Tháng: Tháng Ba 2020

GIÁO DỤC

“Tổ tiên ta và thương trường”

1. Xã hội truyền thống của ta – như Nguyễn Ái Quốc đã nhận định từ đầu thế kỷ XX – là một xã hội Nông Dân, với những nền văn hóa xóm làng và nền văn minh thôn dã. Đại đa số đồng bào ta sống ở Làng (Xã thôn, bản, buôn, ấp…). Sống ở làng, sang ở nước!

Sang, là khi thi đỗ (võ – văn) cao, được vua cho biển “ân tứ vinh quy”, hẵng “vinh quy” về làng – xã – tổng cái đã, để “Dân biết mặt nước biết tên”. Tổ chức lễ cỗ khao vọng xã dân cái đã, sau ít tháng mới “lên Kinh”, đợi Vua và Triều đình ban cho một chức Quan. Rồi khi bị cách chức bởi một lẽ nào đó, hay khi tuổi đã cao, được về hưu trí, thì lại quay về làng, chết ở làng, mộ chôn ở làng, cùng phần mộ tổ tiên.

Đi làm quan hay đi buôn bán làm ăn xa thì khi Giỗ Tết cũng cố về làng quê ít ngày. Chẳng tin, xin quý độc giả cứ đọc cuốn “Kể chuyện lên Kinh” (“Thượng Kinh ký sự”) của cụ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác viết vào năm 1786 thì khắc biết!

Mà thật ra cho đến trước cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, một số bà con ta “ra tỉnh” làm nghề thủ công, làm nghề buôn, làm công chức, hay làm quan – lại, vẫn “đóng góp”, thuế thân (và một số nghĩa vụ khác) ở làng quê – bản quán. Chỉ nếu như: “Văn chương phú lục chẳng hay”. Thì dường như không có con đường nào khác, là: “Trở về làng cũ học cày cho xong”.

Có thể nói không ngoa rằng: Cái khí quyển tinh thần tâm lý – xã hội – văn hóa… của một “Việt Nam truyền thống” (xã hội cổ truyền) là khí quyền tiểu nông.

2. Xã hội tiểu nông thì căn bản là tự cung – tự cấp lại vì nguy cơ ngoại xâm gần như là một nguy cơ thường trực, nên vua quan và triều đình, vì lý do an ninh xã hội, thường có thái độ nghi kỵ người nước ngoài đến làm ăn buôn bán ở nước ta. Và do vậy, thường có chính sách “bế quan tỏa cảng”! Trật tự xã hội, lấy Sĩ làm trọng, kinh tế xã hội, lấy Nông làm trọng, còn Công – Thương xếp loại ba, loại tư… Dân chài, xướng ca là loại “giang hồ” nay đó mai đây, lại còn không được “xếp loại” [“vô loại (loài)”] nữa cơ!

Vua tốt (“minh quân”), thì cơ bản cũng chỉ mong và cố làm sao cho Dân: An cư – lạc nghiệp! (Ở yên, Vui nghề). Trong khi, như mọi người biết, tính di động, lưu động, lãng du – chu du – viễn du… nữa, là một đặc điểm của thị dân và văn hóa đô thị! Đó là tiền đề tinh thần của kinh tế du lịch.

Tiểu nông thì cũng phải lo nhiều thứ “Trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm”, lo mất mùa, lo giặc giã “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”… nên có tâm lý cần kiệm, lo để dành, có của lo chôn của chứ không/ít dám đưa ra kinh doanh.

An phận thủ thường là một nét tâm lý nông dân. Họ hàng – làng xóm thì có mặt rất tốt là cố kết cộng đồng có tinh thần cộng cảm, tương trợ, đỡ đần nhau, song lại có mặt trái là xét nét nhau; mà vì sợ xét nét, nên có của thì giấu đi là hơn, “giả nghèo giả khổ”, không dám “khoe của”, phô phang “nhà cao cửa rộng” (trừ nhà quan!) không dám “mở cửa hiệu” đàng hoàng, chỉ “thì thà thì thụt”, giấu lén…

Buôn lậu, là cái căn tính của xã hội nông nghiệp.

Sĩ – sư thì lại có tâm lý “nhà nho thanh bạch”, “an bần lạc đạo”, vui/thỏa mãn với cảnh nghèo hay/và chỉ cần “đủ ăn”. Tâm lý làm giàu kém phát triển trong xã hội “cổ truyền”, mà đó lại là một nét đặc trưng cần phải có của thương nhân (“phi thương bất phú”).

“Làm kinh tế” trong xã hội có cơ chế thị trường, cũng như người đi biển, phải có tính phiêu lưu – dù đã “tính toán kỹ lưỡng”. Xã hội tiểu nông, tâm lý tiểu nông không thích và không khuyến khích tính phiêu lưu (adventure), liều lĩnh… mà lại ưa tính “chắc ăn” – “ăn chắc mặc bền”; được đời sống hằng ngày “cơm ba bát, áo ba manh” là đã thỏa mãn lắm rồi, còn hơn nhiều cảnh “ăn bữa nay, lo bữa mai”, “vá chằng vá đụp”… Trong khi đồ ăn mặc theo “thời thượng”, theo mốt (mode), thời trang lại là một nét không thể không có của một xã hội thị trường, xã hội đô thị và đô thị hóa… hiện đại!

3. Nhưng… có xã hội của con người là có phân công lao động xã hội. Và do vậy, phải có trao đổi: “Có con người là có phân công, có trao đổi” (Karl Marx). “Phân công” lao động là tiền đề của trao đổi. Đây không chỉ là một ý niệm kinh tế mác-xít, mà là một chân lý kinh tế – xã hội học nói chung. Ngay từ thời nguyên thủy của loài người…

Nhiều nhà kinh tế – xã hội học bảo: Trao đổi đầu tiên trong xã hội loài người là… trao đổi đàn bà! Do nguyên lý của xã hội loài người là nguyên lý cấm loạn luân giữa những người “cùng dòng máu” (sau ta gọi là họ hàng) nên các thị tộc nguyên thủy phải kiếm tìm – ngay từ đầu một/vài thị tộc khác để liên kết quan hệ hôn nhân: Bất cứ hôn nhân “hợp lệ, hợp pháp” nào – từ xưa đến nay – đều là hôn nhân ngoại tộc (Exo-gamy…) – lấy Mẹ hay/và họ mẹ làm trung tâm – như người Êđê, Giarai, Chăm… của từ ngàn xưa cho đến hôm nay – hay là Phụ hệ (Patriacarcat) – lấy cha hay/và họ cha làm trung tâm, như người Âu, người Hoa, người Kinh/Việt.

4. Sau cái sự trao đổi đàn bà, là sự trao đổi quà tặng. Học giả lẫy lừng Pháp, Marcel Mauss, đã có công trình nghiên cứu “để đời” Essai sur le Don (tiểu luận về quà tặng/biếu), được rất nhiều học giả mác-xít luôn tán thưởng và dẫn tụng.

Bởi vì… mỗi cộng đồng nguyên thủy – như V.I. Lenin, và trước đó F. Engels, nhận xét, họ cần phải sống cộng đồng ở thế “chẳng đặng đừng” do sự bất lực của từng cá nhân trước vũ trụ mênh mang mà họ không thể “ngày một ngày hai” tìm và hiểu ngay được, do cơ sở hạ tầng của xã hội nguyên thủy cực kì hạn chế – “núi cách sông ngăn” chẳng hạn, giao thông chưa phát triển… nên buộc phải sống trong một không gian quá nhỏ hẹp như vậy, họ thiếu thốn đủ thứ mà một nét rất cơ bản của con người khác loại vật khác, là tính bản năng “bất mãn”, không bao giờ thỏa mãn… với cái gì Trời Đất cho sẵn.

Vì thế con người phải làm thêm, thêm nếm chút gì vào cái “của Trời” cho ấy… Vì thế mà nảy sinh sản xuất (production). Vì thế mà nảy sinh phân phối, lưu thông, trao đổi… bốn thành tố chính của một chu kỳ kinh tế (economic – cycle).

Vẫn theo Marcel Mauss, thoạt kỳ thủy, chưa có thương nghiệp – thương trường – theo nghĩa hẹp của nó, là “tiền trao cháo múc”. Loài người không bắt đầu bằng tiền, và ước mong lớn nhất của con người cũng là làm sao trong tương lai không cần tiền bạc. Chuyện phát sinh tiền bạc và từ đó tâm lý tiền bạc, ta sẽ nói dài dài về sau.

Nay hãy nói ở cái thời kỳ chưa có tiền bạc – công cụ trung gian trao đổi ấy – thì loài người phải hành xử, ứng xử như thế nào trước thiếu thốn, về nguyên liệu, vật liệu, đá đất thôi chẳng hạn, đâu phải nơi nào cũng có loại đá tốt để làm công cụ đá. Đâu phải nơi nào cũng có đất sét, dù vàng, dù trắng, để làm gốm (bao gồm đồ đựng, đồ đun nấu, đồ dùng để ăn/uống)…

Thế thì phải làm gì? (Que faire?, một tác phẩm nổi tiếng của V.I. Lenin) và Làm như thế nào? (Pourquoi faire?, một tác phẩm nổi tiếng khác của J.M. Keynes, nhà kinh tế học nổi tiếng của châu Âu “cứu” chủ nghĩa tư bản trên “bước đường (tột) cùng” của Nó, người được coi là “nhà kinh tế học nổi tiếng nhất sau Adam Smith, Ricaro và Marx”, mà tiếc thay trong một thời gian dài mấy chục năm ròng, giới kinh tế học – doanh nghiệp nước ta dường như – thậm chí cho đến nay – còn chưa/ít biết đến!).

Người nguyên thủy làm như thế này: Tìm cách đánh bạn (chơi) với một/vài công xã – thị tộc láng giềng để trao đổi trao quà tặng/biếu – tất nhiên là “có đi có lại” – để mong bù đắp phần nào sự thiếu thốn của mình… Đấy, cái ông Marcel Mauss nổi tiếng, cháu ruột và học trò của ông chú/bác nổi tiếng không kém hoặc hơn nữa là đằng khác – Emile Durkheim (1858-1917) – “cha đẻ của Xã hội học hiện đại” – đã đi tìm nguồn Thương nghiệp từ Trao đổi Quà tặng nguyên sơ, chưa chút bợn gợn về cái lý do “ích kỷ” về sau: “ông rút chân giò, bà thò chai rượu”…

Hà Nội, đầu năm 1995

GS. Trần Quốc Vượng

ĐẠO ĐỨC

Giấc mơ của chàng thư sinh

Có một chàng thư sinh đi thi. Anh đã luyện mài kinh sử 10 năm và có biết bao mơ ước trong 10 năm đèn sách. Nhưng trong kỳ thi năm đó, anh thi hỏng, tất cả hy vọng cũng tan.

Trên đường về, lòng anh tràn ngập bởi nỗi tuyệt vọng. Đói, mệt mỏi, anh đi qua một sườn núi và thấy một ông Đạo đang ngồi nấu một nồi cháo. Khi nhìn thấy anh, ông Đạo hỏi: – Anh đi đâu mà có vẻ thiểu não như vậy? Anh chàng thư sinh nói: – Chán quá thầy ơi! Chắc tôi chết mất. Bao nhiêu hy vọng tan thành mây khói hết. Mười năm đèn sách, kinh sử, bây giờ không còn gì nữa. Còn mặt mũi nào để về nhà đây…

– Anh thi hỏng à? Ông Đạo hỏi. – Vâng!

– Thôi anh nghỉ ngơi chút cho khỏe rồi đi. Anh nằm gối đầu lên gốc cây này, ngủ một giấc cho khỏe. Tôi đang nấu cháo kê. Khi chín, tôi sẽ đánh thức anh dậy ăn cháo rồi tiếp tục cuộc hành trình…

Nghe lời ông Đạo, chàng thư sinh nằm xuống, gối đầu lên gốc cây và ngủ thiếp đi. Anh mơ thấy mình thi đậu, được vua gả cho công chúa xinh đẹp. Anh được làm quan to, hạnh phúc tràn trể, danh vọng, địa vị… đủ hết. Về sau đất nước có giặc xâm lấn bờ cõi, vua cử anh đi chặn giặc. Nhưng thế giặc mạnh, anh không ngăn được, để giặc tràn qua biên giới. Vua ra lệnh chém đầu anh. Khi đao phủ chuẩn bị hành quyết thì anh bừng tỉnh dậy… Hú hồn!

Trong văn học cổ Trung Hoa, chuyện này có tên là “Giấc kê vàng” (hay “Mộng hoàng lương”). Mới hay, trong cuộc sinh tồn và phát triển, con người luôn tạo ra những câu chuyện, được xem như liều thuốc bổ tinh thần để tự chữa trị cho mình trong những hoàn cảnh bất như ý… Tất nhiên, đây chỉ là một trong những cách lý giải bình thường của cá nhân tôi về chuyện này. Bên cạnh còn có cách lý giải khác – cao siêu, mang tinh thần triết học (Phật giáo). Nếu bạn muốn biết về cách lý giải này, xin đọc các trang 55-58 trong cuốn sách hay – “Đập vỡ vỏ hồ đào” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh (xuất bản năm 2014)]…

Hà Nội, ngày 26/03/2020

Bùi Tâm Văn

GIÁO DỤC

Chiếc bè của Đức Phật

Trong khi thuyết pháp, Đức Phật hay sử dụng những ẩn dụ. Những ai quan tâm tìm hiểu Đạo Phật đều biết chuyện Ngài mượn ẩn dụ chiếc bè để nói về việc cần thiết phải buông bỏ những khái niệm, lý thuyết khi đã lĩnh hội được thực chất vấn đề cần tìm hiểu.

Có lần Đức Phật giảng thuyết nhân quả cho các môn đệ. Họ thưa với Đức Phật là đã thấy và hiểu rõ điều đó. Đức Phật liền nói với họ: “Hỡi các Tỳ kheo, ngay cả quan niệm ấy, minh bạch và rõ ràng như thế; nhưng nếu các ông quý chuộng, cất giữ và bám chặt vào nó… là các ông đã không hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, cốt dùng để qua sông chứ không phải là ôm giữ lấy”.

Đức Phật đã giảng cho các môn đệ về ẩn dụ này, Ngài nói: Hỡi các Tỳ kheo, một người đi du lịch đến một khoảng sông rộng. Bờ bên này rất nguy hiểm, còn bờ bên kia thì yên ổn. Không có thuyền, cầu để qua sông. Người ấy bèn tìm các vật liệu tự làm lấy một chiếc bè và qua bờ sông bên kia…

Đức Phật nói với các môn đệ của mình – người ấy nhờ chiếc bè nên qua được sông. Khi đã sang sông, người ấy cho là nhờ chiếc bè nên mình qua được sông, vì thế người ấy quyết định mang chiếc bè theo… Vậy, các ông thử nghĩ xem người ấy làm như thế có đúng không? – Bạch Thế tôn: không!

Vậy người ấy nên làm thế nào với chiếc bè? Sau đó, Đức Phật nói với các Tỳ kheo rằng: Ta đã truyền dạy cho các ông một giáo lý tương tự như chiếc bè. Giáo lý này giúp các ông “qua sông”; nhưng khi đã qua sông mà các ông vẫn mang theo nó, liệu có hợp lý không? Các ông cần phải hiểu – giáo lý giống như chiếc bè, một khi đã qua sông rồi thì chẳng nên mang theo làm gì…

Vậy đó, Đức Phật chỉ muốn nói với các môn đệ của mình qua ẩn dụ trên rằng giáo lý Ngài dạy giống như “chiếc bè”, cốt đưa người “qua sông” để đến với yên vui, thanh tịnh, Niết bàn (Nirvàna). Toàn bộ giáo lý của Ngài đều dẫn con người đến mục đích ấy thôi…

Hà Nội, ngày 23/03/2020

Bùi Tâm Văn

GIÁO DỤC

Đôi điều về “Đạo Trung dung” của Nho giáo

                                                     TS. BÙI HỒNG VẠN

                                                     Trường Đại học Thương mại (TMU)

Hội nghị các nhà khoa học được trao giải Nô-ben hòa bình tổ chức tại Pa-ri đã tuyên bố: “Nhân loại nếu muốn sinh tồn trong thế kỷ XXI, phải hướng về học thuyết chung sống hài hòa của Khổng Tử[1]”. Học thuyết được nói đến chính là Đạo Trung Dung của Nho giáo. Xem thế đủ biết, Đạo Trung Dung có giá trị to lớn không chỉ trong thời xưa mà cả đối với thời nay, không chỉ ở vùng văn hóa Hán mà còn trên phạm vi toàn cầu.

“Ôn cố nhi tri tân[2]” (ôn cũ để biết mới) là quy luật của đời sống. Con người thời nay muốn tồn tại, phát triển tốt thì cần phải khai thác những tinh hoa của nhân loại. Theo tinh thần đó, bài viết này giới thiệu một trong những tinh hoa thuộc truyền thống văn hóa Trung Hoa là Đạo Trung Dung.

1. Sơ khởi và “định vị” Đạo Trung Dung

Tư tưởng Trung Dung đã có từ ngàn xưa trong văn hóa cổ Trung Hoa. Có ý kiến cho rằng Trung Dung bắt nguồn từ hai chữ “chiết trung”, “điều hòa”. Trong một số giai đoạn lịch sử Trung Hoa, chữ trung gắn với chữ chiết tạo thành chữ chiết trung. Chiết nguyên nghĩa là phán đoán, quyết đoán; còn trung là tiêu chuẩn. Chiết trung có nghĩa là phân biệt tiêu chuẩn, phân biệt phải trái, đúng sai, thật giả.

Cuối thời phong kiến, chiết trung mất đi ý nghĩa ban đầu, dần dần biến thành điều hòa, từ đó người ta không còn nói đến nguyên tắc, đến phải trái nữa.

Trong thời cổ ở Trung Hoa, Trung Dung được gọi là “trung hòa”. Thuật ngữ này ám chỉ hai nhân tố khác nhau hoặc hai phía đối lập phối hợp với nhau, nhưng phù hợp với tiêu chuẩn và pháp độ đúng đắn.

Vui buồn mừng giận chưa phát ra gọi là Trung, khi đã phát ra mà phù hợp (trúng tiết) thì gọi là Hòa. Nếu đạt trạng thái trung hòa thì trời đất ở đúng vị trí, vạn vật được nuôi dưỡng, mọi cái đạt đến cảnh giới hài hòa. Theo ý nghĩa đó thì Trung hòa cũng chính là đạo Trung Dung[3].

Tư tưởng Trung Dung không phải là sản phẩm riêng của Trung Hoa, mà nó được các bậc thánh nhân, những nhà hiền triết cổ đại ở cả Đông và Tây đề xướng từ thời cổ.

Trung Dung trong truyền thống văn hóa phương Đông được quan niệm như là bản nguyên – chủ tể của vũ trụ. Nó là cái bắt đầu của mọi vật, là sự biến hóa của vạn vật, vạn sự trong vũ trụ. Lão giáo gọi nó là Đạo, Phật giáo gọi Trung Dung là Đạo Bồ đề; còn Nho giáo xem Trung Dung như thiên mệnh (mệnh trời), là Thái cực tiềm tàng trong mỗi con người; đó chính là thiên đạo chi phối vũ trụ vạn vật, là nhân đạo trong sự giao tiếp giữa người với người[4].

Sự gặp nhau giữa tư tưởng Đông-Tây khi đề xướng Trung Dung có nguyên do là đạo lý này “đã mang lại cho con người một lý tưởng sống chính đáng nhất, một biện pháp, một cách giải quyết phù hợp thống nhất được hai cực đoan làm cho cuộc sống giữa con người với con người hài hòa và vui vẻ, nhân loại nhờ đó không dẫn đến bị hủy diệt hay tan rã”[5]. Đó chính là giá trị to lớn của Trung Dung trong quan niệm tư tưởng nhân loại cả Đông, lẫn Tây.

Ở Trung Quốc, thời Xuân Thu, trên cơ sở kế thừa quan niệm thời cổ, Khổng Tử đã bổ sung, phát triển và biến “trung hòa” thành phạm trù quan trọng của Nho giáo. Theo sách “Tứ thư”[6] thì sáng tạo lớn nhất của Khổng Tử là sau chữ “trung” đã thêm chữ “dung”, từ đó nâng quan niệm “trung hòa” lên một tầm cao mới – tầm cao triết học[7].

Khổng Tử đề xuất Đạo Trung Dung là bởi xã hội thời đó đang rối loạn. Các thế lực phong kiến đánh giết lẫn nhau, gây nên tình trạng xã hội bất ổn. Khổng Tử cho rằng xẩy ra tình trạng đó là do “thiên hạ vô đạo”. Theo Ngài, để giải quyết các mâu thuẫn, giúp xã hội ổn định thì cần phải dựa vào Đạo lý Trung Dung để có biện pháp, đường lối phù hợp, không thái quá hoặc bất cập[8].

Về sau tư tưởng Trung Dung được Tử Tư[9] kế thừa, phát triển và trình bày nó trong một cuốn sách có tên gọi là Trung Dung. Sách Trung Dung hợp với Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học tạo thành bộ “Tứ thư” (kinh điển) của Nho gia.

2. Một số kiến giải về Đạo Trung Dung

Từ xưa đến nay có những kiến giải khác nhau về Đạo Trung Dung. Trên đại thể, có thể chia các kiến giải thành hai loại – kiến giải thông thường và kiến giải theo tinh thần học thuật – triết học.

Theo kiến giải thông thường, hai chữ Trung Dung được xem như “Chuẩn mực đạo đức và phương pháp tư tưởng của Nho gia. Không thiên lệch gọi là Trung, không thay đổi gọi là Dung”[10]. Nhiều người quan niệm Trung Dung chỉ là “một cuộc sống không thái quá, không bất cập”[11].

Trong sách Luận Ngữ, Trung Dung cũng được cắt nghĩa theo lối kiến giải này. Luận ngữ giải thích Trung Dung theo hai nghĩa, trong đó theo nghĩa thứ nhất, Trung Dung “là dụng, là dùng, tức là nắm chắc hai đầu mút, hai cực đoan của hai mặt đối lập, tìm cho ra biện pháp thích hợp để giải quyết mọi mâu thuẫn trong xã hội” và nghĩa thứ hai Trung Dung là bình thường, coi việc vận dụng đạo trung dung là việc làm hàng ngày của mọi người[12].

Có thể nói, những kiến giải trên mới chỉ luận về Đạo Trung Dung một cách đơn giản, chưa đi sâu, mở rộng… Về sau một số học giả vừa đi sâu, vừa mở rộng khi luận bàn về Đạo Trung Dung. Tiêu biểu có thể kể đến là: Sào Nam Phan Bội Châu, Nhân tử Nguyễn Văn Thọ và F. Jullien.

* Ở Việt Nam, trước năm 1945, khi luận về Đạo Trung Dung, cụ Phan Bội Châu đã cho rằng đây “là một bản rất cao, bàn đạo lý rất thâm thúy, góp cả thiên đạo và nhân sự, đủ cả lý luận và sự thực. Xem ở trên mặt chữ và chương cú, không được dễ hiểu như Đại học và Luận ngữ. Học giả bắt đầu vào cửa Khổng học thiệt chưa thể lĩnh hội được cả tuyền thư”[13].

Như vậy, theo ý kiến cụ Phan thì Trung Dung là một đạo thống cao siêu trong hệ thống tư tưởng triết học của Nho gia.

Sau cụ Phan, ở miền Nam, Nhân tử Nguyễn Văn Thọ đã có những kiến giải độc đáo về Đạo Trung Dung. Theo học giả này, Trung Dung chính là “Thiên đạo, là đạo Vô Thượng trong thiên hạ[14]”.

Nguyễn Văn Thọ đã nương theo các bậc danh Nho thời trước để xác định trong Đạo Trung Dung Trung là tâm điểm, còn Dung là bất biến. Từ đây, ông tiếp tục khai triển sâu hơn quan niệm của mình về Đạo Trung Dung.

Nguyễn Văn Thọ cho rằng trong vòng biến thiên ảo hóa của vũ trụ, chỉ có một tâm điểm bất biến hằng cửu được gọi bằng những cái tên – Bản thể, Tuyệt đối, Thánh Cực, Đạo, Trời. Điều này đã được nói đến trong Kinh Dịch.

Cụ thể, Kinh Dịch đã vẽ Thái Cực ở tâm điểm vòng Dịch, còn các hào quái, tượng trưng cho vạn hữu, hình tướng biến thiên bên ngoài thì vẽ lên trên vòng Dịch bên ngoài. Tâm điểm vì ở giữa vòng biến thiên nên không nghiêng lệch về bên nào.

Nguyễn Văn Thọ còn đi xa hơn khi cho rằng với hai chữ Trung Dung, Khổng tử đã vạch cho con người con đường giải thoát với các nội dung:

1) Sống trong muôn vàn hiện tượng biến thiên, con người phải tìm cho ra căn cơ bất biến;

2) Ở đâu có biến thiên, ở đấy có căn cơ bất biến làm chủ chốt;

3) Ở con người có nhiều hiện tượng biến thiên, nên trong con người phải có một căn cơ bất biến làm chủ chốt;

4) Chỉ có Trời, có Đạo, có Thái Cực mới bất biến. Suy ra trong con người phải có Đạo, có Trời, có Nguồn sống siêu nhiên vĩnh cửu làm chủ chốt;

5) Cái gì biến thiên thì còn ở trong vòng sinh tử. Cái gì bất biến mới thoát ra ngoài vòng biến thiên sinh tử. Con người muốn thoát vòng sinh tử phải đạt tới Tâm Điểm (tức Trung Dung)…

Nguyễn Văn Thọ còn cho rằng, con người luôn chịu tác động của ba thứ đạo – Địa đạo, Nhân đạo và Thiên đạo.

Do con người có Thiên tính, nên phải sống siêu việt trên bình diện tâm hồn, phải siêu linh và thần thánh hóa mình để sống phối hợp với Thượng đế ngay từ khi còn ở trần gian, đó là Thiên đạo. Người xưa gọi đạo ấy là Trung đạo (hay Đạo Trung Dung), là Chân đạo hay Đại đạo[15].

Đạo Trung Dung quan niệm bản tính con người là Thiên tính… Tìm Đạo thực chất là đi tìm Trời ngự trị trong con người mình; tìm cách bắc nhịp cầu giữa tâm mình với Trời, tìm lại được Đạo nơi tâm[16].

Sau khi chỉ ra Đạo có sẵn trong tâm linh con người Đạo Trung Dung còn đề ra 3 phương pháp chính yếu, giúp con người tiến tới hoàn thiện về Nhân, Trí, Dũng. Nhưng để hoàn thiện về Nhân, Trí và Dũng thì con người phải:

1) Luôn luôn làm những điều hay, điều phải để đạt nhân đức thực sự (NHÂN);

2) Mở mang trí tuệ để đi đến chỗ đại trí, đại giác (TRÍ);

3) Cố gắng không ngừng nhằm phát triển năng lực tinh thần để tiến mãi cho tới chỗ tinh vi, cao đại (DŨNG)[17].

Như vậy, luận giải của Nguyễn Văn Thọ không chỉ sâu mà còn mở sang cả việc ứng dụng Đạo Trung Dung vào đời sống.

Đây là một trong những điểm độc đáo của học giả này mà ta có thể xem nó như là sự bổ sung, phát triển thêm Đạo Trung Dung trong thời đại mới ngày nay.

* Bên cạnh các danh nho, học giả người Việt thì từ phương Tây, vào cuối thế kỷ XX có một nhà triết học đương đại người Pháp là F. Jullien cũng đi sâu nghiên cứu về tư tưởng Trung Hoa.

Khi đối sánh tư tưởng Trung Dung của Nho giáo với tư tưởng Trung Dung của phương Tây, F. Jullien nhận thấy: Trong khi Trung Dung của Trung Hoa chủ trương các cực, bằng cách chuyển dịch từ cực này sang cực kia và cho phép triển khai hiện thực trong tất cả các khả năng của nó thì phương Tây lại “chạy trốn cái cực đoan, sợ sa vào thái quá”[18].

F. Jullien cho rằng, cái độc đáo của Khổng Tử là ở chỗ chủ trương linh hoạt trong ứng xử – có thể thế này hoặc có thể thế kia, tùy thời, không cứng nhắc. Ví như có thể ra làm quan hoặc có thể cáo quan, đi ở ẩn là tùy thời.

Còn một điểm độc đáo khác trong Trung Dung của Nho giáo là cứ mỗi lần đi đến cùng “cái có thể” thì lại khai thác mỗi “thời” riêng của nó. Theo đó Trung dung là cái “đứng giữa” (tức “trung điểm”); nhưng nó được nhân đôi lên, nó nằm ở cực bên này lẫn ở cực bên kia, cả cái này lẫn cái kia tự nó đều hợp pháp[19].

F. Jullien còn chỉ ra ba điểm khác nhau giữa hai truyền thống tư tưởng triết học Trung Hoa và phương Tây. Đó là:

Với người Hy Lạp, trung điểm đặc thù của đức hạnh được xem xét trong bối cảnh của hành động, được quan niệm một cách kỹ thuật và theo một hình mẫu đặt ra như một mục đích. Còn của Trung Hoa nó nằm trong lô-gích của tiến trình, hiện thực được quan niệm tuỳ theo bậc hạng của diễn tiến; cái trung tâm ấy là trung tâm bởi vì có thể dịch chuyển từ cực này sang cực kia, sự điều tiết là liên tục.

Aristote có ý tưởng về một trung điểm có thể chuyển dịch, không chỉ đơn thuần như toán học (6 ở giữa 2 và 10), mà liên quan đến từng người (chẳng hạn một lượng thức ăn đối với người này là nhiều, đối với người kia lại là ít) và tiến hành bằng cách vận dụng theo hoàn cảnh (“vào lúc thích hợp”). Nhưng ông lại không có ý tưởng về một sự chuyển dịch từ cực này sang cực kia, đều là có thể, như quan niệm của Khổng Tử (Trung Hoa) về hai trung tâm.

Trung dung của Aristote chỉ bao hàm đạo đức, còn Trung Dung của Trung Hoa ứng với lô-gích của mọi diễn tiến. Ở Trung Hoa, không có vấn đề bên này là hiện thực, bên kia là cái thiện. Cái mà hiện thực bắt nguồn là trung dung của sự điều tiết, cũng là chuẩn mực của cái thiện, là Đạo[20].

3. Kết luận

* Tư tưởng Trung Dung đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Nội dung có điểm khác nhau, nhưng mục đích đề xuất Đạo Trung Dung đều nhắm tới cái đích là giúp con người sống phù hợp với quy luật của vũ trụ và nhân sinh, đảm bảo cho sự sinh tồn, phát triển.

Tư tưởng Trung Dung thời khởi thủy ở Trung Hoa còn đơn giản, nhưng đã được Khổng Tử và các danh nho đời sau nâng tầm thành một phạm trù triết học trong hệ thống tư tưởng Nho giáo.

Trung Dung của Nho giáo có những điểm khác biệt với Trung Dung của phương Tây ở tính linh hoạt và được ứng dụng một cách toàn diện trong đời sống con người. Trung Dung Nho giáo, theo đó trở thành đạo thống quan trọng về vũ trụ và  nhân sinh.

* Để hiểu một trong những giá trị lớn mà Nho giáo đã cống hiến cho nhân loại, chúng ta cần quan tâm tìm hiểu và có nhận thức sâu sắc, đúng đắn về đạo lý này. Theo một ý nghĩa nào đó, Đạo Trung dung giúp chúng ta nắm được thế giới quan, phương pháp luận của Nho giáo. Và xa hơn nó còn cấp cho ta một công cụ – một phạm trù triết học, giúp ta có điều kiện đi sâu tìm hiểu nhiều vấn đề khác trong hệ thống tư tưởng triết học Nho giáo Trung Hoa.

* Việc nghiên cứu, nhận thức sâu sắc, đúng đắn Đạo thống Trung Dung sẽ giúp người thời nay có thể khai thác, vận dụng tinh hoa của nó để tạo nên cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ giác độ nhân sinh, học giả – Nhân tử Nguyễn Văn Thọ đã khuyến cáo chúng ta:

“Đạo Trung Dung sinh ra nhằm dạy con người hướng về Thiên đạo. Con người thực ra là những vị thần minh, những vị thiên tử lạc xuống hồng trần rồi quên mất dòng dõi cao sang của mình, quên mất con đường trở về Thiên quốc. Con người cần thực hiện một cuộc hành trình nội tâm nhằm tìm Đạo, tìm Trời”[21] để tồn tại, phát triển tốt hơn trong thời đại ngày nay.

Tài liệu tham khảo trích dẫn

[1] Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch), Trần Trọng Sâm (biên dịch): Tứ thư,  Nxb.Văn học, 2010, tr. 55-56.

[2] Hoàng Nha Phương: Khổng Tử, tinh hoa trí tuệ qua danh ngôn, Nxb. Văn hóa thông tin, 2008, tr. 7.

[3] Lao Tử – Thịnh Lê: Từ điển Nho, Phật, Đạo, Nxb. Văn học, 2001, tr. 1663.

[4] Lý Minh Tuấn: Tứ thư bình giải, Nxb. Tôn giáo, 2011, tr. 1204-1205.

[5] Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch), Trần Trọng Sâm (biên dịch): Tứ thư, Nxb.Văn học, 2010, tr. 55.

[6] Sách do nhóm Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong chú dịch, Trần Trọng Sâm biên dịch và được Nxb. Văn học xuất bản ở Việt Nam vào quý III, năm 2010.

[7] Xin xem Tứ thư do Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong chú dịch, Trần Trọng Sâm biên dịch, Nxb. Văn học, 2010, tr. 51-52.

[8] Xin xem Tứ thư do Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong chú dịch, Trần Trọng Sâm biên dịch, Nxb.Văn học xuất bản năm 2010, tr. 52-53.

[9] Tử tư (Khổng Cấp), cháu đích tôn của Khổng Tử đã viết sách Trung Dung, kế thừa và phát huy tư tưởng trung dung của Khổng Tử một cách có hệ thống…[xem Nguyễn Tôn Nhan: Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc, Nxb. Văn hóa thông tin, 2002, tr. 295].

[10] Lao Tử – Thịnh Lê: Từ điển Nho, Phật, Đạo, Nxb. Văn học, 2001, tr. 1661.

[11] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[12] Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch), Trần Trọng Sâm (biên dịch): Tứ thư,  Nxb.Văn học, 2010, tr. 51-52.

[13] Dẫn theo Lý Minh Tuấn: Tứ thư bình giải, Nxb. Tôn giáo, 2011, tr. 1204.

[14] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[15] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[16] Xem Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[17] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[18] F. Jullien (2003): Minh triết phương Đông & triết học phương Tây, Nxb Đà Nẵng, tr. 54-55.

[19] F. Jullien (2003): Minh triết phương Đông & triết học phương Tây, Nxb Đà Nẵng, tr. 57.

[20] F. Jullien (2003): Minh triết phương Đông & triết học phương Tây, Nxb Đà Nẵng, tr. 59-60.

[21] Nhân tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, (truy cập 7/9/2019).

[P/S: Bài viết đã đăng trên Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 108 (169), tháng 3/2020]

ĐẠO ĐỨC

Lòng bao dung của Cụ Hồ

Cụ Hồ là một nhân vật lịch sử trở thành huyền thoại ngay khi còn sống. Một trong những nét tính cách tạo nên người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất là tấm lòng bao dung rộng lớn. Bài viết của nhà nghiên cứu Trần Đương sẽ giúp chúng ta hiểu biết thêm về lòng bao dung của Cụ Hồ Chí Minh:

Ngay từ thuở nhỏ, sống và lớn lên trong tình cảm của cha mẹ, người thân, bà con họ hàng ở quê hương, Bác Hồ của chúng ta – tức cậu Công lúc còn bé và Nguyễn Tất Thành khi là chàng trai – đã giàu lòng nhân ái, bao dung. “Thương người như thể thương thân”, câu ca ấy thấm sâu trong tâm hồn Bác.

Từ trong cảnh ngộ của người dân mất nước, thực dân phong kiến chà đạp, Bác thương yêu đồng bào và quyết tìm đường cứu nước, cứu dân. Tấm lòng bao dung của Người là kết quả của sự nhận thức từ những tư tưởng, tinh hoa của văn hóa dân tộc – Thiện, Nhân, Tâm, Đức, Trí của các nhà triết học tiền bối, như Lão Tử (“Vì nhân từ nên mới mạnh”), Cervantes (“Khoan hồng còn chói sáng hơn công lý”)…

Sự bao dung ấy của Người thể hiện trong ứng xử hằng ngày, ở chính sách của Nhà nước. Không có lòng bao dung cao cả, không thể có đường lối “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”. Người thường nói: “Quan san muôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em”, cũng là xuất phát từ tư tưởng “Tứ hải giai huynh đệ”.

Nhờ có “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” mà “thành công, thành công, đại thành công”. Không chỉ đoàn kết với những người cùng chí hướng, cùng hoàn cảnh, mà cả với người hôm qua còn lầm lạc, với kẻ thù khi đã hạ súng đầu hàng.

Năm 1946, trước giờ lên đường sang Pháp, Bác Hồ còn viết thư cho đồng bào Nam Bộ khuyên “đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi”. Người viết: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu con người cũng có người thế này, thế khác, đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”.

Chính tư tưởng “đại đoàn kết” này là một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Thám Tám 1945, của các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc. Bác Hồ đã trân trọng cầu hiền tài và rất nhiều trí thức nhân sĩ cũ, kể cả các vị từng là quan lại phong kiến, đã theo Bác đi kháng chiến đến thành công.

Với sĩ quan tù binh Pháp, Người trao chiếc áo mặc khỏi lạnh. Với binh lính địch khi nhận ra lẽ phải chạy sang hàng ngũ cách mạng, Người gọi là “bạn”, là “cháu”, là “con”. Cho nên, không ít người thuộc phía bên kia cũng gọi Người là “Bác Hồ”, “Cha Hồ”.

Với những thanh niên còn nhiều khuyết điểm, Bác không gọi là “lạc hậu” mà dùng chữ “chậm tiến”. Người luôn khích lệ mọi người tiến về phía trước, làm nhiều việc tốt, việc hay. Trước khi đi xa, Người còn gửi lại “muôn vàn tình thân yêu” trong bản Di chúc thiêng liêng.

(Trần Đương: “Sáng mãi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Nxb. Thanh niên, 2009)

Hà Nội, ngày 18/03/2020

Bùi Tâm Văn

TÂM VĂN

Quan niệm của Đức Phật về HẠNH PHÚC

006-1

Một hôm có một Cư sĩ đến gặp Đức Phật và nói với ngài rằng: “Bạch Thế Tôn, chúng con là những người thế tục bình thường, có đời sống gia đình, có vợ con. Xin Đức Thế Tôn chỉ dạy cho con vài lý thuyết để giúp chúng con được hạnh phúc trong đời này và đời sau”.

Nghe thỉnh cầu như vậy, Đức Phật đã nói với ông ta có 4 điều giúp con người hạnh phúc trong đời này:

Thứ nhất: Phải tài khéo, có hiệu năng, hăng hái và có nghị lực trong bất cứ nghề nào mình làm và phải tinh xảo trong nghề nghiệp của mình.

Thứ hai: Phải bảo vệ lợi tức của mình đã kiếm được một cách chân chính bằng mồ hôi trán, nghĩa là bảo vệ tài sản cho khỏi bị trộm cắp, v.v…

Thứ ba: Phải giao du với bạn tốt (những người chân thành, có trí thức, đức hạnh, phóng khoáng và thông minh), họ sẽ giúp mình đi theo chánh đạo, xa lánh đường tà.

Thứ tư: Cần tiêu dùng chừng mực, tùy theo lợi tức…; không nên bo bo tích trữ tài sản, nhưng cũng không nên phung phí. Nói cách khác là phải sống trong giới hạn những phương tiện mình có.

Sau đó Đức Phật còn giảng về 4 đức hạnh giúp cho một người thế tục được hạnh phúc đời sau:

  1. Tín (saddhà): Phải tin tưởng vào những giá trị đạo đức, tinh thần và tâm linh.
  2. Giới (sìla): Phải từ bỏ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và uống rượu.
  3. Thí (càga): Phải thực hành lòng trắc ẩn, bố thí, không bám víu, ôm giữ tài sản của mình.
  4. Tuệ (panna): Phải mở mang trí tuệ dẫn đến sự diệt khổ, chứng Niết bàn.

Lần khác, Đức Phật nói với một thương gia danh tiếng rằng một cư sĩ sống đời thường nhật có bốn thứ hạnh phúc:

  1. Thụ hưởng sự bảo đảm về kinh tế hay tài sản đầy đủ kiếm được bằng những phương tiện chính đáng.
  2. Tiêu dùng tài sản ấy một cách rộng rãi cho chính mình, cho gia đình, bà con, bè bạn và trong những việc công đức.
  3. Không có nợ nần.
  4. Sống một cuộc đời trong sạch, không phạm những điều ác trong ý nghĩ, lời nói hay hành vi.

Hai mẩu chuyện trên cho thấy Đức Phật xem sự thoải mái về kinh tế là cần thiết cho hạnh phúc con người. Nhưng Ngài không coi là tiến bộ nếu chỉ dựa vào vật chất mà thiếu đi một nền tảng quan trọng là đạo đức và tâm linh…!!!

GIÁO DỤC

“Nhân danh học Việt Nam”

Đây là tên cuốn sách của PGS.TS Lê Trung Hoa, được Nxb Trẻ xuất bản năm 2013. Sách được in khổ 14cm x 20cm, tổng số 163 trang.

Phải nói ngay rằng, theo suy nghĩ riêng của tôi, thì đây là một cuốn sách hay, có giá trị về Nhân danh học Việt Nam.

“Nhân danh học” là một một bộ phận của “Danh xưng học” – một ngành của Ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu về tên người.

Trên thế giới, Nhân danh học xuất hiện vào cuối của thế kỷ XIX, phát triển mạnh ở các nước Âu – Mỹ, đã có hàng trăm công trình công bố. Trong khi đó, ở nước ta trước khi sách này xuất bản mới có “dăm bài nghiên cứu về một vài phương diện của họ và tên người Việt Nam” (Lời nói đầu).

Mặc dù là một công trình nghiên cứu mang tính sơ khảo, nhưng đây là một công trình có giá trị về Nhân danh học Việt Nam. Ngoài lời nói đầu, tài liệu tham khảo, nội dung sách bao gồm: Tổng quan, Họ, Tên đệm, Tên chính, Các nhóm danh hiệu và Cách gọi tên của người Việt.

Có một nét tâm lý chung trong con người là tò mò về quá khứ, về nguồn gốc của mình (bao gồm nguồn gốc của bản thân, gia đình và dòng họ), nguồn gốc của dân tộc, đất nước, thậm chí là nguồn gốc của nhân loại, của vũ trụ, tự nhiên…

Các bạn có hứng thú với việc tìm hiểu cội nguồn tên người (gồm tên họ, đệm, tên) của người Việt Nam sẽ tìm thấy trong cuốn sách này nhiều điều bổ ích và lý thú.

Tuy chưa thỏa mãn hết nhu cầu của người đọc liên quan đến chủ đề, nhưng trong tình hình nghiên cứu hiện nay, việc tác giả làm được thật đáng trân trọng. Chúng ta chịu ơn tác giả khi đọc cuốn sách này…

Xin trân trọng chia sẻ với độc giả yêu quí của trang blog buitamvan.com về cuốn sách!

Hà Nội, ngày 06-03-2020

Bùi Tâm Văn

ĐẠO ĐỨC

Đạo Phật dạy cách Đền ơn!

Trong cuộc đời mỗi chúng ta đều chịu ơn rất nhiều người, nào là cha mẹ sinh thành dưỡng dục, nào là thầy cô dạy dỗ, nào là người thân, bạn bè… giúp đỡ. Nhưng hầu như không ai trong chúng ta có thể báo đáp lại được tất cả những người mà mình đã chịu ơn. Vì thế mà tâm không tránh khỏi áy náy, buồn khổ…

Ở tập 3 bộ sách Tâm lý Đạo đức của Thầy Thích Chân Quang có mục “21. Biết ơn” luận bàn rất thấu tình, đạt lý về chủ đề này. Thầy Quang đã chỉ cho chúng ta cách đền ơn, đáp nghĩa đúng đắn để tâm mình luôn được bình yên, hạnh phúc:

Sự thật, trong cuộc sống không phải lúc nào chúng ta cũng có thể trực tiếp đền ơn người mà mình chịu ơn được. Chẳng hạn, khi đã lớn, thấu hiểu công ơn cha mẹ, chúng ta muốn đền đáp công ơn to lớn ấy nhưng cha mẹ lại không còn nữa…

Hoặc một lần nào đó trong đời, chúng ta rơi vào tình cảnh éo le, giữa đường vì trộm vét sạch túi. Lúc bấy giờ một người tốt bụng đã cho chúng ta tiền xe để trở về nhà. Chỉ gặp nhau trong chốc lát giữa đường luân hồi vô tận này rồi biến mất, biết bao giờ chúng ta tìm lại được họ để đền ơn?

Một cư sĩ kể rằng, có một lần khi đi xa trở về, trong túi anh ta không còn một đồng nào, bụng đói cồn cào, lại phải cuốc bộ trên con đường dài giữa trưa nắng. Khi trông thấy một ngôi chùa, anh bèn ghé vào xin cơm ăn.

Nghe anh nói rất thành thật về tình cảnh của mình, sư cô ân cần mời anh ăn cơm, sau đó còn cho anh tiền xe để về nhà nữa. Ân nghĩa đó suốt đời anh không quên…

Mỗi khi nghĩ đến chuyện đó, lòng anh cứ canh cánh mong có ngày tìm lại chốn cũ để đền ơn. Nhưng do bận sinh kế, vợ con hàng ngày, anh chưa có điều kiện trở lại…

Khi tâm sự điều này với Sư Thầy ở ngôi chùa gần nhà, anh được ông khuyên đừng bận tâm nghĩ đến chuyện đó nữa, mà anh có thể giúp đỡ bất cứ người nào xung quanh mình bằng tình thương yêu như sư cô đối với anh là được. Làm như vậy là đã đền ơn sư cô và ngôi chùa trước đây giúp anh rồi.

Lời khuyên của Sư Thầy giúp anh hiểu ra Đạo lý “đền ơn, đáp nghĩa”. Từ đó anh nguyện đối xử tốt với mọi người trong cuộc sống…

Hà Nội, ngày 01-03-2020

Bùi Tâm Văn