MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ

GDĐH Mỹ so với lịch sử GDĐH ở nhiều quốc gia phương Đông và châu Âu thì hãy còn non trẻ, mới hơn bốn trăm năm. Nhưng hệ thống giáo dục này lại có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với phần còn lại của thế giới trong khoảng hai thế kỷ nay.

Điều gì đã tạo nên sức hấp dẫn của GDĐH Mỹ? Bài viết giới thiệu một số đặc trưng quan trọng góp phần tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ của hệ thống GDĐH này trong thời gian qua.

1. Quản lý, quy mô và cơ cấu hệ thống giáo dục đại học

1.1. Việc quản lý đối với hệ thống GDĐH ở Mỹ có sự khác biệt so với nhiều nơi trên thế giới. Trên cùng, nước Mỹ có Bộ Giáo dục Liên bang (Federal Department of Education) thành lập năm 1979, nhưng chỉ làm hai việc:

1) Hỗ trợ về tài chính cho sinh viên (phần lớn thông qua hình thức cho vay)

2) Duy trì một hệ thống cơ sở dữ liệu bao gồm các cuộc điều tra hàng năm về tình hình tài chính, số sinh viên nhập học, các chương trình đào tạo có cấp bằng của các trường, các nghiên cứu về những mối quan tâm của sinh viên và các hoạt động ứng xử của các trường đại học[1].

Bên cạnh Bộ Giáo dục thì Chính phủ Liên bang cũng chia sẻ một phần trách nhiệm đối với hệ thống giáo dục đại học Mỹ.

Những nghiên cứu cơ bản và quan trọng nhất của các trường đại học được Chính phủ cấp kinh phí thông qua các cơ quan như: Viện Y tế Quốc gia, Hiệp hội Khoa học Quốc gia, Cơ quan Hàng không Vũ trụ Quốc gia, Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp, Bộ Y tế và Phục vụ Con người…

Như vậy, nếu so với mô hình quản lý của nhiều quốc gia khác trên thế giới thì về cơ bản hệ thống GDĐH Mỹ vận hành theo cơ chế phi tập trung, thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương, cấp dưới là các bang, quận.

Giáo dục từ phổ thông đến đại học đều thuộc quyền quản lý trực tiếp của các bang, quận và của Hội đồng quản trị các trường. Nét khác biệt đáng lưu ý, hệ thống GDĐH học Mỹ có quyền tự chủ cao và mọi hoạt động đều vận hành theo khuôn khổ của luật Liên bang và pháp luật của mỗi bang[2].

Nhìn từ góc độ quản lý vĩ mô thì hệ thống GDĐH Mỹ dường như không mang tính hệ thống. Trong khi, xu hướng chung của thế giới cho rằng, GDĐH phải là một hệ thống tích hợp để có thể cung cấp các chương trình đào tạo hiệu quả nhất và nâng cao tối đa trách nhiệm xã hội.

Đại học Mỹ cũng thể hiện phần nào xu hướng này; song ở đây tồn tại một thực trạng “lộn xộn sáng tạo” (creative confusion). Đây chính là nét đặc trưng cho phần lớn hệ thống giáo dục đại học Mỹ[3].

1.2. Đặc trưng quan trọng thứ hai dễ nhận thấy là hệ thống GDĐH Mỹ có quy mô đồ sộ xét trên tất cả các phương diện: về số lượng trường, số lượng sinh viên, tổng chi phí hay tỷ lệ phần trăm trong GDP.

Theo thời gian đào tạo, GDĐH Mỹ chia làm hai loại: Đại học (4 năm) và Cao đẳng, Cao đẳng Cộng đồng (2 năm).

University được dùng để chỉ những trường đại học tổng hợp, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực và có đào tạo văn bằng cao nhất là tiến sĩ. Còn thuật ngữ college thì được sử dụng với một số nghĩa khác nhau để chỉ các trường hợp như:

a) Bộ phận thuộc cấp đại học của một unitversity (chẳng hạn Harvard College của Harvard Unitversity);

b) Một trường đại học được phép đào tạo các văn bằng 4 năm hay 2 năm, đôi khi đào tạo cả bằng master nhưng không đào tạo tiến sĩ; hoặc

c) Một faculty của unitversity (chẳng hạn như College  of Arts and Sciences hoặc College of Medicine)[4].

Theo Quỹ Carnegie (vì sự tiến bộ giảng dạy) thì ở Mỹ có 261 Viện đại học nghiên cứu/đào tạo tiến sĩ; 610 trường và viện đại học có đào tạo thạc sĩ; 607 trường đại học đào tạo cử nhân; 1.699 trường đào tạo 2 năm và cấp bằng phó cử nhân (các trường Cao đẳng cộng đồng); 767 trường đại học chuyên môn sâu.

Ngoài ra còn có khoảng 4.000 trường không cấp bằng thuộc khối trường tư.

Hệ thống đại học Mỹ bao gồm các đại học lĩnh vực (University), Đại học nghiên cứu (Research University) với nhiều loại hình đào tạo khác nhau từ cử nhân (Bachelor Degree) đến thạc sĩ (Master degree), tiến sĩ (Ph.D), sau tiến sĩ và Nghiên cứu (Postdoctora Study and Research).

Bên cạnh có một số trường chuyên ngành (Professional Schools) như trường Luật, trường Y… Riêng Cao đẳng thì có Cao đẳng Cộng đồng (Community Colleges); Cao đẳng (Junior Colleger); các trường Cao đẳng kỹ thuật, nghề nghiệp (Voc/Tech Institutions)[5]

Hệ thống đại học Mỹ được xem là một trong những hệ thống đại học tốt nhất thế giới với nhiều đại học nổi tiếng nằm trong thứ hạng 200 trường đại học hàng đầu thế giới (2008) như: Đại học Harvard; Đại học Yale; Đại học Chicago; Học viện công nghệ Massachusetts…

Nước Mỹ có khoảng 4.000 trường đại học, cao đẳng được phép cấp bằng; trong đó có 1.700 trường công và 2.300 trường tư.

Trường tư ở Mỹ chiếm số lượng nhiều hơn và cũng có lịch sử phát triển lâu đời hơn trường công.

Có 6 mức độ bằng cấp tương ứng với chương trình, thời gian, mục tiêu đào tạo của các trường, đó là: cao đẳng (associate), cử nhân, cử nhân chuyên nghiệp đầu tiên (firtt professional), thạc sĩ, advanced intermedia và nghiên cứu sinh.

Giáo dục đại học Mỹ còn có chương trình nghiên cứu sinh sau tiến sĩ.

Hàng năm hệ thống giáo dục đại học Mỹ thu hút một lượng lớn những người sau khi tốt nghiệp trung học vào đại học.

Vào mùa Thu năm 1993, nước Mỹ có hơn 14 triệu sinh viên, toàn và bán thời gian, nhập học. Số sinh viên này bao gồm 62% tổng số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học từ năm trước đó, 31% tổng số sinh viên trong độ tuổi từ 22-24 và 60% thanh niên trong độ tuổi từ 18-19 theo học ở các loại trường sau trung học nào đó vào năm 1994.

Cuối cùng là 22% tổng số người trên độ tuổi 25 tuyên bố vào năm 1994 là đã hoàn thành xong tối thiểu 4 năm đại học.

Số sinh viên này được nhập vào học tại 3.688 trường đại học, bao gồm 1..641 trường công lập tiếp nhận 11.184.080 sinh viên và 2.047 trường tư tiếp nhận 3.116.570 sinh viên.

Ngoài ra, còn khoảng 1.027,713 sinh viên được tiếp nhận vào 6.737 trường sau trung học (chủ yếu là các trường đào tạo ngắn hạn), hơn 5.000 trường trong số này là trường độc quyền (propriettary school)[6].

Năm 2000, tổng số sinh viên nhập học thuộc khu vực GDĐH có cấp bằng là hơn 15 triệu, trong đó nữ sinh viên chiếm khoảng 57%, 77% sinh viên nhập học các trường công và 57% theo học toàn thời gian.

Có khoảng 38% sinh viên theo học các trường đào tạo 2 năm hoặc các trường đào tạo bằng phó cử nhân, sau đó sẽ chuyển tiếp lên bậc cao hơn.

Quy mô của hầu hết các trường đại học Mỹ là tương đối lớn, có tới hơn 49% số sinh viên theo học ở các trường có khả năng thu nhận hơn 10.000 sinh viên nhập học hàng năm.

GDĐH Mỹ có sức thu hút mạnh mẽ đối với nhiều người trên thế giới. Nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh, các nhà khoa học… nhiều nước trên thế giới đều muốn được đến học tập và làm việc ở các cơ sở đại học Mỹ.

Hàng năm GDĐH Mỹ đón nhận một lượng lớn sinh viên du học. Năm học 2011-2012, hơn 764.000 sinh viên nước ngoài đến Mỹ học tập.

Trong những năm gần đây, sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học có xu hướng tăng lên… Hệ thống GDĐH Mỹ đóng góp 22,7 tỉ USD vào nền kinh tế nước này, bên cạnh đó còn có nhiều lợi ích vô hình khác đem lại cho nước Mỹ.

2. Chương trình học, kiểm định chất lượng và tự do học thuật

2.1. Các trường ở Mỹ, đặc biệt các trường Cao đẳng cộng đồng rất chú trọng đối với giáo dục đại cương.

Các trường này tập trung trang bị cho sinh viên những kiến thức quan trọng và thực tế, bao gồm: kỹ năng giao tiếp cơ bản, toán học, lịch sử, văn minh thế giới, ngoại ngữ, khoa học xã hội và nhân văn, văn học nghệ thuật, khoa học tự nhiên…

Những tri thức, kỹ năng được trang bị giai đoạn này tạo tiền đề góp phần hun đúc bản lĩnh, sự tự tin, phẩm chất cho sinh viên.

Các trường đại học Mỹ là những cơ sở GDĐH đầu tiên trên thế giới áp dụng chế độ đào tạo theo tín chỉ.

Mỗi tín chỉ thể hiện một khối lượng học tập mà một sinh viên trình độ trung bình có thể thực hiện được khi dành khoảng 3 giờ/tuần để theo học trên lớp và gấp đôi thời lượng đó cho việc học tập ở ngoài giảng đường (đọc tài liệu ở thư viện, thực hành trong phòng thí nghiệm hay học ở nhà).

Mỗi học phần được quy định bằng một số tín chỉ phản ánh số giờ học trên giảng đường hàng tuần và tổng thể tạo nên một học phần chuẩn 15 tuần.

Khi hoàn thành chương trình đào tạo với hơn 120 tín chỉ trong 4 năm, sinh viên sẽ nhận được bằng cử nhân.

Học theo tín chỉ có các ưu điểm:

1) Tạo khả năng chuyển tiếp linh hoạt giữa các cơ sở đào tạo thuận tiện cho người học;

2) Người học có thể tích luỹ 60 tín chỉ tại một trường Cao đẳng cộng đồng (2 năm) để được cấp bằng phó cử nhân, sau đó chuyển tiếp học ở bậc cao hơn (2 năm) ở một đại học khác;

3) Tạo khả năng học bán thời gian, hoặc học theo cách gián đoạn trong vòng 1-2 học kỳ hay trong nhiều năm;

4) Tạo điều kiện để người học có thể liên thông lên học ở chương trình đào tạo cao hơn là sau đại học hoặc theo học chương trình đào tạo chuyên nghiệp cao cấp.

Đây cũng là một đặc trưng nổi bật và là điểm mạnh của GDĐH Mỹ mà về sau nhiều quốc gia học và ứng dụng theo mô hình đào tạo này.

2.2. GDĐH Mỹ được đánh giá là có chất lượng cao. Chất lượng này được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố kiểm định công nhận chất lượng.

Kiểm định là hình thức đầu tiên trong quy trình xét duyệt chất lượng từ bên ngoài của các cơ sở giáo dục đại học. Hoạt động này chủ yếu do các tổ chức tư nhân và phi lợi nhuận đảm nhiệm.

Một trường hay một chương trình đào tạo phải thoả mãn ba yêu cầu sau mới được công nhận về chất lượng. Đó là:

1) Đáp ứng được những tiêu chuẩn của một tổ chức kiểm định;

2) Duy trì được những phương thức có hiệu quả để đảm bảo chất lượng, có các quy trình và cơ chế để quản lý chất lượng;

3) Duy trì được các chiến lược để luôn luôn nâng cao chất lượng đào tạo.

Mục đích kiểm định công nhận chất lượng là nhằm:

1) Thể hiện chất lượng của cơ sở đào tạo;

2) Giúp các trường tiếp cận các nguồn quỹ tài trợ của Liên bang;

3) Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển tiếp của người học;

4) Tạo sự tin tưởng cho các nhà tuyển dụng lao động.

Ở Mỹ, có gần 6.500 cơ sở đào tạo (có cấp bằng và không cấp bằng) và hơn 20.000 chương trình đào tạo thuộc nhiều ngành nghề (luật, y, dược, kinh doanh, điều dưỡng, công tác xã hội, nghệ thuật, báo chí…) được kiểm định công nhận chất lượng vào năm 1998-1999[7].

2.3. Một đặc trưng nổi bật khác của GDĐH Mỹ là tinh thần tự do học thuật cao. Cụm từ “tự do học thuật” được sử dụng từ đầu thế kỷ 20 và thường xuyên được nhắc đến trong các cơ sở GDĐH Mỹ và trở thành một câu thần chú.

Nội dung cơ bản của nó là nói đến việc các giáo chức và cơ sở GDĐH ở Mỹ được bảo vệ, tránh sự can thiệp của chính trị.

Theo đó, những khái niệm không chính thống và những hành vi trái lệ thường trong môi trường học thuật, hơn bất cứ lĩnh vực nào khác của đời sống, cần nhận được sự bảo hộ đặc biệt[8].

Ở GDĐH Mỹ có quan niệm, tự do học thuật bảo vệ một không gian quý giá cho những thử nghiệm tri thức có giá trị.

Quyền tự do học thuật còn được mở rộng hơn nữa trên thực tế, nó cho phép những người có óc sáng tạo khác thường sống những cuộc đời sáng tạo khác thường. Song, tự do học thuật phải gắn với nghĩa vụ học thuật, tức trách nhiệm đối với xã hội…

Giới chức giáo dục Mỹ đòi hỏi quyền tự do học thuật cá nhân được tôn trọng, nhưng họ cũng nhận rõ trách nhiệm đối với cộng đồng…

Có thể nói, nền GDĐH Mỹ mạnh và thành công như hiện nay có sự đóng góp không nhỏ của tư tưởng tự học thuật.

Mỹ là quốc gia có nhiều trường đại học được xếp ở hàng đầu của thế giới.

Trong số 100 trường đại học tốt nhất thế giới có hơn một nửa là của Mỹ và trong 10 trường xếp hàng đầu thì Mỹ có tới 8 trường nằm trong tốp này.

Theo kết quả khảo sát ở London (Anh) và Thượng Hải (Trung Quốc) vào cuối những năm 2000, trong số 500 trường đại học hàng đầu thế giới thì Mỹ dẫn đầu với 14 trường trên tổng số 25, 28 trên tổng số 75 và 37 trên tổng số 100 trường đại học uy tín, chất lượng[10] của thế giới.

3. Tài chính, chi phí của GDĐH Mỹ

Nguồn thu của các cơ sở GDĐH bao gồm các khoản: học phí, kinh phí được chính quyền (địa phương và liên bang) cấp và sự ủng hộ của các nhà tài trợ.

Trong đó, trong khoản kinh phí được chính quyền cấp thì của địa phương chiếm tới 90%, còn của liên bang chỉ chiếm 10%.

Số kinh phí do chính quyền liên Bang cấp chủ yếu được dành để hỗ trợ cho những đối tượng khó khăn[11].

Còn nguồn chi cho giáo dục hầu hết lấy từ nguồn tài chính của các bang, quận và từ học phí của người học.

Nhìn chung, các trường đại học Mỹ có mức thu học phí cao và có xu hướng tăng lên.

Trong khoảng 20 năm, từ 1975 đến 1995, các mức học phí ở các viện đại học tư tăng 105%, ở các trường đại học tư tăng 108%, ở các viện đại học công lập tăng 115% và ở các trường đại học công lập 2 năm tăng 228%[12].

Mức học phí phổ biến ở Mỹ giao động từ mức thấp nhất là 3.000 USD (cho khu vực công lập) đến 20.000 USD/năm (cho một số trường tư).

Cấp tài chính đối với giáo dục đại học Mỹ là một vấn đề vừa lớn, vừa phức tạp.

Nó là vấn đề lớn bởi tài chính là nền tảng chi phối phần lớn ba vấn đề khác bao quát về chính sách GDĐH hiện đại. Ba vấn đề đó là:

1) Chất lượng, và mối quan hệ giữa việc cấp kinh phí và chất lượng ở bất cứ khía cạnh nào của nó;

2) Sự nhập học, hay việc tìm kiếm công bằng xã hội ở những người được hưởng lợi ích và những người phải chi trả cho giáo dục đại học.

3) Hiệu quả, hay việc tìm kiếm một mối quan hệ về hiệu suất chi phí giữa các nguồn thu nhập (đặc biệt là các nguồn thu từ sinh viên, từ phụ huynh và từ những người đóng thuế) và sản phẩm đầu ra (có thể được đo bằng số sinh viên nhập học, số sinh viên tốt nghiệp, việc học của sinh viên hay các hoạt động học thuật của đội ngũ giáo chức).

Học phí là vấn đề phức tạp một phần vì có nhiều nguồn thu và nhiều khoản chi, các khoản này lại có mối quan hệ yếu ớt với các nguồn thu nhập khác nhau.

Hơn nữa, các mô hình thu nhập và chi tiêu lại khác nhau nhiều giữa các cơ sở đào tạo đại học, tuỳ theo loại trường (viện đại học, trường đại học 4 năm, trường cao đẳng 2 năm), theo phương thức quản lý (trường công hay trường tư) và còn theo các bang.

Trong khu vực tư, các mức chi tiêu cũng như các mô hình định giá học phí và giảm học phí khác nhau rất nhiều tuỳ theo khả năng tài chính của từng trường, tính chất về nhân khẩu và mức độ giàu có của của gia đình nhóm người xin nhập học.

Trong các trường công lập, các mô hình này lại thay đổi tuỳ theo các mức cấp kinh phí của bang, các chính sách học phí và các chỉ tiêu tuyển sinh được ấn định bởi chính quyền bang và các hội đồng quản trị của các nhóm liên kết các trường đại học công.

Mỹ là nước thứ hai (chỉ sau Canada) về chi phí cho giáo dục đại học tính theo phần trăm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cao hơn các nước Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Anh.

Tổng chi cho GDĐH Mỹ, bao gồm các khoản chi thường xuyên công với các khoản chi phụ thêm cho thiết bị, chiếm khoảng 3% GDP.

Trách nhiệm quản lý giáo dục thuộc về chính quyền các bang và các quận.

Các cơ quan quản lý giáo dục của bang có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn đối với các cơ sở giáo dục trong bang, từ việc xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển, việc phân bổ nguồn tài chính, quản lý giáo viên… đến nội dung, chương trình đào tạo của các loại hình giáo dục trên cơ sở luật pháp Liên bang và luật pháp riêng của từng bang.

Ở nhiều quốc gia, khi học phí tăng thường gây nên phản ứng xã hội; nhưng ở Mỹ thì không như vậy.

Người dân Mỹ đã có tạo được truyền thống chấp nhận chi trả học phí cao. Hầu hết họ tin tưởng vào chất lượng GDĐH trả lại cho họ những lợi ích theo mong muốn.

TÓM LẠI:

Hệ thống GDĐH Mỹ là một hệ thống có quy mô đồ sộ, đa dạng và phức tạp. Không giống như nhiều quốc gia khác, Bộ giáo dục Liên bang Mỹ chỉ đóng vai trò phụ trong quản lý hệ thống.

Quyền lực, trách nhiệm và nghĩa vụ thật sự đối với hệ thống GDĐH thuộc về cơ sở, bao gồm chính quyền bang, quân và nhà trường.

Hệ thống giáo dục Mỹ có những điểm khác biệt, chính những điểm khác biệt này làm nên sức mạnh, sự ưu việt của GDĐH Mỹ.

Sự khác biệt biểu hiện rõ nét ở sự tự chủ cao của các cơ sở giáo dục và chính quyền các bang, quận; đào tạo theo hệ tống tín tạo nhiều thuận lợi cho người học; chế độ kiểm định chất lượng công nhận nghiêm ngặt và tinh thần tự do học thuật, v.v…

Có thể coi sự khác biệt này là những điểm nhấn, những tiền đề quan trọng giúp GDĐH Mỹ có những bước tiến vượt bậc so với châu Âu và những nơi khác.

Trong khoảng hai thế kỷ nay, GDĐH Mỹ được nhiều quốc gia khác quan tâm nghiên cứu, học hỏi và áp dụng để xây dựng nền giáo dục phát triển trong thế kỷ XXI.

Tài liệu tham khảo

[1] Donald Kennedy (2012): Nghĩa vụ học thuật, Nxb Tri thức.

[2] Trần Khánh Đức (2010): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam.

[3] Đào Thanh Hải, Lê Văn Hồng, Vũ Thị Quỳnh Nga (2016): “Hệ thống giáo dục sau trung học ở Hoa Kỳ”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 11-2016.

[4] http://www.nuocmy.net: “Tổng quan về giáo dục đại học Hoa Kỳ”.

[5] http://amec.com.vn: “Những hiểu biết cơ bản về đất nước và con người Mỹ”.

[6] http://kenhtuyensinh.vn: “Hệ thống đại học du học Mỹ được phân loại như thế nào?”.

[7] Lâm Quang Thiệp, D.Bruc Jhonstone, Philip G.Altbach (2007): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục.

[8] Itamar Rabinovich (2012): “Tính ưu việt của hệ thống đại học Mỹ”, Niên giám thông tin khoa học xã hội nước ngoài, số 4, từ tr. 271-284, Nxb. KHXH, Hà Nội.                     


[1] Lâm Quang Thiệp, D.Bruc Jhonstone, Philip G.Altbach (2007): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục, tr.36.

[2] Trần Khánh Đức (2010): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.70-71.

[3] Lâm Quang Thiệp, D. Bruc Jhonstone, Philip G. Altbach (Đồng chủ biên): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục, 2007, tr.61.

[4] Lâm Quang Thiệp, D. Bruc Jhonstone, Philip G. Altbach (Đồng chủ biên): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục, 2007, tr.35.

[5] Trần Khánh Đức (2010): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.72-73.

[6] Lâm Quang Thiệp, D. Bruc Jhonstone, Philip G. Altbach (Đồng chủ biên): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dục, 2007, tr.219.

[7] Lâm Quang Thiệp, D.Bruc Jhonstone, Philip G.Altbach (2007): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dụ, tr.244.

[8] Donald Kennedy (2012): Nghĩa vụ học thuật, Nxb Tri thức, tr.13.

[9] Donald Kennedy (2012): Nghĩa vụ học thuật, Nxb Tri thức, tr.14.

[10] Itamar Rabinovich: “Tính ưu việt của hệ thống đại học Mỹ”, trong Niên giám thông tin khoa học xã hội nước ngoài, số 4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012, tr.275.

[11] Trần Khánh Đức (2010): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.71.

[12] Lâm Quang Thiệp, D.Bruc Jhonstone, Philip G.Altbach (2007): Giáo dục đại học Hoa kỳ, Nxb Giáo dụ, tr.226-227.

Leave a Reply

Your email address will not be published.