THĂM VĂN MIẾU MAO ĐIỀN

Hình minh họa

1. Văn miếu là hiện tượng văn hoá xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Sau khi Khổng Tử chết, triều đình phong kiến cho sửa lại nơi ông ở để thờ cúng, gọi là Văn miếu. Cùng với sự phát triển, lan toả của Nho giáo, nhiều nước châu Á (Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) cũng dựng Văn miếu.

Trên đất nước ta hiện còn nhiều Văn miếu tồn tại rải rác khắp ba miền, đó là  Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Vinh, Văn Thánh Miếu (ở Thừa Thiên – Huế), Văn Miếu Diên Khánh (Khánh Hoà) và Văn Miếu Trấn Biên (ở Biên Hoà, Đồng Nai). Trong đó, Văn Miếu Mao điền đứng thứ hai về sự nổi tiếng sau Văn Miếu Quốc tử giám (Hà Nội).

Di tích thuộc xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Nhưng xưa kia, Văn Miếu Mao Điền thuộc trấn Đông – một trong tứ trấn (Đông, Nam, Đoài, Bắc) bao quanh Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Văn Miếu Mao Điền là sự tiếp nối Văn Miếu trấn Hải Dương xưa. Văn miếu Hải Dương được xây dựng từ thời Lê Sơ (thế kỷ XV) tại xã Vĩnh Lại, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình Giang). Cùng thời kỳ này, trường thi Hương cũng được xây dựng tại xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng. Thời Tây Sơn (1788-1802), Văn Miếu được di chuyển về xã Mao Điền và nhập vào trường thi Hương ở đây thành một thực thể văn hoá mới.

Vào năm 1807 (thời gia Long), chính quyền và dân địa phương đã triển khai xây dựng Khải Thánh từ (thờ cha mẹ Khổng Tử), gác Khuê Văn, hai nhà Giải Vũ với hai lầu chuông, khánh đối xứng nhau. Đến thời Minh Mệnh, Văn miếu được đại tu trở thành một địa danh văn hoá lớn, nơi diễn ra các hoạt động tế lễ, học hành đông vui. Vậy là, Văn miếu Mao Điền vốn là một trường học nay trở thành trường thi của vùng. Nơi đây đã góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho địa phương và cả nước; đồng thời đây cũng là một trong những địa phương tích cực góp phần nêu cao, phát huy truyền thống “hiếu học”, “tôn sư trọng đạo” của dân tộc ta.

Theo dòng lịch sử, đến năm 1947, Văn Miếu Mao Điền còn khá nguyên vẹn với hai toà nhà Tiền tế, Hậu cung theo kiến trúc kiểu chữ Nhị (=), mỗi toà 7 gian, nhà Đông vu. Do ảnh hưởng của chiến tranh và khí hậu, đến thập niên 1980, di tích xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1991, nhân dân xã Cẩm Điền đã đóng góp công sức tiền của tu bổ lại di tích. Năm 1992, Văn Miếu Mao Điền được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Trong khoảng thời gian từ tháng 6-2002 đến tháng 4-2004, UBND tỉnh Hải Dương đã tiến hành trùng tu và tôn tạo di tích này với quy mô lớn, tái tạo lại gần như diện mạo xưa của Văn Miếu[1].

Hiện nay, du khách đến thăm quan sẽ được chiêm ngưỡng quần thể khu di tích Văn Miếu Mao Điền, bao gồm: Nhà Tiền tế và Hậu cung. Trong Nhà Tiền tế đặt ban thờ công đồng, bên trên có hàng chữ: “Văn hiến tư tại (Văn hiến ở nơi đây) và bên cạnh là danh sách 637 Tiến sĩ Nho học của trấn Hải Dương. Hậu cung là nơi đặt bài vị, bàn thờ các danh nhân nổi tiếng là: Đức Khổng Tử, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Tuệ Tĩnh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Hữu và Nguyễn Thị Duệ (nữ tiến sỹ đầu tiên của nước ta)

2. Để hiểu sâu sắc hơn về Nho học xưa, chúng ta cần có những hiểu biết nhất định về Nho học từ nơi phát sinh ra nó (Trung Quốc). Nho giáo phát sinh từ Trung Hoa cổ đại. Khổng Tử được xem là thuỷ tổ của trào lưu tư tưởng này. Nhưng thực ra, trước thời Ngài đã có những tư tưởng triết học, đạo đức, chính trị theo khuynh hướng Nho giáo. Khổng Tử chỉ là người có công san định, hệ thống hoá để tạo nên hệ thống tư tưởng – về sau mang tên Nho giáo (hay Khổng Giáo). Chuyện này được nhà Đông phương học người Pháp H. Mát-pê-rô (H. Maspéro) nói rõ trong cuốn Đạo giáo và các tôn giáo ở Trung Quốc của ông:

“Từ nhiều trăm năm trước công nguyên, các vương hầu lúc nào cũng phải sử dụng một số người có học thức để làm văn thư. Mặt chữ khó, còn viết trên gỗ, trên đá, vương hầu dốt nát và không chịu khó, càng phải nhờ cậy người hay chữ, những người này làm đủ các việc quan trọng nhưng mà không có chức vị lãnh đạo triều chính như vương hầu. Tình hình đó làm nảy sinh trong óc người hay chữ cái ý muốn thấy một chế độ xã hội, trong đó các tể tướng, các quan to được lựa chọn không theo dòng họ mà theo tài ba. Cho nên, họ điểm tô một thời quá khứ rất tốt đẹp – thời vua Nghiêu chọn Thuấn là người hiền làm vua chứ không chọn con mình. Rồi từ đó lần lần họ tạo thành một học thuyết về đạo lý, về cai trị, lấy Nghiêu, Thuấn làm điển hình. Theo lý thì tư tưởng này gọi là Nho giáo và nảy nở với thời Chu do các nhà học thức kể trên ghi chép trong phong tục tập quán, văn học của đất nước và cả những ước vọng riêng của họ nữa. Đến thời Xuân Thu loạn lạc, nhằm vãn hồi hoà bình, Khổng Tử hệ thống hoá và phát huy những tư tưởng triết lý, đạo đức, cai trị đã có. Những tư tưởng này về sau, khi các trường phái Dương Mặc nổi lên thì được gắn liền với tên tuổi của Khổng Tử, do đó Nho giáo cũng gọi là Khổng giáo”[2].

Nho giáo du nhập nước ta ngay từ đầu công nguyên. Suốt ngàn năm Bắc thuộc, Nho giáo được quan lại, những người Hán di cư sang nước ta truyền bá. Nhiều người Việt đã học và đi thi theo Nho giáo. Trước khi trở thành quốc giáo (từ thế kỷ XV), Nho giáo tồn tại hoà bình cùng với hai trào lưu tư tưởng lớn khác là Phật giáo và Đạo giáo (Lão giáo), tạo thành cái mà một số nhà nghiên cứu gọi là hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”.

Trong thời Lý–Trần, Phật giáo phồn thịnh nhất, “đạo Phật là quốc đạo, chẳng những dân tu mà vua cũng tu”[3]. Nhưng cuối Trần, Đạo Phật mất dần vai trò quốc giáo, đồng thời Nho giáo nổi lên công kích, lấn át và soán ngôi quốc giáo của Phật giáo. Nho giáo trở thành công cụ mà giai cấp địa chủ phong kiến sử dụng để trị quốc, suốt mấy trăm năm từ Lê đến Nguyễn (Gia Long).

Từ thời nhà Lê sơ, giáo dục theo mô hình Trung Quốc đã được nhà nước phong kiến chú trọng. Năm 1428, Lê Lợi cho lập Quốc tử giám ở kinh thành và nhiều trường học ở các đạo. Quốc tử giám là nơi dành riêng cho con em các quan chức to và một số học sinh ưu tú con thứ dân được tuyển qua các kỳ sát hạch ở các đạo.

Trường học ở các đạo thì mở rộng cửa cho con cái của bất kỳ ai có thể đi học được. Chính từ chủ trương này mà nhiều địa phương có điều kiện mở trường, Văn miếu Mao Điền và các Văn miếu ở một số nơi khác đã xuất hiện trong bối cảnh văn hoá – điều kiện lịch sử đó của nước ta.

Năm 1483, Lê Thánh Tông cho xây dựng lại Văn Miếu (Quốc tử giám) và lập nhà Thái học. Nhà này vừa là giảng đường, vừa là thư viện, đồng thời là nơi bảo quản các bản in gỗ quan trọng, ở đây còn có chỗ nội trú cho học sinh. Nhiều thầy đồ và hưu quan mở trường dạy học ở thôn xã. Sĩ tử ngày càng đông, kẻ sĩ dần trở thành một tầng lớp quan trọng trong xã hội.

Ngay từ năm 1434, nhà Lê bắt đầu quy định thể lệ thi cử. Năm 1442, nhà nước mở khoa thi đầu tiên, lấy đỗ 33 tiến sĩ, trong số này có một trạng nguyên, một bảng nhãn, một thám hoa (gọi là “tam nguyên”). Cũng thời kỳ này, để khuyến khích việc học hành, thi cử triều đình đặt lệ xướng danh và vinh quy.

Hai lệ này đã kích thích mọi người trong xã hội đua nhau học giỏi để được ghi danh bảng vàng, được cấp phát áo mão và vinh quy bái tổ về làng. Nhà nước căn cứ vào mức đỗ đạt để bổ nhiệm các chức quan. Đỗ càng cao thì chức càng to, quyền lợi cho bản thân, gia đình, dòng họ và cả làng xóm nữa càng nhiều. Năm 1480, vua Lê Tháng Tông định lệ dựng bia đá ở Văn Miếu, ghi lý lịch các vị tiến sĩ từ khoá 1442 trở đi. Như vậy, học giỏi, đỗ đạt cao thì trở thành như “bất tử”, bia đá muôn thuở nêu danh.

Học và thi Nho giáo dưới triều Lê sơ dần đi vào quy củ. Ở các đạo, cứ ba năm một kỳ thi hương; ở kinh thành ba năm một kỳ thi hội. Ngoài ra không định hạn, triều đình mở các cuộc thi “Minh kinh”, “Nho thần” nhằm kiểm tra học lực của quan lại, Thỉnh thoảng mở kỳ thi “Lại điển” thi hai môn viết chữ và làm toán để tuyển lựa thư lại viên chức cho triều đình.

Học và thi trở thành chỗ ganh đua của đông đảo thần dân trong xã hội, thành nấc thang trèo lên cao trong xã hội phong kiến. Chỉ tính thời trị vì của Lê Thánh Tôn, trong 37 năm, triều đình đã mở 12 khoa thi hội, lấy 501 tiến sĩ. Kỳ thi hội năm 1475, có đến 3.000 thí sinh; kỳ thi hương năm 1462, ở riêng trấn Sơn Nam số trúng tuyển có khoảng 1.000 người[4].

Học hành, thi cử theo mô hình Nho giáo được duy trì và phát triển suốt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. Tài liệu học và thi là hai bộ sách kinh điển – Ngũ kinh và Tứ thư của Trung Quốc. Hai bộ kinh điển đã có ảnh hướng rất lớn đến đời sống văn hoá giáo dục ở Việt Nam. Nhiều tác phẩm Nho giáo của Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm đã lấy Tứ thư và Ngũ kinh làm đối tượng trực tiếp để nghiên cứu, luận giải về tư tưởng Nho giáo.

Trong lịch sử, từ khi đạt tới độ cực thịnh dưới thời Lê sơ, Nho giáo và Nho học đã chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ thiết chế nhà nước, hoạt động chính trị đến kinh tế, quân sự, văn học nghệ thuật, kiến trúc, đạo đức tín ngưỡng, giáo dục khoa cử, v.v… Ảnh hưởng của Nho giáo từ các sĩ phu trí thức lan toản đến mọi tầng lớp nhân dân, trở thành phong khí xã hội, lâu dần thành phong tục tập quán trong dân gian[5].

Bộ Ngũ kinh được Khổng Tử san định để dạy học trò. Trong đó, Kinh Thi là bộ giáo trình chính trị – luân lí hàng đầu của Trung Quốc cổ đại. Nó được coi là văn bản “kinh phu phụ, thành hiếu kính, hậu nhân luân, mỹ giáo hoá, di phong tục” (Uốn nắn đạo vợ chồng, hình thành lòng hiếu kính, xây đắp nhân luân, tô đẹp giáo hoá, đổi thay cả phong tục). Còn Kinh Thư bao gồm những cáo (chính lệnh), Thệ (quân lệnh), mệnh (chỉ thị), huấn (báo cáo với cấp trên), mô (lời bàn mưu) của vương thất hai đời Thương Chu, được sử quan ghi lại và được biên soạn, bảo tồn như những hồ sơ lưu trữ, có thể xem là tổng tập văn kiện quan phương cổ xưa nhất của (Trung Quốc).

Lễ (Kinh) vốn là lời xướng trong lễ tế tôn giáo, dùng để tỏ rõ quan hệ tôn ti trên dưới của những người tham gia điển lễ và những hình thức “lễ” như nghi trình vũ nhạc để biểu hiện sự kính trọng đối với tổ tông thần linh. Kinh Dịch, vốn là tên chung của các sách bói thời Thượng cổ ở Trung Quốc. Về sau các sách này thất truyền chỉ còn lại bản thời nhà Chu, gọi là Chu Dịch. Kinh Dịch đứng đầu các Kinh và có một quá trình diễn sinh lâu dài.

Tác giả của Kinh Dịch gồm rất nhiều người (có danh và vô danh) sáng tác, sưu tập chỉnh lý trong suốt một thời gian dài dằng dặc. “Dịch” có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa biến dịch là cơ bản nhất. Kinh Dịch kiến tạo được một hệ thống lý luận hoàn bị, với một hệ thống khái niệm, phạm trù độc đáo có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Giới học giả coi Kinh Dịch là một pho sách triết học uyên thâm bác đại, có ảnh hưởng sâu xa đến các ngành học của Trung Quốc xưa.

Cuối cùng là Kinh Xuân Thu. Đây là tên gọi chung của quốc sử biên niên các nước chư hầu từ cuối nhà Tây Chu đến thời Đông Chu. Tên Xuân Thu lấy theo hai mùa “xuân” và “thu” ghép lại với ý nghĩa là “hằng năm”. Xuân Thu được coi là bộ sách có ý nghĩa cao xa nhất trong Ngũ Kinh, vì nó là bộ biên niên sử đầu tiên, hơn thế nó chép việc thiên về “bình đoán” (bình luận và phán xét), sự bình luận phán xét này được biểu đạt bằng một hình thức được mệnh danh là “bút pháp Xuân Thu”. Mỗi Kinh có nét đặc sắc, công năng riêng; nhưng chúng đều có đặc trưng chung là khuynh hướng nhân văn và phong cách hiện thế rõ rệt, ít có màu sắc và ham muốn xuất thế thoát tục[6].

Tứ thư gồm: Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung, Đại học. Trong đó: Nội dung của Đại học là “Tam cương lĩnh, Bát điều mục” (Tam cương lĩnh: Minh minh đức, Thân dân, Chỉ chí thiện; Bát điều mục: Cách vật, Trí tri, Thành ý, Chính tâm, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ). Còn Trung dung là sách do Tử Tư (cháu Khổng Tử) làm ra. Nội dung chính của sách này bàn về Trung dung, Trung hoà, chí Thành; bàn về sự tu dưỡng, về đạo trị thiên hạ…

Luận ngữ là những lời của Khổng Tử trả lời học trò và người đương thời, cùng những lời các học trò hỏi đáp với nhau để tiếp nhận lời của thầy, được các học trò ghi lại. Bộ Luận ngữ hiện lưu hành do Chu Hy tập chú, trong đó trình bày lời nói sâu sắc, rất có giá trị của Khổng Tử đề cao việc học tập, giáo dục, xử thế, đạo làm người, đạo làm thầy… Sách Mạnh Tử do Mạnh Tử soạn, nội dung bàn về đạo đức, nhân nghĩa ở tầm vĩ mô (“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, v.v…).

Ngũ Kinh, Tứ Thư có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Người theo Nho học xưa phải học Tứ Thư, Ngũ Kinh để đi thi. Nếu đỗ đạt được bổ nhiệm vào hệ thống quan lại của nhà nước thì đó là cẩm nang để họ hành xử trong công việc và trong cuộc sống. Ở Việt Nam, bộ Tứ Thư được Chu Văn An đời Trần biên soạn làm tài liệu dạy học gọi là Tứ Thư thuyết ước. Sách này giá trị, nhưng tiếc đã thất truyền…

Một trong những đóng góp nổi bật của Nho giáo là chú trọng giáo dục. Nho học chủ trương lấy đức dục làm gốc, trí dục làm ngọn. Mô hình giáo dục này có những ưu điểm nhưng đi kèm là những hạn chế. Vì không chú trọng nhiều đến những kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật cùng với lối dạy học tầm chương trích cú nên căn bản không tạo được những con người năng động, sáng tạo có khả năng đột phá để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ. Có thể nói, đây là điểm yếu cốt tử của nền giáo dục cũ theo cách nhìn hiện đại – phương Tây. Nhưng nền giáo dục và khoa cử Nho học đề cao tinh thần hiếu học, coi trọng việc học và đạo đức làm người lại là những mặt ưu điểm vượt trội mà nền giáo dục phương Tây cần tham cứu, học hỏi. 

3. Văn Miếu Mao Điền – một trong những biểu tượng cho nền giáo dục xưa – giáo dục Nho giáo của dân tộc. Thăm Văn Miếu Mao Điền là ta ngược dòng lịch sử, trở lại với cội nguồn văn hiến của đất nước. Hồi tưởng và suy ngẫm về Nho học chúng ta thấy, tuy nền giáo dục này có những khiếm khuyết; nhưng nó đã góp phần giúp dân tộc ta tồn tại, phát triển trong hàng ngàn năm lịch sử… 

Tài liệu tham khảo

01.  Ban QLDT huyện Cẩm Giàng: Văn Miếu Mao Điền trấn Hải Dương, Sở Văn hoá thông tin Hải Dương, tháng 11-2012.

02.  http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/1705-1776-633438673312773750/100-loi-giai-dap-ve-van-hoa-Viet-Nam/Van-Mieu-la-gi.htm.

03.  Nguyễn Hiểu: Văn miếu nào cổ nhấthttp://petrotimes.vn/van-mieu-nao-co-nhat-viet-nam-213241.html

04.  PGS.TS Đinh Khắc Thuân: Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam (qua các tài liệu Hán Nôm), Nxb Khoa học xã hội, 11-2009.

05.  Trần Quốc Vượng: Văn hoá Việt Nam, Nxb Thời đại & Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, 2013.

06.  GS.NGND Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

07.  Nguyễn Q. Thắng: Khoa sử & Giáo dục Việt Nam, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2005.

08.  Trần Văn Giàu: Tổng tập, Tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám, Nxb Quân đội nhân dân, 2008.

09.  Viện nghiên cứu Hán Nôm: Ngữ văn Hán Nôm, Tập 2, Ngũ kinh, Nxb Khoa học xã hội, 2004.

10.  Viện nghiên cứu Hán Nôm: Ngữ văn Hán Nôm, Tập 1, Tứ thư, Nxb Khoa học xã hội, 2004.

11.  Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, Viện Harvard-Yenching Hoa Kỳ: Nghiên cứu Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành, Nxb Thế giới, 2009.

                                                    Ngày 20/12/2015

                                                  TS. Bùi Hồng Vạn


[1] Ban QLDT huyện Cẩm Giàng: Văn Miếu Mao Điền trấn Hải Dương, Sở Văn hoá thông tin Hải Dương, tháng 11-2012. 

[2] Trần Văn Giàu: Tổng tập, Tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám, Nxb Quân đội nhân dân, 2008, tr. 48.

[3] GS.NGND Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 123. 

[4] Trần Văn Giàu: Tổng tập, Tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám, Nxb Quân đội nhân dân, 2008, tr. 59.

[5] Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, Viện Harvard-Yenching Hoa Kỳ: Nghiên cứu Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành, Nxb Thế giới, 2009, tr. 8. 

[6] Trần Văn Giàu: Tổng tập, Tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám, Nxb Quân đội nhân dân, 2008, tr. 71.

Leave a Reply

Your email address will not be published.