Những hằng số văn hóa của gốm cổ Việt Nam

Tôi đã nhiều lần nhắc tới cố GS Trần Quốc Vượng trong các trang viết của mình. Lý do rất đơn giản – GS là một trong những trí thức tài danh bậc nhất nước Việt mà tôi biết. Kiến thức của ông thuộc loại quảng văn; vấn đề ông luận bàn thật đa dạng…

Nhân đọc lại một số bài có nội dung liên quan đến kinh tế, tôi post lên trang blog này bài viết (mà theo tôi là) khá đặc sắc về gốm cổ Việt Nam: “Những hằng số văn hóa của gốm cổ Việt Nam”, ngõ hầu cung cấp thêm tài liệu cho những bạn có hứng thú với đề tài này đọc tham khảo…

1. Đã một thời, ở phương Tây người ta phân biệt “nghệ thuật lớn” (art majuer) (như hội họa điêu khắc…) và nghệ thuật nhỏ (art mineur), người ta sẵn sàng xếp nghệ thuật gốm vào loại thứ hai! Và điều đó, dù sai lầm, song không phải không có lý do bắt nguồn từ thực tiễn nghệ thuật gốm phương Tây.

Trong khi đó, ở phương Đông, nhất là ở khu vực văn minh Đông Á, nghệ thuật gốm là một dòng chảy sáng tạo lớn trong các trào lưu nghệ thuật. Gốm ở khu vực này có truyền thống lịch sử lâu đời, có những phát minh độc sáng, có nhiều tác phẩm, công trình lớn, được quan tâm chú ý rất nhiều cả về mặt thưởng ngoạn lẫn về mặt ứng dụng đa dạng và tính nghệ thuật cao sâu. Sách vở bàn về gốm Đông Á xưa nay kể đã có tới hàng ngàn pho mà vấn đề chưa hề được múc cạn…

2. Gốm hay chất lượng đất nung vốn không phải ra đời ngay cùng với con người và xã hội loài người, như đá, hay, tre, gỗ… Trong cuộc “cách mạng nghệ thuật” (sự ra đời phát triển rực rỡ của nghệ thuật tạo hình) ở cuối thời ĐÁ CŨ (cách nay 3-4 vạn năm), người ta thấy xuất hiện lẻ tẻ một ít đất nung bên cạnh nhiều tượng đá và điêu khắc xương ngà: Đất nung, từ buổi bình minh của lịch sử loài người, lại được tìm tòi và sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực tạo hình!

Nhưng chỉ tới khi “Cuộc cách mạng kinh tế” (Sự ra đời của trồng trọt và chăn nuôi) xẩy ra ở thời ĐÁ MỚI (cách ngày nay trên dưới 1 vạn năm) thì đồ gốm mới ồ ạt ra đời như một tiền đề (ở nơi này) và một hậu quả (ở nơi khác) của sự nảy sinh và phát triển nông nghiệp. Gốm đất nung trước hết là đồ đun nấu và đồ đựng. Hoa văn gốm trước hết bắt nguồn từ kỹ thuật. Tính nghệ thuật của gốm không tách rời tính nghệ thuật của nó.

Cuộc “cách mạng luyện kim” (nghề luyện kim ra đời) và cùng với nó là cuộc cách mạng đô thị, cách mạng chữ viết, cách mạng Nhà nước… ra đời (4-5 ngàn năm cách ngày nay) thì nghệ thuật gốm đã đạt đến đỉnh cao, cả về nghệ thuật tạo dáng lẫn hoa văn trang trí. Lò gốm là sự chuẩn bị cho lò nấu đồng, luyện sắt. Nghệ thuật gốm là “nghệ thuật chơi với lửa” đầu tiên của con người để sau đó cho ra đời nghệ thuật đồng thau, nhiều đồ đồng thời sơ khởi đã mô phỏng dáng hình và hoa văn đồ gốm.

Rồi nghệ thuật đồng thau, với nhu cầu của tầng lớp trên trong xã hội, đã dần dần lấn át nghệ thuật gốm. Nơi trú ngụ bình yên và lâu dài của nghệ thuật gốm là thôn dã, dân gian… Tính dân gian của nghệ thuật gốm do vậy mà càng sâu đậm.

Nhưng nghệ thuật gốm lại được phục sinh và phát triển rực rỡ, được đưa lên bình diện dân tộc với sự phát minh ra men và gốm sành, sứ trang men. Từ lĩnh vực kỹ thuật với tác dụng lớn đến sức khỏe con người (đồ đựng, đồ đun nấu không ngấm nước, không gây độc cho thức ăn, thức uống) men gốm đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật, với những sắc độ nồng nàn, đậm đà, sâu lắng hay thanh tao, trong trắng, tế vi…

Đồ sành, đồ sứ Đông Á đã chinh phục cuộc sống và tấm lòng của cả thế giới Đông Nam Á, Nam Á, Châu Phi, phương Tây. Đồ sứ Trung Hoa sành xốp, sành trắng tráng men của Đại Việt, Sukhothai (Thái Lan)… trở thành những tín sứ của giao lưu kinh tế và văn hóa.

Cũng như toàn thể nền văn hóa Việt Nam, bên cạnh động lực nội sinh là những nhân tố ngoại sinh, bên cạnh tính chất dân tộc đậm đà là những ảnh hưởng của Trung Hoa, Ấn Độ… Nghệ thuật gốm Việt Nam, bên cạnh tính dân gian đã mang đậm đà tính dân tộc.

Đóng góp của nghệ thuật gốm Trung Hoa vào nghệ thuật gốm Việt Nam là to lớn, lâu bền. Đó là điều không ai phủ nhận. Nhưng nghệ thuật gốm Việt Nam vẫn là một dòng chảy văn hóa liên tục, đặc thù, có tính riêng, không thể hòa nhập với nghệ thuật gốm Trung Hoa, cũng không thể coi nó chỉ là một “dáng vẻ địa phương” mang tính chất “thử phẩm” của nghệ thuật lớn gốm Trung Hoa…

3. Những hằng số văn hóa của gốm Việt Nam hay là những mẫu số chung của gốm Việt Nam phải chăng là những mặt sau đây:

* Việt Nam không phát triển truyền thống sứ: Sứ Việt Nam tuy xuất hiện từ lâu, nhưng sứ chân chính (xương cao lanh, men không ngấm nước, gõ lên có thanh âm và bán thấu quang) thì chỉ mới phát sinh mấy thập kỷ gần đây, mặc dù ở Trung Quốc và chịu ảnh hưởng khá sớm, khá đậm của nghệ thuật gốm – sứ Trung Hoa. Có bạn cắt nghĩa hiện tượng này bởi lẽ Việt Nam thiếu đất trắng tốt, bởi lẽ kỹ thuật lò nung, kỹ thuật men… của Việt Nam chưa đạt độ tinh tế cao…

Tôi nghĩ rằng hôm nay (1986) Việt Nam cần làm sứ thì vẫn tìm được đất đá tốt và thợ sứ Việt Nam vẫn có tay nghề giỏi, và đồ sứ Việt Nam hiện đại đã và đang được xuất khẩu sang Tây Âu, Nhật Bản… Trong quá khứ, cái chất liệu sứ quá “mong manh” nó không thích hợp với tâm thức Việt Nam cổ truyền “ăn lấy chắc, mặc lấy bền” của người dân áo vải tiểu nông chiếm đại đa số trong dân tộc Việt Nam.

Nét vượt trội về chất liệu gốm Việt Nam là đất nung (earthenwares), là đồ sành, đồ sứ, (Stonewares). Trước cách mạng, truyền thống gốm Việt Nam dường như chỉ dừng nơi bán sứ (mi-porcelaime). Thế mạnh của gốm Việt Nam xuất khẩu ra Đông Nam Á và Nhật Bản trong lịch sử xa xưa cũng là đồ đàn tráng men mà không phải là đồ sứ.

* Nếu đặt trong bối cảnh chung của văn hóa Việt Nam – cái nói lên bản chất của văn hóa Việt Nam là văn hóa dân gian, tính nhị phân văn hóa (giữa văn hóa cung đình và văn hóa dân gian) không phát triển rạch ròi (nhất là từ thế kỷ XV trở về trước) – soi nhìn vào nghệ thuật gốm – sứ, ta cũng không thấy sự phân biệt rạch ròi giữa “lò quan” và “lò dân giã” như gốm – sứ Trung Hoa. Tầng lớp trên của Việt Nam, nếu một lúc nào đó thích tiêu sài xa xỉ, thì họ mua đồ sứ Trung Hoa (sứ Tống, Minh, Thanh) chứ chủ yếu không phải là thi công “lò quan” riêng ở kinh thành hay ở một nơi nào đó.

* Trừ gốm Biên Hòa – mới phát triển trong thời cận hiện đại và ngay từ đầu đã gắn với thị hiếu và thị trường ngoài nước, gốm sứ Việt Nam không phát triển theo hướng tam thái (ba màu của sứ đời Đường), ngũ thái (năm màu của sứ đời Minh), đa thái (nhiều màu của sứ Thanh) như nghệ thuật sứ – sành – đàn Việt Nam là sự phóng rọi của cái giản dị – chất phác của người tiểu nông Việt Nam, thường chỉ có một, hai màu: nâu – ngà, lam – trắng, nâu – đỏ gạch tuyền… Gốm Việt Nam không hấp dẫn người dùng, người chơi bởi màu sắc mà bởi cái giản dị đơn sắc có chiều sâu đậm nhạt, lung linh, ẩn hiện, sắc rõ hay nhạt nhòa…

* Trang trí gốm Việt Nam – trừ gốm hoa lam với thủ pháp phóng bút, công bút mang tính hội họa, rõ ràng có ảnh hưởng của nghệ thuật bút lông Trung Hoa – từ gốm thời sơ sử (Phùng Nguyên) đến gốm Lý – Trần (hoa nâu, men ngọc) đến gốm Biên Hòa… đều chú trọng đến nét vẽ hình nổi (dessins gravés), nét thì phóng khoáng, dáng hình thường mập mạp, bố cục nói chung thoáng đãng mà không rậm rạp, họa tiết thiên về ước lược mà không đi vào chi tiết, tượng trưng mà không quá nệ thực, thủ pháp phối hợp vừa nhìn nghiêng vừa nhìn từ trên xuống, chứ không phải là thấu thị theo luật xa gần của nghệ thuật phương Tây.

Tiếp cận nghệ thuật gốm – sứ Việt Nam, chúng ta liên tưởng đến tranh dân gian, đến điêu khắc gỗ đình làng… Liên tưởng ấy, theo tôi, là đúng đắn vì gốm – sứ, tranh giấy, điêu khắc gỗ… đều toát lên cái thần thái chung của mỹ thuật Việt Nam, của nghệ thuật dân gian, mà công sức tiếp cận bấy lâu nay của giới sử học mỹ thuật học Việt Nam đã cho phép ta tổng kết được và rút ra được những chuẩn mực để thẩm nhận về cái Đẹp Việt Nam!”.

GS. TRẦN QUỐC VƯỢNG

Hà Nội, ngày 15-03-2020

Bùi Tâm Văn

Leave a Reply

Your email address will not be published.