GIÁO DỤC

Vì sao nước ta chưa trở thành nước CN theo hướng hiện đại?

1. Trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, từ năm 1960 với Đường lối Đại hội III, vấn đề công nghiệp hoá (CNH) đã được Đảng ta đặt ra.

Từ đó đến nay, qua nhiều kỳ Đại hội, CNH vẫn được xác định là một trong những vấn đề quan trọng, cốt lõi, hàng đầu mà Đảng ta quan tâm trong cương lĩnh, đường lối của mình.

Từ Đại hội VII (1991), CNH gắn với hiện đại hoá (HĐH). Trong nội hàm của khái niệm HĐH, CNH giữ vai trò nền tảng, then chốt.

Trong văn kiện của Đại hội VIII, Đảng ta đã nêu mục tiêu, phương hướng phát triển trong 10 năm đầu thế kỷ XXI (2001–2010) là:

“Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”[1].

Sau đó trong các văn kiện của Đại hội lần thứ IX, X, XI mục tiêu này tiếp tục được tái lập.

Tính từ đó đến trước khi diễn ra Đại hội lần thứ XII, tức là sau khoảng 15 năm phấn đấu thực hiện, mục tiêu trên vẫn chưa đạt được.

Điều này đã được Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành trung ương khoá XI trình Đại hội lần thứ XII nói rõ: “Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được[2].

2. Vậy đâu là những nguyên nhân/lý do khiến nước ta chưa trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020?

Khi nói về những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của tình hình, trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khoá XI đã nêu ra nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan của 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI.

Trong đó về nguyên nhân khách quan, văn kiện xác định do nước ta chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái KT toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh; những diễn biến mới phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, căng thẳng do tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông; sự chống phá của các thế lực thù địch.

Còn về chủ quan Báo cáo chỉ rõ: Trực tiếp và quyết định nhất là do ảnh hưởng của các nguyên nhân thuộc về chủ quan. Cụ thể:

– Vào cuối nhiệm kỳ khoá X, kinh tế vẫn trên đà tăng trưởng, song một số khó khăn, hạn chế và những yếu kém vốn có của nền kinh tế đã bộc lộ, nhưng do chưa đánh giá và dự báo đầy đủ, nên trong Đại hội XI đã đề ra một số chỉ tiêu, nhiệm vụ khá cao không sát với thực tế.

– Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa giải đáp được kịp thời một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới.

Nhiều hạn chế, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp uỷ, chính quyền các cấp, của đội ngũ cán bộ, đảng viên chậm được khắc phục.

– Chưa chú trọng đúng mức tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp khi tập trung thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Năng lực dự báo còn hạn chế, cho nên một số chủ trương, chính sách, giải pháp đề ra chưa phù hợp.

– Chưa quyết liệt trong việc chỉ đạo thực hiện một số chủ trương, quan điểm phát triển đã được nêu trong Nghị quyết Đại hội XI về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và các đột phá chiến lược, chưa tạo được cơ chế, chính sách có tính đột phá để huy động mọi nguồn lực cho phát triển.

Như vậy, Báo cáo Chính trị của BCH Trung ương khoá XI trình Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra nhiều yếu tố khách quan, chủ quan có tác động tiêu cực gây ảnh hưởng đến đất nước trong 5 năm qua.

Những ảnh hưởng, tác động tiêu cực này kết thành rào cản làm cho nhiều chỉ tiêu, mục tiêu kinh tế – xã hội trong tiến trình phát triển không đạt được như mong muốn.

Sự nhìn nhận trên đây của Đảng ta là đúng đắn. Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu, học giả, khi quan sát ở những góc nhìn khác sẽ thấy có một số khía cạnh trong Văn kiện chưa đề cập hết hoặc chưa phân tích sâu, cụ thể.

3. Trong một bài viết in trong sách Tình thế và đối thoại (2015), học giả Nguyễn Trần Bạt đã nêu và phân tích hai khía cạnh liên quan đến mục tiêu chưa đạt được về CNH của nước ta. Đó là sự tác động của thế giới và nước ta chưa có nền văn hoá công nghiệp.

3.1. Về tác động của thế giới

Ông Bạt cho rằng, khi nêu mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta chưa nhận thức, lường hết được các yếu tố chủ quan, khách quan tác động vào đất nước khoảng 5 năm 2010-2015.

Đặc biệt, về tình hình thế giới chúng ta quên mất một điều: “Thế giới là một chuỗi các biến động, thế giới hiện đại dần lên nhưng cũng biến động dần lên, Việt Nam không yên tĩnh để làm điều mình muốn, mà bị dắt vào những rắc rối của sự va chạm quốc tế ở Biển Đông”[3].

Biển Đông không đơn thuần chỉ là vấn đề đối ngoại, hơn thế nó là vấn đề có liên quan đến hầu như tất cả các lĩnh vực của đời sống đất nước ta.

Trong những năm qua, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, song vấn đề Biển Đông là nóng nhất, phức tạp nhất. Để xử lý vấn đề phức tạp này, trong những năm qua, nội bộ đất nước ta cũng chưa thống nhất được ý chí và hành động, chưa nói đến các nhân tố quốc tế.

Xử lý các sự việc liên quan đến Trung Quốc là một trong những vấn đề lớn liên quan đến sự phát triển của đất nước và của cả thế giới. Các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ… cũng phải xử lý các quan hệ với Trung Quốc.

Việt Nam là một nền kinh tế bé, kinh tế “vệ tinh” bên cạnh Trung Quốc; nên cũng phải xử lý quan hệ với Trung Quốc. Vì thế, nước ta chưa có điều kiện để phát triển thành một nước công nghiệp được”[4].

3.2. Về nền văn hoá công nghiệp

Ông Bạt còn cho rằng, chúng ta đã quan niệm sai về nền công nghiệp. Theo ông, để biến Việt Nam thành một nước công nghiệp thì không phải chỉ phấn đấu để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, mà quan trọng không kém là phải phấn đấu xây dựng được cả một nền văn hoá công nghiệp.

Trong nền văn hoá này, các đòi hỏi của công nghiệp phải trở thành các yêu cầu văn hoá chỉ đạo sự phát triển trong ý thức của người lao động cho đến nhà lãnh đạo cao nhất. Đa số chúng ta đi họp lúc đi sớm, lúc đi muộn, thảo luận phát biểu theo bản năng, không dựa vào các tiêu chuẩn thực tế.

Chúng ta cũng không xem công ty là sản phẩm của khoa học kinh tế vi mô. Có nhà lãnh đạo, quản lý ngồi hàng giờ trên trường quay truyền hình chỉ để thảo luận khái niệm hợp tác xã kiểu mới. Chúng ta lãng phí rất nhiều thời giờ cho những việc không nằm trong nội hàm của cái gọi là một nền công nghiệp.

Phải chú trọng xây dựng một nền văn hoá công nghiệp thật sự để cả những người bình thường lẫn những nhà chính trị khi thảo luận không ra khỏi nhận thức chung về công nghiệp.

Như vậy mới khuyến khích người dân rèn luyện học tập theo tác phong, nếp sống công nghiệp. Chúng ta vẫn nặng tâm lý thích bằng cấp, thích tiến sĩ, kỹ sư (chẳng hạn nêu chỉ tiêu đào tạo 20 ngàn tiến sỹ…).

Làm sao có thể xây dựng một nước công nghiệp bằng tiến sỹ? Trên thế giới, không ở đâu xây dựng một nền công nghiệp quốc gia bằng lực lượng tiến sĩ. Không thể tạo ra một nền công nghiệp cơ khí bằng các ông tiến sĩ về kinh tế được.

Thực tế, người ta xây dựng nền công nghiệp cơ khí bằng những nhà đầu tư về công nghiệp và những công nhân kỹ thuật công nghiệp. Dường như chúng ta không để ý đến những điều này.

Vì thế, để xây dựng một nền công nghiệp trên thực tế chứ không phải trên lời nói thì phải tổ chức các chương trình giáo dục để chuẩn bị cho xã hội một lực lượng lao động có năng lực công nghiệp và những nhà chính trị có năng lực yêu công nghiệp.

Chúng ta chưa làm được điều đó. Chúng ta chưa yêu công nghiệp mà đã yêu ngay khía cạnh hiện đại của công nghiệp.

Khi mô tả xây dựng, phát triển công nghiệp “theo hướng hiện đại”, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng phải nghiên cứu cẩn thận. Nếu không cẩn thận sự mô tả về nó như một thứ thời thượng sẽ định hướng sai cho xã hội.

Phải biến thành văn hoá để chi phối toàn bộ nhận thức của xã hội về khái niệm công nghiệp và tính hiện đại của nó, nếu không người ta sẽ bỏ qua “công nghiệp” để tiến ngay lên “hiện đại”.

Từ đó, vô tình tài chính hoá toàn bộ nền kinh tế và nó trở thành thị trường chứng khoán bằng mọi giá. Điều đó vô cùng nguy hiểm, nó đẩy người lao động ra khỏi thị trường và không có tương lai.

Nếu không cẩn thận, ngay cả chuyện làm trễ lại mục tiêu biến Việt Nam thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại với các điều kiện cơ bản cũng vẫn là một trạng thái có thể không đạt được kết quả.

Nếu không xây dựng được các tiêu chuẩn văn hoá trong việc phát ngôn, trong việc nghĩ, trong việc xây dựng các chính sách công nghiệp thật sự, chúng ta sẽ không có công nghiệp. Mà không có công nghiệp có nghĩa là người Việt Nam ở dưới tiêu chuẩn của nhân loại về phát triển.

Công nghiệp là chuẩn của sự phát triển, nó sinh ra văn hoá, sinh ra kỷ luật xã hội, sinh ra các yêu cầu của thị trường, yêu cầu của chất lượng; sinh ra tất cả các tiêu chuẩn hành vi của toàn xã hội trong quá trình phát triển kinh tế[5].

4. Như vậy, việc nước ta chưa trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như trong văn kiện của các Đại hội Đảng nêu ra là có nhiều nguyên nhân về khách quan, chủ quan. Báo cáo Chính trị và các văn kiện khác của Đảng đã đề cập đến những nguyên nhân chủ quan, khách quan này; nhưng chúng ta biết, văn kiện thường viết ở dạng cô đọng, khái quát, không thể phân tích sâu và đầy đủ các nội dung.

Trong tình hình như vậy, việc tìm đọc và tiếp thu thêm những thông tin, kiến thức của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trình bày rải rác ở những nguồn tài liệu khác nhau như sách, báo chí, mạng xã hội… đối với người giảng viên là cần thiết.

Những thông tin, tri thức thu thập được sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ, đa chiều và cụ thể hơn đối với nhiều vấn đề được trình bày trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Từ đó có thể suy ngẫm, chắt lọc phục vụ cho hoạt động chuyên môn của mình…

Tài liệu trích dẫn:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 500.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trên http://daihoi12.dangcongsan.vn/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340728&cn_id=400849

[3] Nguyễn Trần Bạt: Tình thế và giải pháp (Đối thoại), Nxb Hội Nhà văn, 2015, tr. 442.

[4] Có thể do khuôn khổ bài viết, ông Bạt không triển khai rõ hơn ý mình đối với luận điểm này.

[5] Nguyễn Trần Bạt: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ và liên tục”, trong sách Tình thế và giải pháp, Nxb Hội nhà văn, 2015, tr. 442-445.

Hà Nội, ngày 15/03/2016

TS Bùi Hồng Vạn

(TTKH bộ môn, 3-2016)

Categories:
GIÁO DỤC
You Might Also Like

Leave A Reply