“Một số vấn đề về các ngành nghề – làng nghề – phố nghề truyền thống Việt Nam”

Cố GS. Trần Quốc Vượng là một học giả nổi tiếng của Việt Nam (và thế giới) về sử học, khảo cổ học, văn hóa học. Những di sản ông để lại thật đáng/sáng giá…

Để giúp các bạn sinh viên Đại học Thương mại có thêm tài liệu tham khảo khi học môn Lịch sử kinh tế Việt Nam, tôi trích đăng một số nội dung trong bài báo “Một số vấn đề về các ngành nghề – làng nghề – phố nghề truyền thống Việt Nam” ông công bố năm 1996…

II. Lịch sử và hiện trạng

1. Cái hằng số lịch sử là, cho đến nay, nước ta vẫn thuộc về phạm trù văn minh nông nghiệp (nói rõ hơn: xã hội trồng lúa nước – growing society). Nhìn theo kinh tế, bây giờ ta khá dễ dàng thống nhất về diễn trình lịch sử nhân loại qua 4 chặng:

  • Thu lượm (collecting)
  • Nông nghiệp (trồng trọt + chăn nuôi)
  • Công nhiệp (ở phương Tây từ XVII-XVIII)
  • Hậu công nghiệp – hay có những cách gọi khác (công nghiệp mới, tin học… ở phương Tây và một số nước – lãnh thổ phương Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng K ông – singapore, Đài Loan…).
  • Việt Nam đang ở chặng 2 và nay muốn vươn lên – sau vài chục năm công nghiệp hóa, hiện đại hóa – theo kịp các nước tiên tiến ở chặng 4 (dự kiến khoảng năm 2020 Việt Nam sẽ là một nước công nghiệp). Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn nhắc chúng ta về “nguy cơ tụt hậu”.

2. Có con người là có văn hóa và có sản phẩm văn hóa, trong đó có các sản phẩm thủ công.

2.1. Theo một số tài liệu khảo cổ học (từ hàng triệu đến hàng vạn năm cách ngày nay), ngay từ thời tiền sử đá cũ đã có ít nhất 12 nguyên liệu được dùng trong các sản phẩm của CON NGƯỜI mà nay ta gọi là sản phẩm thủ công, ví dụ như:

  • ĐÁ – ĐẤT (thổ hoàng…)
  • TRE – MÂY – SONG…
  • GỖ CÁC LOẠI, kể cả vỏ cây, gáo dừa…
  • XÀ CỪ (vỏ trai, ốc…)
  • XƯƠNG
  • SỪNG
  • Da động vật, kể cả vỏ trứng…

2.2. Từ thời Đá Cũ qua thời ĐÁ MỚI (ngàn vạn năm) sang thời ĐỒNG – SẮT (mấy ngàn năm)… hình loại nguyên liệu ngày càng mở rộng (đúc đồng và đồng thau, rèn sắt, gang, thép…), từ nguyên liệu tự nhiên đến nguyên liệu nhân tác, nhân vi (gốm, sành, bán sứ và sứ tráng men, hợp kim đồng, chì, thiếc của trống đồng và đồ đồng Đông Sơn, v.v…) cho đến nguyên liệu tổng hợp (như plastic, cao phân tử…) hiện nay.

F. Engels và sau đó nhiều nhà khảo cổ như Gordon Childe coi sự xuất hiện NGHỀ NÔNG – kèm theo nghề GỐM (10.000 – 6.000 năm cách ngày nay) là một cuộc cách mạng: Cách mạng ĐÁ MỚI hay ĐÁ NÔNG (agrolithique).

2.3. Đến thời đại sơ kỳ kim khí (đồng – thau – sắt khoảng 6.000 – 3, 4.000 năm cách ngày nay) lại là một cuộc cách mạng khác: cách mạng kim loại, cách mạng chữ viết, cách mạng nhà nước, v.v…

F. Engels nói: “Khi người ta nấu chảy đồng thì cũng nấu chảy luôn xã hội cộng đồng nguyên thủy!” (Xem Chống Đu-rinh). F. Engels và nhiều học giả trước/sau cũng cho đó là thời hạn chuyên biệt hóa (specialissation, differentiation) nghề thủ công với nghề nông rồi sự ra đời của đô thị (“cách mạng đô thị”) với sự chuyên biệt hóa nghề THƯƠNG. SĨ-NÔNG-CÔNG-THƯƠNG là “tứ dân” của xã hội nông nghiệp cổ truyền Á Đông, trong đó có xã hội quân chủ Việt Nam.

2.4. Làng Việt Nam chủ yếu là làng của tiểu nông mà sau đó hay gần như đồng thời với nó có sự chuyên biệt thành:

  • Làng ruộng
  • Làng vườn (như ở Nam Bộ)
  • Làng nghề (Bát Tràng, Triều Khúc, Kim Bồng, Làng Vân…)
  • Làng buôn (Đồng Kỵ, Đa Ngưu, Đình Bảng, Phú Thị…)
  • Làng Chài (các vạn chài ven sông, ven biển).

2.5. Ta hãy thử đưa ra một định nghĩa về làng nghề. Theo chúng tôi hiểu, gọi là một làng nghề (như làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh…), làng đồng (Bưởi, Vó, Hè Nôm, Thiệu Lý, Phước Kiều…), làng giấy (vùng Bưởi, Dương Ổ…), làng rèn sắt (Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội, v.v…) là làng ấy, tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (lợn, gà…), cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm nương, làm đậu phụ…), song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định, “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị (marketing) với một thị trường vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô (Kẻ Chợ, Huế, Sài Gòn…) và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài (Theo thống kê khảo cổ học, hiện có 23 địa điểm ở Đông Nam Á tìm thấy đồ gốm sứ Việt Nam, chưa kể Nhật Bản).

Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một quá khứ trăm, ngàn năm), “dân biết mặt, nước biết tên”, tên làng đã đi vào lịch sử, vào cao dao, tục ngữ… trở thành di sản văn hóa dân gian.

3. Có làng, có quan hệ liên làng (qua chợ tổng, chợ bến, chợ huyện, chợ tỉnh, có lễ hội chung thờ Thần – Thánh, Tổ sư nghề nghiệp nhiều làng…) và cũng có những quan hệ siêu làng gắn cá nhân – họ hàng – xóm làng ấy với vùng miền và đất nước (Ngả Bảy ở thành phố Hồ Chí Minh với nghề dệt gốc Duy Xuyên xứ Quảng Nam).

4. Khi đô thị – kẻ Chợ – Kinh Đô và các cảng – thị (giang cảng – phố Hiến, hải cảng – Vân Đồn, Hải Phòng, Bến Thủy, Hội An, cù lao Phố, Sài Gòn, Cần Giờ, Vũng Tàu…) xuất hiện trở thành nơi hội tụ người tài, nghề hay, nghề giỏi, với vành đai làng nghề, làng rau – hoa quả.

4.1. Hà Nội có những làng nghề ven đô như “The La”, “Lĩnh Bưởi”, “Sù Gạ thì giỏi chăn tằm”, “gốm Bát Tràng (sử biên niên ghi từ thế kỷ XII). Vùng Huế có các phường đúc (Long Thọ) và nón “Bài thơ” làng sơn, làng tranh dân gian, làng khảm gỗ với các thợ Song Sãi, Sịa, Sình… Vùng Hội An có làng mộc Kim Đồng, làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà, làng/tổng Yến Sào Thanh Châu, v.v…

4.2. Có hội tụ và có lan tỏa. Có cái nội sinh và có cái ngoại sinh được hội nhập vào văn hóa Việt Nam. Để tạo nên truyền thống “khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ”, “ngát thơm hoa sói hoa nhài, khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ”, v.v…

4.3. Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội (chẳng hạn) đã tách cái tổng thể “một là ba” – “ba là một” ra thành ba bước nghiên cứu. Cũng về cơ bản là ba thời kỳ lịch đại (diacronic) là:

  • Ngành nghề
  • Làng nghề
  • Phố nghề

“Khu phố cổ Hà Nội” (“36 phố phường”) bao gồm nhiều phố nghề: phố Hàng Đào nhuộm điều, phố Hàng Bạc đúc bạc, làm đồ trang sức (kim ngân, kim hoàn), phố Hàng lam – Hàng Ngang nhuộm lam, phố hàng Vải Thâm hội tụ dân: “Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu/ Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê cầu nhuộm thâm”.

Rồi nào là phố Lò Rèn gốc Canh Diễn, phố hàng Sơn, rồi phố Chả Cá Lã Vọng gốc Hải Dương, phố Hàng Mành gốc “rừng Mành Tam Tảo” (Hà Bắc), phố Hàng Quạt gốc Đào Quạt – Thiện Phiến, Hưng Yên, Ngũ Xã đúc đồng gốc Hè Nôm (Văn Lâm, Hải Hưng): “Đồng nát lại về Cầu Nôm/Con gái nỏ mồm về ở với cha”, v.v. và v.v…

4.4. Vậy, về mặt lịch sử, các “phố nghề” (thường có chữ đầu “Hàng” = sản phẩm, thương phẩm) là sự di chuyển một bộ phận các làng nghề ở vùng Kẻ Quê ra Kẻ Chợ. Ở đây có sự ganh đua, sự cạnh tranh để sinh tồn và phát triển… tạo nên một/nhiều yếu tố kích thích, để thợ thủ công cải tiến tay nghề, thay/đổi mới mẫu mã, khôn khéo “chào hàng” (tiếp thị), mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Từ đó có sự phân biệt (tách ra) giữa “thợ thầy Kẻ Chợ” với thợ vườn kẻ quê.

4.5. CÓ PHỐ NGHỀ (vừa sản xuất vừa bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ) nhưng ở mỗi đô thị – thủ phủ vùng (Huế, Sài Gòn…) hay ở Thủ Đô… đều có một vành đai các làng nghề RAU – HOA – QUẢ và làng nghề thủ công cung ứng các nhu cầu cấp thiết của thị dân phường phố. Tây Hồ, Vạn Phúc… chẳng hạn, dệt lụa song cần đem ra Phố Hàng Đào bán hay nhuộm điều (và các màu khác). Hoa – Rau Đà Lạt tràn ngập thị trường Sài Gòn, Hà Nội. Thợ thủ công Huế, Hội An, Hà Nội từ sau thời đổi mới và cơ chế thị trường hội tụ về thành phố Hồ Chí Minh ngày càng nhiều. Và Huế, chẳng hạn, đã rung chuông báo động “chảy máu” nghệ nhân “bàn tay vàng”. Đô thị là nơi hội tụ, hội nhân, hội thủy bộ, hội các mặt hàng đem bày bán ở các chợ và các PHỐ (gốm sứ Biên Hòa, gốm sứ mài Thủ Dầu Một, Sông Bé…).

5-6-7. Đã có nhiều chỉ thị và văn bản pháp quy nhằm khuyến khích, phục hồi và phát triển các ngành nghề…

Có nghĩa là chúng ta, và cùng chúng ta, UNESCO nhận thức việc suy thoái của nghề, làng nghề, phố nghề với rất nhiều nguyên nhân, như sự biến đổi cơ cấu kinh tế, xã hội, biến động về chính trị kinh tế, tôn giáo, biến đổi môi trường, sự “thờ ơ” của một bộ phận giới trẻ với di sản truyền thống của tổ tiên, việc quá chạy theo đồng tiền và kinh tế thị trường rồi quên mất mặt mỹ học của sản phẩm thủ công, tâm lý vọng ngoại… nguy cơ đứt gãy truyền thống khi các lão nghệ nhân – nghệ sĩ dân gian đã và đang ra đi, đem theo mình cả một di sản văn hóa dân gian với nhiều “bí quyết” (know-how) nghề nghiệp: men rạn, mộng gỗ đóng bén, v.v. và v.v…

……….

(Trích rút từ sách “Văn hóa Việt Nam – Những hướng tiếp cận liên ngành” của Trần Quốc Vượng, Trần Quốc Khánh, Trần Thúy Anh, Trần Phương Anh, Phan Quang Anh, Nxb. Văn học, 2015).

Hà Nội, ngày 28-02-2020

Bùi Tâm Văn

Leave a Reply

Your email address will not be published.