HAI CHUYẾN ĐI THỰC TẾ – CÔN ĐẢO VÀ MỘT SỐ TỈNH VIỆT BẮC

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhiều bậc danh nhân khác luôn nhắc nhở chúng ta cần phải sống, làm việc theo phương châm: “Học đi đôi với hành”, “Lý luận gắn liền với thực tiễn”. Thấm nhuần tinh thần đó, từ 2004 đến nay, hàng năm khoa Lý luận chính trị trường Đại học Thương mại thường tổ chức những chuyến đi thực tế bổ túc kiến thức cho giảng viên của khoa từ cuộc sống sinh động ở những vùng miền khác nhau trên địa bàn cả nước.

Trong những chuyến đi tôi có điều kiện tham gia thì có hai chuyến đi để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất, đó là chuyến đi Côn Đảo (hè năm 2004) và chuyến đi Việt Bắc (hè năm 2006).

1. Chuyến đi Côn Đảo (hè năm 2004)

Vào dịp hè năm 2004, được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Thương mại, ba bộ môn: Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị Mác – Lênin và Lịch sử Đảng – Chủ nghĩa xã hội khoa học đã phối hợp tổ chức chuyến đi thực tế tại đặc khu Côn Đảo (thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Do lần đầu tiên đi thực tế, nên lãnh đạo nhà trường rất quan tâm, đã cử hẳn đồng chí Nguyễn Quang Lập – Phó bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Công đoàn trường làm trưởng đoàn.

Đoàn khởi hành từ Hà Nội trên một xe ca lớn chạy dọc dài đất nước theo quốc lộ I qua các tỉnh thành. Ngày đi còn đêm thì dừng nghỉ tại các địa phương lần lượt là Đồng Hới (Quảng Bình), Huế – Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu. Trong gần hai ngày dừng chân tại thành phố Hồ Chí Minh, đoàn đã thăm quan di tích lịch sử đất thép địa đạo Củ Chi. Sau đó di chuyển xuống Vũng Tàu.

Vào ngày đi Côn Đảo, buổi sáng Đoàn tổ chức mời đồng chí Thống trong ban Tuyên giáo tỉnh uỷ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bạn thời đại học của thầy Sanh) đến nói chuyện về tình hình kinh tế – xã hội địa phương. Buổi chiều, khoảng 5 giờ, đoàn lên tàu (thuỷ) đi ra Côn Đảo. Thời điểm lên tàu mặt trời chưa lặn, mọi người có thể ngắm cảnh biển và quan sát bến cảng Vũng Tàu rất rõ.

Hầu hết các thành viên của đoàn lần đầu đi biển nên đều tỏ ra thích thú. Nhiều bức ảnh được chụp, nhiều đoạn video được quay. Số ảnh, video này là nguồn tư liệu quý đối với cán bộ, giảng viên trong khoa.

TRÊN TÀU ĐI RA CÔN ĐẢO

Lần đầu đi tàu trên biển, biển lại quá mênh mông (không giống như sông hồ trong lục địa) nên có những lúc tôi có cảm giác sờ sợ. Sợ gặp bão, sợ tàu chìm… nhưng khi nhìn thấy các phao kim loại lớn vít chặt nâng đỡ xung quanh thân tàu, hôm đó trời yên, biển lặng, thời tiết ổn nên tâm lý sợ sệt ban đầu cũng tiêu tan.

Lênh đênh trên biển một đêm, sáng hôm sau khoảng 6 giờ tàu cập bến Côn Đảo. Đoàn được Ban quản lý di tích Côn Đảo đón tiếp nồng hậu.

Trong mấy ngày thăm quan, đoàn được lãnh đạo huyện và Ban quản lý di tích Côn Đảo tiếp đón rất chu đáo. Các thành viên được nghe nói chuyện, được đưa đi thăm quan các khu trại giam trong hệ thống nhà tù.

Tôi được nghe, được tận mắt thấy các khu trại giam, nhà tù trên đảo. Từ giới thiệu của hai chị thuyết minh viên và từ tài liệu, tôi biết, hệ thống nhà tù Côn Đảo được Pháp xây dựng năm 1862 (theo quyết định thành lập Nhà tù Côn Đảo do Bô-na ký ngày 1/2/1862)[1]. Tại sao thực dân Pháp chọn nơi đây xây dựng nhà tù?

Vì chúng nghĩ, đây là nơi đáp ứng tốt nhất những yêu cầu đối với một nhà tù, do bốn bề trời biển mênh mang, cách đất liền gần trăm hải lý, người tù khó mà trốn thoát được. Lại nữa, bọn cai tù có thể tra tấn dã man và đàn áp tù nhân tàn bạo cũng không sợ người ngoài biết.

Thật không ngoa khi sách báo mô tả và mệnh danh cho hệ thống nhà tù Côn Đảo cái tên “địa ngục trần gian”. Các nhà tù mà Pháp, Mỹ xây dựng ở Việt Nam không nơi nào có quy mô và sự tra tấn dã man như ở Côn Đảo. Đoàn được nghe nhiều mẩu chuyện đấu tranh anh dũng của người tù chính trị. Dù bị tra tấn tàn bạo, dù thân xác và tinh thần chịu những đoạ đày khủng khiếp nhưng họ vẫn giữ vững khí tiết của người người cộng sản.

Tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất là các đồng chí: Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Diểu, Ung Văn Khiêm, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Văn Linh, Trần Huy Liệu, Tố Hữu, Võ Thị Sáu, v.v… Nghe thuyết minh viên kể về chuyện nữ anh hùng liệt sỹ Võ Thị Sáu chúng tôi hết sức khâm phục và kính trọng người con gái vùng đất đỏ đã chịu đựng mọi sự tra tấn dã man và anh dũng hi sinh cho đất nước khi chị mới 16 tuổi…

Chúng tôi còn được biết về sự thay da đổi thịt của nhân dân huyện Côn Đảo sau ngày miền Nam giải phóng đến nay. Côn Đảo từ một “địa ngục trần gian”, nơi giam cầm những người yêu nước, những chiến sĩ cách mạng đã từng bước chuyển mình trở thành một địa phương có kinh tế, xã hội khởi sắc và nay giữ một vị trí quan trọng trên biển – cửa ngõ phía Nam của Tổ quốc.

Trước chuyến đi, vốn hiểu biết của tôi về Côn Đảo là không đáng kể. Tôi biết một chút về Côn Đảo qua bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” của cụ Phan Châu Trinh, biết nhiều hơn về những người tù qua cuốn tự truyện “Bất khuất” của Nguyễn Đức Thuận…

Sau chuyến đi nhận thức và cảm xúc của tôi về Côn Đảo tăng lên rất nhiều. Lịch sử thế giới vẫn nhắc đến và lên án các trại tù, trại tập trung của bọn phát xít Hít-le trong thế chiến thứ hai. Nhưng có lẽ sự tàn bạo, dã man của bọn Đức quốc xã hồi đó không thể sánh bằng “địa ngục trần gian” Côn Đảo.

Từ những gì mắt thấy, tai nghe (và cả tay sờ) cộng với nguồn tài liệu thu thập được trong chuyến đi, tôi đã viết hai bài tham luận đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học do Bộ môn tổ chức tháng 10-2004 về Côn Đảo (“Một số suy nghĩ về sự phát triển kinh tế ở Côn Đảo những năm gần đây”, “Nhà tù Côn Đảo – Một trường học cách mạng đặc biệt của những người cộng sản Việt Nam”).

Sau đó tôi cùng thầy Phạm Ngọc Phương viết chung bài – “Kinh tế huyện Côn Đảo trong những năm gần đây” đăng trên tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (số 27 năm 2005). Tôi còn mua được cuốn sách quý – “Nhà tù Côn Đảo (1862-1975)” trong chuyến đi này…

Vậy là chuyến đi không chỉ đem lại cho tôi những trải nghiệm tuyệt vời, bồi đắp cho tôi tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng mà nó còn giúp tôi có những tư liệu giá trị để tôi viết các bài báo khoa học và giảng dạy tốt hơn.

2. Chuyến đi Việt Bắc (hè năm 2006)

Chuyến đi thứ hai – Việt Bắc hè năm 2006 – cũng để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Lộ trình chuyến đi gần trùng với chiến khu Việt Bắc xưa – Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn.

 Điểm đầu tiên đoàn dừng chân nghỉ ăn trưa ở Bắc Cạn. Buổi chiều di chuyển vào khu nghỉ mát thăm quan – một danh lam thắng cảnh của núi rừng Việt Bắc là Hồ Ba Bể. Thiên nhiên nơi đây phải nói là đẹp.

Thời đi học phổ thông, tôi đã biết đến những địa danh – những cảnh quan đẹp của đất nước như Hồ Ba Bể (Bắc Cạn), thác Bản Giốc (Cao Bằng), rừng Cúc Phương (Ninh Bình), v.v… Nay đến tận nơi, thăm quan tìm hiểu Hồ Ba Bể, được đi thuyền ngắm cảnh quanh hồ, quả là kỳ thú!

Hôm sau đoàn đi Tuyên Quang vào thăm khu di tích đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào và lán Nà Lừa. Trên đoạn đường đi vào lán Nà Lừa, tôi nhìn thấy “rừng phách” được Tố Hữu “vẽ ra” trong bài thơ viết về Việt Bắc của ông: Ve kêu rừng phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình…

Do sinh trưởng ở đồng bằng nên mỗi chuyến lên rừng hay xuống biển đều gây cho tôi nhiều cảm hứng. Mỗi khi đến những nơi trước đó mình chỉ biết qua sách vở tôi đều thấy hào hứng, thích thú. Chuyến đi đem đến cho tôi những trải nghiệm thú vị về Việt Bắc, giúp tôi cảm nhận được nhiều hơn những gì trong thơ Bác:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay

Non xanh nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt chè tươi mặc sức say

Kháng chiến thành công ta trở lại

Trăng xưa, hạc cũ, với xuân này.

                         (Cảnh rừng Việt Bắc, 1947)[2]

Tôi càng thích thú hơn khi đến thăm lán Nà Lừa (Tuyên Quang), địa điểm Bác ở sau khi rời Pác Bó (Cao Bằng) xuôi về nơi mà sau này sử sách gọi là “Thủ đô gió ngàn của cách mạng”. Tại chiếc lán đơn giữa khu rừng nứa, trong những ngày tiền khởi nghĩa, Bác của chúng ta ốm nặng, sốt cao, nhiều lần mê sảng. Phòng xa nhỡ mình không qua khỏi trận ốm thập tử nhất sinh, Bác cho gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến dặn dò – khi thời cơ tới thì “dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập[3]”.

Sau chuyến đi, mỗi khi giảng đến vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh trong tâm trí tôi lại hiện lên căn lán Nà Lừa đơn sơ giữa núi rừng Việt Bắc, nơi phát sinh một trong những câu nói bất hủ của vị lãnh tụ tối cao của dân tộc: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Bài giảng của tôi trên lớp theo đó có hồn và có sức thuyết phục cao hơn…

          Đoàn quay sang thăm mái đình Hồng Thái, cây đa Tân trào. “Trăm nghe không bằng mắt thấy. Mắt thấy không bằng tay sờ”. Được tận mắt chứng kiến, tay chạm vào hiện vật, tâm trí nhớ lại điều đã học… Rất tuyệt! Hôm sau, đoàn đi Cao Bằng.

Trong đời nhiều lần tôi đã đọc bài thơ này của Bác:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang

                 (Tức cảnh Pác Bó)[4]

Giờ đây ở bên tảng đá Bác ngồi dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô ra tiếng Việt, được ngắm nhìn suối Lê Nin, non Các Mác và nhớ đến những vần thơ đầy cảm hứng của Người về Pác Bó:

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lênin, kia núi Mác

Hai tay xây dựng một sơn hà

                    (Pác Bó hùng vĩ)

Chúng tôi được uống nước nguồn từ núi Mác chảy ra, được chiêm ngưỡng chiếc giường “đặc biệt” trong hang Cốc Bó (tiếng Nùng có nghĩa là đầu nguồn), nơi Bác ở trong thời kỳ nhóm ngọn lửa cách mạng cho dân tộc.

Một thanh niên Mỹ khi tìm hiểu về Hồ Chí Minh đã thực hiện một hành trình đi từ ngọn nguồn Pác Bó qua các tỉnh xuôi về Thủ đô Hà Nội theo lộ trình trước đây Hồ Chí Minh đã đi. Anh đã ngủ một đêm trên chiếc giường của Bác trong hang Cốc Bó. Người Mỹ cảm nhận, trải nghiệm sự kiện có phần khác chúng ta…

Ở Cao Bằng đoàn còn đi thăm Thác Bản Giốc, cửa khẩu Việt Trung và sau đó di chuyển sang Lạng Sơn khảo sát về kinh tế, xã hội của tỉnh này…

3. Suy nghĩ – cảm nhận chung về đi thực tế

3.1. Những chuyến đi thực tế bổ sung một phần quan trọng cho người giảng viên, đó là những cảm nhận, cảm xúc, trải nghiệm, những tri thức từ thực tế, thực địa – những trực quan sinh động về cuộc sống, mà nếu thiếu nó, những giờ giảng, bài giảng có phần “thiếu sức nặng”… Những cảm nhận, cảm xúc, kiến thức thu được từ thực tế giúp chúng ta tự tin và thuyết phục hơn mỗi khi lên lớp.

3.2. Hai chuyến đi về hai phía – hai cực nam, bắc của Tổ quốc. Một đến nơi “Địa ngục trần gian” – Côn Đảo, một trở về cội nguồn, quê hương buổi đầu của cách mạng, của kháng chiến (chống Pháp)… Nếu không có hai chuyến đi này (và cả những chuyến đi không được đề cập trong bài viết) thì kiến thức trong tôi đa phần là sách vở, thiết hụt hơi thở của cuộc sống. Tôi không thể có những dẫn chứng từ thực tiễn và cũng thiếu những cảm hứng mỗi khi đứng trên bục giảng, bài học ít nhiều thiếu sức truyền cảm, sức thuyết phục người học.

3.3. Hôm nay, từ tấm lòng thành của mình, tôi xin nói lời cám ơn Đảng, Nhà nước, cám ơn trường Đại học Thương mại, cám ơn Khoa Lý luận chính trị, cám ơn Bộ môn Lịch sử Đảng – CNXHKH (nay là Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh) đã cho tôi những chuyến đi hết sức bổ ích và lý thú.

Tài liệu tham khảo

[01] TS Bùi Hồng Vạn: Nhà tù Côn Đảo – Trường học cách mạng của những người cộng sản Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Bộ môn về chuyến đi thực tế Côn Đảo.

[02] TS Bùi Hồng Vạn, ThS Phạm Ngọc Phương: Kinh tế huyện Côn Đảo trong những năm gần đây, Tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, số 27-2005.

[03] Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

[04] Kỷ yếu Hội nghị khoa học khoa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chuyến đi thực tế các tỉnh Việt Bắc, tháng 10 năm 2006.

[05] Mai Hương, Thanh Việt (Biên soạn): Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2000.

[06] GS Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh, tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[07] Nguyễn Ngọc Truyện (Biên soạn và tuyển chọn): Hồ Chí Minh, cứu tinh dân tộc Việt, Nxb Thanh Niên, 2008.

Hà Nội, ngày 18-10-2015


[1] – BCH Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 42.

[2]Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, 2000, tr. 641.

[3] – GS Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh, tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 345.

[4] – Dẫn theo sách Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 630-634.

Leave a Reply

Your email address will not be published.