duy vật có những tính chất ưu việt, đáp ứng được đầy đủ nhất các yêu cầu của khoa học hiện đại, vì vậy nó là cơ sở để xây dựng PPL khoa học đúng đắn và đồng thời bản thân nó là PPL chung nhất, phổ biến nhất của mọi khoa học.

[tập 3, tr.521].

* Quan điểm lịch sử (QĐLS):

Phương pháp nhận thức các sự vật và hiện tượng theo quá trình phát sinh, phát triển của nó trong những điều kiện lịch sử nhất định, như là sản phẩm của sự phát triển lịch sử. QĐLS có những nét đặc trưng sau:

1) Nó xem xét không phải sự thay đổi đơn giản, mà là sự tự vận động, kết cấu nội tại, nguồn gốc của sự tự vận động;

2) Quá trình phát triển của sự vật và hiện tượng, những giai đoạn chủ yếu đã trải qua, thực trạng hiện nay, xu thế phát triển tương lai, khả năng tối ưu và những điều kiện khách quan, chủ quan cho sự thực hiện khả năng tối ưu ấy;

3) Tính kế thừa trong sự phát triển của mọi sự vật và hiện tượng.

[tập 3, tr.573].

Chúc các bạn thành công trong học tập!

Chào thân ái!

Hà Nội, 03-01-2020

Chuyện KHO BÁU

Ngày xửa ngày xưa, ở nước Ấn Độ cổ có một tên trộm đang chạy trốn lính gác thì nhìn thấy một người ăn mày ngủ trong một con hẻm tối.

Hắn bí mật bỏ món đồ trang sức nhỏ nhưng vô giá ăn trộm được vào túi của người ăn mày. Sau đó, hắn chạy đi với ý định sẽ lấy lại món đồ này sau khi đã thoát khỏi sự truy bắt của lính gác.

Đến đêm tên trộm quay lại thì bị lính gác đâm chết. Người ăn mày bỗng dưng vớ bở. Trong túi của ông ta có đủ tài sản để sống dư dả phần đời còn lại.

Nhưng điều đó đã không xẩy ra, bởi người ăn mày chưa bao giờ kiểm tra túi của mình, nên không biết bên trong có của quý. Ông ta tiếp tục cuộc sống của một kẻ ăn mày…!!!