VỀ THUẬT NGỮ “DÂN TỘC” VÀ SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC VIỆT NAM

Dân tộc là một từ Hán-Việt mới được sử dụng từ đầu thế kỷ XX trở lại đây[1]. Xung quanh khái niệm này và việc sử dụng nó rất cần được trao đổi để vận dụng cho phù hợp trong công tác nghiên cứu và giảng dạy.

Quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Việt Nam cũng là vấn đề cần được quan tâm trong nhận thức, bởi nó gắn liền với cách hiểu có sự khác biệt với quan điểm thường được hiểu theo cách định nghĩa về khái niệm dân tộc của J.V. Stalin.

01. Khái niệm dân tộc (nation), trong ngôn ngữ Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, thường được dùng theo hai nghĩa rộng và hẹp, khó phân biệt và cũng dễ gây ra sự nhẫm lẫn trong khoa học. Chúng ta nói “dân tộc Việt Nam là một”, nhưng lại cũng nói “dân tộc Việt Nam gồm dân tộc Kinh, dân tộc Mường, dân tộc Thái…”.

Khi nói như vậy chúng ta đều hiểu dân tộc Việt Nam như một cộng đồng dân tộc thống nhất gồm nhiều thành phần dân tộc và các dân tộc Kinh, dân tộc Mường, dân tộc Thái… là những dân tộc thành viên. Nhưng theo các chuyên gia nước ta (như Phan Huy Lê, Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật…) thì, đứng về mặt lô gích và thuật ngữ khoa học, tình trạng sử dụng từ ngữ như vậy là không ổn.

Từ thực tế đó, chúng ta cần xách định rõ hơn khái niệm “dân tộc” với nội dung quy định chặt chẽ để sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy được hiệu quả. Về vấn đề này, có nhà nghiên cứu đã nêu gợi ý, nên dùng khái niệm “quốc gia” hay “quốc tộc” thay cho khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp[2]. Tuy nhiên, vấn đề này cần được thảo luận và cân nhắc kỹ lưỡng hơn nữa!

Trong cuốn sách “Văn hoá Việt Nam đa tộc người”, GS Đặng Nghiêm Vạn dùng cách diễn đạt – “tộc người” để chỉ 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Ông viết: “Chúng ta là con em của 54 tộc người, của văn hoá cổ truyền với tất cả cái hay cái dở của nó…”. Đây cũng là một hướng gợi ý về việc sử dụng thuật ngữ dân tộc trong trường hợp chỉ những tộc người cụ thể.

Trong Dân tộc học, một chuyên ngành nghiên cứu về tộc người và văn hoá tộc người có sự phân biệt rõ ràng giữa thuật ngữ tộc ngườidân tộc. “Tộc người” (ethnie – tiếng Pháp, Etnoth – tiếng Nga) là thuật ngữ dùng để chỉ một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử, mang ba tiêu chí chủ yếu sau: a) Cùng chung tiếng nói; b) Cùng có chung một ý thức tự giác tộc người, biểu hiện ở một tên tự gọi chung; c) Có những yếu tố văn hoá thống nhất. Chừng nào mà một cộng đồng người mang  đầy đủ 3 tiêu chuẩn chủ yếu trên đây thì đó là một tộc người riêng biệt. Khi 3 tiêu chuẩn đó mất đi thì tộc người đó không còn tồn tại như một cộng đồng riêng biệt nữa[3].

Từ trước đến nay, nhìn chung, giới chuyên môn vẫn sử dụng định nghĩa của J.V. Stalin trình bày trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc” (1913), “Vấn đề dân tộc và chủ nghĩa Lênin” (1939). Thuật ngữ dân tộc được Stalin định nghĩa: “Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hoá”.

Định nghĩa của Stalin được nêu ra khi tổng kết sự hình thành dân tộc tư sản nên nội dung chủ yếu của nó nhằm vào loại hình dân tộc tư sản. Định nghĩa này hiện đã không còn nhận được sự tán thành của nhiều nhà khoa học Việt Nam và thế giới.

Quan điểm về dân tộc của Stalin đã chiếm địa vị độc tôn, chủ đạo trong khoa học và chính trị học mác xít – lêninnít trong gần một thế kỷ nay ở các nước XHCN và giới mác-xít toàn thế giới. Song, từ thập niên 1980, người ta nêu câu hỏi – định nghĩa của J.V.Stalin đã phản ánh đầy đủ những cơ sở và đặc trưng của mọi loại hình dân tộc chưa và có thể coi là một định nghĩa tổng quát về dân tộc không?

Ở Liên Xô, vào thập niên 1980, với những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề ethnos và nhất là sau khi Liên Xô tan rã thì định nghĩa của J.V. Stalin được nhìn nhận lại và được kết luận là không phù hợp với thực tế lịch sử[4].

Điều này được phản ánh khá đầy đủ trong các chuyên luận của Phan Huy Lê, Đặng Nghiệm Vạn. Trong chuyên luận “Cuộc thảo luận về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam”, GS Phan Huy Lê nói rõ: “Theo sự đánh giá gần đây thì định nghĩa dân tộc của J.V. Stalin không thể coi là một định nghĩa hoàn chỉnh về dân tộc nói chung vì trong đó chưa phản ánh đầy đủ những cơ sở và nhân tố tạo thành dân tộc như vai trò của nhà nước dân tộc, đặc điểm của kết cấu xã hội, sự biến đổi của dân tộc qua các hình thái kinh tế – xã hội[5]”. Còn GS Đặng Nghiêm Vạn đã chỉ ra “khái niệm đó không phù hợp, chí ít ở ba điểm”:

Thứ nhất: Khi bàn về sự hình thành hình thức cộng đồng dân tộc TBCN, tác giả (J.V. Stalin) đã mặc nhiên phủ nhận một thực tế lịch sử là đã tồn tại các hình thức dân tộc tiền TBCN.

Thứ hai: Stalin định nghĩa dân tộc (nation) với mục đích phục vụ cuộc đấu tranh bảo vệ quan điểm của những người mác-xít thời đó xung quanh vấn đề dân tộc TBCN. Vì thế, ông chỉ lưu ý đến loại hình các dân tộc có trình độ kinh tế cao, có sức mạnh chính trị, có khả năng tự mình đứng ra tập hợp các tộc người khác, thành lập các quốc gia dân tộc hay dân tộc (nation) TBCN trong ranh giới của những quốc gia dân tộc đã được xác định từ trước. Ông không nghĩ đến những trường hợp như Pháp, Đức, Ý, Thuỵ Sỹ là những quốc gia – dân tộc do nhiều tộc người khác nhauu hợp thành. Stalin đã lẫn lộn giữa hai khái niệm dân tộc (nation) và tộc người (ethnie).

Thứ ba: Sự hình thành dân tộc TBCN và dân tộc XHCN là một thực tế lịch sử. Nó diễn ra trong thời kỳ chuyển biến của một xã hội nông nghiệp, với sức lao động cơ bắp sang một xã hội công nghiệp với sức lao động bằng máy móc.

Bất kỳ một cộng đồng tộc người nào, cho dù ở trình độ văn minh cao thấp khác nhau, ở những thang bậc lịch sử khác nhau cũng bị cuốn vào con đường công nghiệp hoá, tức là con đường hình thành dân tộc (nation) kiểu mới.

Vì thế, có những con đường hình thành dân tộc khác nhau trên thế giới và với hai con đường hình thành dân tộc do J.V. Stalin nêu ra tất nhiên là không đủ. Nó mới chỉ phản ánh sự khác biệt trong sự hình thành dân tộc vào thời kỳ đầu thế kỷ XX ở Tây Âu và Đông Âu mà thôi[6].

Cũng theo GS Đặng Nghiêm Vạn, đến nay, lịch sử đã chứng kiến có nhiều con đường hình thành dân tộc khác nhau. Trên đại thể có bốn con đường là:

1. Cộng đồng dân tộc được hình thành từ một tộc người nhất định;

2. Đa phần là kiểu quốc gia dân tộc được hình thành từ hai hay ba tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội cao hơn, ở những địa thế có khả năng phát triển, bao gồm thêm những tộc người ít phát triển, ít dân số ở những miền ngoại vi;

3. Thứ ba là cộng đồng dân tộc được hình thành bằng sự tập hợp của nhiều bộ phận tộc người khác nhau, nhiều nhóm người khác nhau, ở các nước khác nhau (về tiếng nói, văn hoá, chủng tộc), điển hình là trường hợp dân tộc Mỹ;

4. Cộng đồng dân tộc được hình thành dựa trên sự tập hợp của nhiều bộ lạc, liên minh bộ lạc, tộc người, được định hình trong một quốc gia, mà biên giới của nó được CNĐQ hoạch định trên bàn của hội nghị thương lượng ở châu Âu, thường không trùng lặp với ranh giới cổ truyền của các cộng đồng người trước đây.

02. Ở nước ta, suốt từ năm 1955 đã diễn ra cuộc thảo luận về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam, lúc sôi nổi, lúc trầm lắng. Trước thập niên 1980, các nhà nghiên cứu Việt Nam căn bản thừa nhận và tìm cách vận dụng định nghĩa về dân tộc của J.V. Stalin để thảo luận về vấn đề này.

Trên đại thể có hai loại ý kiến chủ yếu về sự hình thành dân tộc Việt Nam. Trong đó, loại ý kiến thứ nhất là những người bám chắc vào định nghĩa của Stalin (Nguyễn Lương Bích, Hoàng Xuân Nhị, J. Chesnaux, A. G. Gouber…) cho rằng, chỉ từ khi có mầm mống CNTB, dân tộc Việt Nam mới bắt đầu xuất hiện.

Còn loại ý kiến thứ hai thì nhấn mạnh đến đặc thù của lịch sử Việt Nam, trước hết là yêu cầu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam có thể sớm hình thành với đầy đủ những đặc trưng theo định nghĩa của Stalin. Tiêu biểu là Đào Duy Anh, Trần Huy Liệu, Minh Tranh…

Trong giai đoạn đầu, loại ý kiến thứ nhất chiếm ưu thế, loại ý kiến thứ hai bị phê phán. Nhìn chung, các tác giả của cả hai loại ý kiến trên đều chưa thoát được định nghĩa có tính “kinh điển” của J.V. Stalin.

Về sau, người phát biểu đầu tiên nêu lên một quan điểm độc lập, xác định rõ ý kiến của Hồ Chí Minh coi “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, khác với J.V. Stalin là cố Tổng bí thư Lê Duẩn. Lê Duẩn viết (1966): “Ở Việt Nam, dân tộc Việt Nam hình thành từ khi lập nước, chứ không phải từ khi chủ nghĩa tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam[7]”.

Ý kiến này được nhiều nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đồng tình[8] và chính thức được phát biểu trong cuộc trao đổi ở Taskent (Liên Xô) năm 1982. Khi đưa ra lập luận căn cứ vào tính đặc thù của phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, phía Việt Nam muốn nhấn mạnh khái niệm dân tộc đã ra đời từ trước khi xuất hiện CNTB, nhưng cũng không phủ nhận có một hình thức dân tộc TBCN.

Giới học giả Liên Xô khi tổng kết cuộc thảo luận vấn đề hình thành dân tộc ở Liên Xô, sau khi khẳng định hai loại hình dân tộc tư sản và xã hội chủ nghĩa cũng ghi nhận đối với các dân tộc Á, Phi, Mỹ latinh mới được giải phóng khỏi ách thống trị của CNTD, con đường hình thành dân tộc có những đặc điểm cần được nghiên cứu sâu sắc và thận trọng.

Trong chuyên luận của mình GS Phan Huy Lê viết: “Sự hình thành dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc phương Đông, trước đây hoàn toàn chưa được nghiên cứu và dĩ nhiên chưa được khái quát trong những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như trong các công trình nghiên cứu về dân tộc nói chung. Vì vậy, tinh thần khoa học đòi hỏi chúng ta phải vận dụng một cách sáng tạo những luận điểm tổng quát về sự hình thành dân tộc vào những điều kiện cụ thể của lịch sử nước ta và đặc điểm chung của phương Đông[9]”.

Qua quá trình nghiên cứu và thảo luận ở nước ta, “một nhận định chung càng ngày càng được nhiều người chấp nhận là dân tộc Việt Nam hình thành sớm và thuộc loại hình dân tộc trước chủ nghĩa tư bản[10]”.

Khi bàn về vấn đề hình thành và phát triển của dân tộc ta, GS Phan Huy Lê đã cho rằng, ở Việt Nam và có thể một số nước phương Đông, quá trình dân tộc có khả năng bắt đầu sớm hơn do đặc điểm của những hình thái kinh tế – xã hội tiền TBCN của phương Đông và do những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước. Về phương diện này, bối cảnh chung của lịch sử Việt Nam nổi bật lên ba đặc điểm lớn, có ý nghĩa chi phối sự hình thành dân tộc (nation):

– Sự tiến triển của các hình thái kinh tế – xã hội tiền TBCN. Sau thời kỳ nguyên thuỷ kéo dài khoảng trên dưới nửa triệu năm, nước ta chuyển dần sang xã hội có giai cấp sơ kỳ với những đặc điểm của “hình thái Á châu” mà C. Mác và F. Enghen đã từng lưu ý. Trong xã hội đó, với quyền sở hữu toàn bộ ruộng đất của công xã là cơ sở xã hội phổ biến và bền vững.

Quan hệ bóc lột nô lệ đã xuất hiện và phát triển ở mức độ nào đó, nhưng dưới dạng chế độ nô lệ gia trưởng và không hề chiếm địa vị chủ đạo trong xã hội. Sự phân hoá xã hội tăng tiến dần nhưng chưa gay gắt. Cần lưu ý, một đặc điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam là không trải qua thời kỳ phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ.

Từ thế kỷ X, nước ta bước vào quá trình phong kiến hoá trên cơ sở của “phương thức sản xuất châu Á” để dần dần xác lập chế độ phong kiến từ thế kỷ XV. Tuy nhiên, chế độ phong kiến Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với chế độ phong kiến phương Tây. V.I. Lênin, J.V. Stalin đều không đề cập đến loại cộng đồng dân tộc hình thành trong thời kỳ phong kiến. Song ở Việt Nam tình hình có khác, chế độ phong kiến ở đây có đặc điểm riêng.

Trong quá trình phong kiến hoá, từ thế kỷ X-XV, kinh tế điền trang thái ấp chiếm một tỷ trọng nhất định, nhưng hoàn toàn không mang tính chất kinh tế lãnh địa như phương Tây. Trong khi đó, làng xã vẫn tồn tại phổ biến với quyền sở hữu đại bộ phận ruộng đất với quyền tự trị khá lớn. Nhà nước trung ương tập quyền xuất hiện sớm và là người chủ sở hữu tối cao về ruộng đất, bóc lột tô thuế và lao dịch đối với các làng xã.

Bên cạnh đó, chế độ tư hữu ruộng đất ra đời và ngày càng phát triển dẫn đến sự xuất hiện một tầng lớp địa chủ và một tầng lớp tiểu nông nhỏ bé. Từ thế kỷ XV, chế độ phong kiến được xác lập, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu ruộng đất, của kinh tế địa chủ và kinh tế tiểu nông…

Như vậy, chế độ phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển trên cơ sở bảo tồn và phong kiến hoá dần kết cấu kinh tế – xã hội của “phương thức sản xuất châu Á”. Trong chế độ đó không có giai đoạn phát triển của kinh tế lãnh địa với quan hệ lãnh chúa – nông nô, không có tình trạng cát cứ kiểu “hầu quốc”, “công quốc”…

Nhìn chung, chế độ phong kiến trong kết cấu kinh tế – xã hội và quy luật vận động nội tại của nó, không có yêu cầu và khả năng tất yếu dẫn đến sự hình thành dân tộc như CNTB. Nhưng chế độ phong kiến Việt Nam, với những đặc điểm của nó, lại không chứa đựng những yếu tố cản trở và đối lập với quan hệ dân tộc.

– Yêu cầu của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, phát triển nông nghiệp lúa nước. Nền KTVN truyền thống là một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước. Nước là yêu cầu quan trọng số một và hàng đầu cho cây lúa sinh trưởng, phát triển. Để phát triển nền nông nghiệp trồng lúa nước, nhân dân ta phải xây dựng những công trình trị thuỷ và thuỷ lợi nhằm chống thiên tai, bảo đảm nguồn nước cho cây trồng này.

Công cuộc chinh phục thiên nhiên, phát triển nông nghiệp đòi hỏi các đơn vị sản xuất bấy giờ là các gia đình nhỏ, phải sớm quần tụ trong những cộng đồng nhỏ là làng xã (công xã nông thôn). Và nhiều làng xã phải tập hợp lại trong một cộng đồng lớn hơn là nước, quốc gia với một cơ cấu nhà nước tập quyền có khả năng xây dựng và quản lý các công trình trị thuỷ và thuỷ lợi.

Trong lịch sử nước ta, từ khi có nhà nước đầu tiên cho đến nay, hệ thống trị thuỷ (đê điều – đê sông, đê biển) và thuỷ lợi luôn được nhà nước đặc biệt quan tâm. Một hệ thống đê, mương kênh dẫn nước tưới, tiêu cho ruộng đồng được xây dựng, phát triển. Trong công cuộc khai hoang và đắp đê, làm thuỷ lợi, nhà nước tập quyền và công xã nông thôn luôn giữ vai trò tổ chức và quản lý rất quan trọng.

Khi nào chức năng kinh tế đó được phát huy thì nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế có điều kiện phát triển thuận lợi… Có thể nói, từ công cuộc chinh phục thiên nhiên và phát triển nông nghiệp, đã đề ra yêu cầu khách quan thúc đẩy sự liên kết cư dân trong cộng đồng làng xã và quốc gia.

Đó là đặc điểm chung của phương Đông, nhưng trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới gió mùa và nền nông nghiệp trồng lúa nước, yêu cầu trên đặt ra có phần bức thiết hơn trong cuộc sống và trong lịch sử Việt Nam.

– Yêu cầu chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc. Trong vòng 22 thế kỷ, Việt Nam đã tiến hành 15 cuộc chiến tranh giữ nước, và hơn 100 cuộc khởi nghĩa giành độc lập, với thời gian chống ngoại xâm lên đến trên 12 thế kỷ, chiếm quá nửa thởi gian lịch sử. Đối với Việt Nam, nạn ngoại xâm gần như một mối đe doạ thường xuyên. Dựng nước luôn đi đôi với giữ nước là một đặc điểm bao quát của toàn bộ lịch sử từ khi dựng nước đến nay, có tác động đến mọi mặt đời sống và tiến trình lịch sử.

Cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập của Việt Nam thường diễn ra trong tương quan lực lượng chênh lệch và rất ác liệt. Chiến tranh bao giờ cũng là thử thách khốc liệt và toàn diện nhất đối với sức sống của dân tộc. Điều kiện chống ngoại xâm đòi hỏi nhân dân Việt Nam luôn luôn phải củng cố sự thống nhất quốc gia, thắt chặt sự đoàn kết dân tộc. Thực tế lịch sử đã chứng minh rõ, trong hoàn cảnh Việt Nam, độc lập phải gắn liền với thống nhất quốc gia.

Ba đặc điểm lớn trên đây liên kết với nhau quy định con đường hình thành và phát triển của các loại hình cộng đồng người trong lịch sử Việt Nam. Ba đặc điểm này cũng là ba nhân tố có vai trò quan trọng thúc đẩy sự hình thành sớm và sự phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

03. Tóm lại, quan điểm của J.V. Stalin về khái niệm dân tộc đã chi phối mọi nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn có liên quan đến vấn đề dân tộc ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây.

Tuy nhiên, quan điểm này từ thập thiên 1980 trở đi đã được nhận thức lại và được khẳng định là không hoàn toàn phù hợp với thực tế lịch sử hình thành, phát triển của nhiều cộng đồng dân tộc trên thế giới, nhất là đối với các nước phương Đông trong đó có Việt Nam. Với những đặc điểm riêng của lịch sử, cộng đồng dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển sớm hơn so với sự ra đời, phát triển của nhiều cộng đồng dân tộc ở phương Tây.

Tài liệu trích dẫn

[1] – Phan Huy Lê: Tìm về cội nguồn (In lần thứ hai có chỉnh lý), Nxb thế giới, 2011, tr. 401.

[2] – Vương Hoàng Tuyên: Vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam, Báo cáo khoa học tại Hội nghị toàn quốc ngành lịch sử các trường đại học, tháng 6-1979 tại thành phố Hồ Chí Minh.

[3] – GS Phan Hữu Dật: Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia HN, 1998, tr. 455.

[4] – Ý kiến của J.V. Stalin công bằng mà nói cũng là phản ánh ý kiến của giới khoa học đương thời, khi chưa có sự phân biệt khái niệm dân tộc (nation) và tộc người (ethnie).

[5] – Chuyên luận này được in lại trong cuốn sách Tìm về cội nguồn, Nxb Thế giới, 2011, tr.379.

[6] – Đặng Nghiêm Vạn: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2003, tr. 27.

[7] – Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1966, tr.176.

[8] – Đặng Nghiêm Vạn: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb ĐHQG – TPHCM, 2003, tr.18.

[9] – Phan Huy Lê: Tìm về cội nguồn, Nxb Thế giới, 2011, tr. 380.

[10] – Phan Huy Lê: Tìm về cội nguồn, Nxb Thế giới, 211,  tr. 385.

TS Bùi Hồng Vạn

Leave a Reply

Your email address will not be published.