HỒ CHÍ MINH VIẾT DI CHÚC

1. Trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh (HCM) có nhiều việc làm thuộc diện đặc biệt quan trọng. Viết Di chúc là một việc làm như thế.

Vũ Kỳ (thư ký riêng của HCM) nhớ lại sự kiện HCM khởi thảo Di chúc: Đó là buổi sáng thứ hai, mồng 10-5-1965 không thể nào quên. Khắp nơi trong cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi.

Bác Hồ vẫn ung dung như thường lệ. Từ 7 giờ sáng, tại phòng khách cạnh nhà ăn phía bên này hồ, Bác ngồi nghe đồng chí Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải báo cáo về con đường chiến lược qua đất Lào…

Đúng 9 giờ, Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau.

Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp ngày sinh của mình; chọn đúng vào lúc 9 giờ, giờ đẹp nhất của một ngày; chọn đúng vào lúc sức khoẻ tốt nhất trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình, sao mà Bác thanh thảnh, ung dung đến thế?[1].

Mở đầu tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (về sau được gọi là Di chúc), HCM viết:

“Năm nay tôi đã tuổi 75. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khoẻ. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”. Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm, mấy tháng nữa. Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi…”.

Đúng 10 giờ, HCM gấp những tờ giấy “Tuyệt đối bí mật” lại, cẩn thận cho vào phong bì rồi để vào ngăn trên giá sách. Người bình thản trở lại công việc hàng ngày của vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng.

Sáng hôm sau, 11-5-1965, đúng 9 giờ, Người lấy chiếc phong bì xuống, ngồi vào bàn, chăm chú viết… Người viết về Đảng, về đoàn kết, về đạo đức cách mạng.

Trước hết nói về Đảng, Người viết:

“Nhờ đoàn kết chặt chẽ một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”;

“Đoàn kết là một truyền thống cự kỳ quí báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các Chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình…”;

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân ta”.

Trong hai ngày 12, 13, HCM viết tiếp các phần khác. Sáng thứ sáu ngày 14, trong bộ quần áo quen thuộc, Người đi thăm bà con nông dân ở xã Xuân Phương (Từ Liêm) đang làm việc trên đồng ruộng, 10 giờ mới về nhà.

Chiều hôm ấy, Người dành thời gian gấp đôi, từ 14 giờ đến 16 giờ để viết đoạn này: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng…”.

Và kết thúc bản Di chúc, Người hạ bút:

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Đúng hẹn, đồng chí Lê Duẩn sang gặp, cũng là lúc HCM đánh máy xong “Tài liệu tuyệt mật” vào hồi 16 giờ ngày 14-5-1965[2].

Bản Di chúc đã hình thành gồm ba trang, do tự Người đánh máy. Sang năm 1966, khi xem lại, HCM bổ sung một câu vào phần nói về Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Năm 1967, Người xem lại tài liệu nhưng không bổ sung gì. Năm 1968, Người bổ sung 6 trang viết tay, gồm một số đoạn nói về việc riêng và những việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta giành thắng lợi.

Ngày 10-5-1969, HCM xem và viết lại toàn bộ phần mở đầu của Di chúc, gồm 1 trang viết tay.

Như vậy, sau khi khởi thảo từ tháng 5 năm 1965, bản Di chúc đã được HCM chỉnh sửa, bổ sung và chính thức hoàn thành vào tháng 5-1969, thời gian kéo dài trong vòng 4 năm (10/5/1965 – 10/5/1969).

2. Tài liệu “Tuyệt đối bí mật”(hay Di chúc) của HCM chỉ hơn 1000 chữ nhưng nội dungđề cập đến nhiều vấn đề cốt lõi, quan trọng và có giá trị đặc biệt.

Đó là các vấn đề nói về Đảng, về thanh thiếu niên, về nhân dân lao động, nói đến việc xây dựng lại đất nước và về việc – khi Người “ra đi” thì nên xử lý theo hướng nào…

HCM đã đúc kết những bài học quý giá nhất cho cách mạng Việt Nam, trong đó, quan trọng hàng đầu là xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân.

Về vấn đề này, Người nhất mạnh ba điều cốt tử:

Thứ nhất: Đảng phải đoàn kết chặt chẽ, thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trên cơ sở tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; phải một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.

Thứ hai: Khi đã trở thành đảng cầm quyền, Đảng phải thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mỗi CB, ĐV phải thật sự thấm nhuần đạo đức CM, thật sự cần kiệm liên chính, chí công vô tư.

Thứ ba: Đảng phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Có thể xem ba điều cốt tử trên là ba trụ cột của mối quan hệ sống còn giữa ĐẢNG và NHÂN DÂN. Nếu có được ba trụ cột này thì “dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[3].

Khi nói về thế hệ trẻ, Người căn dặn Đảng ta phải chăm lo giáo dục đào tạo họ với quan điểm: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.

Người dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài, đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều người, nhiều của, nhưng “Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Còn non, còn nước, còn người. Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”.

Cuối cùng, Người mong muốn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước VN hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Chúng ta dễ dàng nhất trí với nhau rằng, Di chúc là kết tinh tư tưởng, đạo đức, tâm hồn của bậc vĩ nhân, là kết tụ tinh hoa của thời đại, linh hồn của dân tộc, khí phách tinh thần lạc quan của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, đại chúng.

Mỗi câu mỗi chữ trong Di chúc đều toát lên nhân cách của một con người suốt đời phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

Di chúc như một bài thơ hay của HCM. Mỗi chữ được dồn nén từ sâu lắng của tâm hồn, cảm xúc yêu thương đồng bào, yêu quý thiên nhiên. Di chúc toát lên vẻ đẹp của văn phong Việt Nam. Sức cuốn hút của nghệ thuật ngôn từ rất giản dị, dễ hiểu mà chứa đựng những thông tin hàm súc.

Mỗi chữ đều được đặt đúng vị trí của nó, tưởng chừng không thể thay thế được. Một mẫu mực văn phong độc đáo, sâu lắng, đậm đà bản sắc tự sự, thân thiết với cái vĩ đại ở nội hàm tư tưởng, hoà quyện giữa bác học và đời thường, sáng chói một áng văn tuyệt bút[4].

3. Sau khi Di chúc được công bố, ở Việt Nam và trên thế giới có rất nhiều bài viết luận bàn về nó.

Nhìn chung, mọi người đều nhìn nhận đây là một văn kiện có giá trị tư tưởng, giá trị lịch sử đặc biệt của HCM.

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh, con người của sự sống”, Mạch Quang Thắng có nhắc đến ba cái chết của con người.

Trong đó, cái chết thứ nhất là cái chết sinh học. Cái chết này được xác định khi con người đã đi vào cõi vĩnh hằng. Cái chết thứ hai là cái chết chính trị, đạo đức. Nghĩa là người đó còn sống đấy, sống về sinh học, nhưng coi như đã chết, thậm chí bị người đời nguyền rủa, hoặc chẳng ai còn biết người đó còn ở trên đời này nữa.

Cái chết thứ ba là người đó đã chết sinh học rồi nhưng vẫn còn sống mãi, sống đẹp trong tâm hồn của những người chân chính, bởi người đó để lại tiếng thơm cho đời, để lại di sản tinh thần lớn lao cho nhân dân, cho dân tộc và cho nhân loại nhiều thế hệ. HCM là người thuộc cái chết thứ ba ấy[5].

Trong Điếu văn của BCH Trung ương Đảng lao động Việt Nam do cố TBT Lê Duẩn trình bày ngày lễ tang HCM (9-9-1969) có đoạn viết:

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đánh giá rất cao bản Di chúc:

“Bản Di chúc tuy rất ngắn gọn song nó chứa đựng biết bao tư tưởng và tình cảm, là sự kết tinh một đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đem lại sự đổi đời của dân tộc Việt Nam ta, đồng thời để lại những di sản bất hủ đối với những thế hệ mai sau”[6].

Nguyễn Phú Trọng – Bí thư Thành uỷ Hà Nội, trong bài “Thủ đô Hà Nội 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch HCM” đã phát biểu cảm nghĩ của mình về bản Di chúc:

“Bản Di chúc được Người chuẩn bị một cách công phu, kỹ lưỡng, trí tuệ và tâm huyết…

Suốt 4 năm trời, vào những ngày đẹp nhất, những giờ đẹp nhất, tìm từng ý, chọn từng câu, sửa từng chữ, nêu rõ những việc phải làm, những điều cần nghĩ, từ lớn đến nhỏ, từ chung đến riêng…; để lại cho đời một tình cảm chan chứa yêu thương vì Dân, vì Đảng; một trí tuệ anh minh, mẫn tiệp; một tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách làm việc… cả lúc lâm chung!

Mỗi lần đọc lại Di chúc của Bác, chúng ta lại thổn thức, nghẹn ngào, càng yêu thương, kính trọng Bác, càng tâm niệm phải làm gì cho xứng đáng với Bác”[7].

Trong một cuộc hội thảo bàn về HCM tổ chức tại Ấn Độ (14-1-1991), nhiều nhà khoa học quốc tế đã nhất trí nhận định:

“Thế giới đã và sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong kho tàng văn hoá của nhân loại”[8].

4. Di chúc ra đời cách nay gần 50 năm nhưng tính thời sự của nó vẫn rất cao. Đây là tài tinh thần vô giá mà HCM đã để lại cho dân tộc ta.

Di chúc không chỉ tổng kết những bài học quý báu của cách mạng Việt Nam mà còn là “Những phác thảo có tính cương lĩnh cho sự phát triển và đổi mới đất nước”[9].

Vì những lẽ đó Di chúc sẽ trường tồn cùng dân tộc, nó là kim chỉ nam cho chúng ta trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước theo định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hiện nay.

Tài liệu tham khảo

[1] GS Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh – Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 15, 1966-1969, Nxb Chính trị quốc gia, 2011.

[3] Đại tưỡng Võ Nguyên Giáp: Nghiên cứu, học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Công an nhân dân, 2006.

[4] GS Song Thành: Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá kiệt xuất, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[5] Bá Ngọc: 79 mùa xuân Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, 2007.

[6] GS.TS Phùng Hữu Phú: Bí quyết thành công Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[7] Vũ Kỳ: Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

[8] 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.

[9] Phạm Văn Đồng, Tuyển tập (1976-2000), III, Nxb Chính trị quốc gia, 2009.

[10] Thế giới còn đổi thay, nhưng Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008.


[1] Vũ Kỳ: Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 487-488.

[2] Vũ Kỳ cho biết: Ngày 14-5-1969, HCM viết xong bản Di chúc, nhưng Người lại đánh máy ở dưới văn bản này là: “Hà Nội, ngày 15-5-1965 trước chữ ký Hồ Chí Minh”(?).

[3] GS.TS Phùng Hữu Phú: Bí quyết thành công Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr. 187.

[4] Bá Ngọc: 79 mùa xuân Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, 2007, tr. 114.

[5] GS, TS Mạch Quang Thắng: Hồ Chí Minh – con người của sự sống, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 9-10.

[6]Phạm Văn Đồng, Tuyển tập (1976-2000), III, Nxb Chính trị quốc gia, 2009, tr. 999.

[7] 35 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.

[8] Thế giới còn đổi thay, nhưng Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, tr. 912.

[9] GS Song Thành: Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá kiệt xuất, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr. 302.

Leave a Reply

Your email address will not be published.