Đôi điều về “Đạo Trung dung” của Nho giáo

Đôi điều về “Đạo Trung dung” của Nho giáo

                                                     TS. BÙI HỒNG VẠN

                                                     Trường Đại học Thương mại (TMU)

Hội nghị các nhà khoa học được trao giải Nô-ben hòa bình tổ chức tại Pa-ri đã tuyên bố: “Nhân loại nếu muốn sinh tồn trong thế kỷ XXI, phải hướng về học thuyết chung sống hài hòa của Khổng Tử[1]”. Học thuyết được nói đến chính là Đạo Trung Dung của Nho giáo. Xem thế đủ biết, Đạo Trung Dung có giá trị to lớn không chỉ trong thời xưa mà cả đối với thời nay, không chỉ ở vùng văn hóa Hán mà còn trên phạm vi toàn cầu.

“Ôn cố nhi tri tân[2]” (ôn cũ để biết mới) là quy luật của đời sống. Con người thời nay muốn tồn tại, phát triển tốt thì cần phải khai thác những tinh hoa của nhân loại. Theo tinh thần đó, bài viết này giới thiệu một trong những tinh hoa thuộc truyền thống văn hóa Trung Hoa là Đạo Trung Dung.

1. Sơ khởi và “định vị” Đạo Trung Dung

Tư tưởng Trung Dung đã có từ ngàn xưa trong văn hóa cổ Trung Hoa. Có ý kiến cho rằng Trung Dung bắt nguồn từ hai chữ “chiết trung”, “điều hòa”. Trong một số giai đoạn lịch sử Trung Hoa, chữ trung gắn với chữ chiết tạo thành chữ chiết trung. Chiết nguyên nghĩa là phán đoán, quyết đoán; còn trung là tiêu chuẩn. Chiết trung có nghĩa là phân biệt tiêu chuẩn, phân biệt phải trái, đúng sai, thật giả.

Cuối thời phong kiến, chiết trung mất đi ý nghĩa ban đầu, dần dần biến thành điều hòa, từ đó người ta không còn nói đến nguyên tắc, đến phải trái nữa.

Trong thời cổ ở Trung Hoa, Trung Dung được gọi là “trung hòa”. Thuật ngữ này ám chỉ hai nhân tố khác nhau hoặc hai phía đối lập phối hợp với nhau, nhưng phù hợp với tiêu chuẩn và pháp độ đúng đắn.

Vui buồn mừng giận chưa phát ra gọi là Trung, khi đã phát ra mà phù hợp (trúng tiết) thì gọi là Hòa. Nếu đạt trạng thái trung hòa thì trời đất ở đúng vị trí, vạn vật được nuôi dưỡng, mọi cái đạt đến cảnh giới hài hòa. Theo ý nghĩa đó thì Trung hòa cũng chính là đạo Trung Dung[3].

Tư tưởng Trung Dung không phải là sản phẩm riêng của Trung Hoa, mà nó được các bậc thánh nhân, những nhà hiền triết cổ đại ở cả Đông và Tây đề xướng từ thời cổ.

Trung Dung trong truyền thống văn hóa phương Đông được quan niệm như là bản nguyên – chủ tể của vũ trụ. Nó là cái bắt đầu của mọi vật, là sự biến hóa của vạn vật, vạn sự trong vũ trụ. Lão giáo gọi nó là Đạo, Phật giáo gọi Trung Dung là Đạo Bồ đề; còn Nho giáo xem Trung Dung như thiên mệnh (mệnh trời), là Thái cực tiềm tàng trong mỗi con người; đó chính là thiên đạo chi phối vũ trụ vạn vật, là nhân đạo trong sự giao tiếp giữa người với người[4].

Sự gặp nhau giữa tư tưởng Đông-Tây khi đề xướng Trung Dung có nguyên do là đạo lý này “đã mang lại cho con người một lý tưởng sống chính đáng nhất, một biện pháp, một cách giải quyết phù hợp thống nhất được hai cực đoan làm cho cuộc sống giữa con người với con người hài hòa và vui vẻ, nhân loại nhờ đó không dẫn đến bị hủy diệt hay tan rã”[5]. Đó chính là giá trị to lớn của Trung Dung trong quan niệm tư tưởng nhân loại cả Đông, lẫn Tây.

Ở Trung Quốc, thời Xuân Thu, trên cơ sở kế thừa quan niệm thời cổ, Khổng Tử đã bổ sung, phát triển và biến “trung hòa” thành phạm trù quan trọng của Nho giáo. Theo sách “Tứ thư”[6] thì sáng tạo lớn nhất của Khổng Tử là sau chữ “trung” đã thêm chữ “dung”, từ đó nâng quan niệm “trung hòa” lên một tầm cao mới – tầm cao triết học[7].

Khổng Tử đề xuất Đạo Trung Dung là bởi xã hội thời đó đang rối loạn. Các thế lực phong kiến đánh giết lẫn nhau, gây nên tình trạng xã hội bất ổn. Khổng Tử cho rằng xẩy ra tình trạng đó là do “thiên hạ vô đạo”. Theo Ngài, để giải quyết các mâu thuẫn, giúp xã hội ổn định thì cần phải dựa vào Đạo lý Trung Dung để có biện pháp, đường lối phù hợp, không thái quá hoặc bất cập[8].

Về sau tư tưởng Trung Dung được Tử Tư[9] kế thừa, phát triển và trình bày nó trong một cuốn sách có tên gọi là Trung Dung. Sách Trung Dung hợp với Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học tạo thành bộ “Tứ thư” (kinh điển) của Nho gia.

2. Một số kiến giải về Đạo Trung Dung

Từ xưa đến nay có những kiến giải khác nhau về Đạo Trung Dung. Trên đại thể, có thể chia các kiến giải thành hai loại – kiến giải thông thường và kiến giải theo tinh thần học thuật – triết học.

Theo kiến giải thông thường, hai chữ Trung Dung được xem như “Chuẩn mực đạo đức và phương pháp tư tưởng của Nho gia. Không thiên lệch gọi là Trung, không thay đổi gọi là Dung”[10]. Nhiều người quan niệm Trung Dung chỉ là “một cuộc sống không thái quá, không bất cập”[11].

Trong sách Luận Ngữ, Trung Dung cũng được cắt nghĩa theo lối kiến giải này. Luận ngữ giải thích Trung Dung theo hai nghĩa, trong đó theo nghĩa thứ nhất, Trung Dung “là dụng, là dùng, tức là nắm chắc hai đầu mút, hai cực đoan của hai mặt đối lập, tìm cho ra biện pháp thích hợp để giải quyết mọi mâu thuẫn trong xã hội” và nghĩa thứ hai Trung Dung là bình thường, coi việc vận dụng đạo trung dung là việc làm hàng ngày của mọi người[12].

Có thể nói, những kiến giải trên mới chỉ luận về Đạo Trung Dung một cách đơn giản, chưa đi sâu, mở rộng… Về sau một số học giả vừa đi sâu, vừa mở rộng khi luận bàn về Đạo Trung Dung. Tiêu biểu có thể kể đến là: Sào Nam Phan Bội Châu, Nhân tử Nguyễn Văn Thọ và F. Jullien.

* Ở Việt Nam, trước năm 1945, khi luận về Đạo Trung Dung, cụ Phan Bội Châu đã cho rằng đây “là một bản rất cao, bàn đạo lý rất thâm thúy, góp cả thiên đạo và nhân sự, đủ cả lý luận và sự thực. Xem ở trên mặt chữ và chương cú, không được dễ hiểu như Đại học và Luận ngữ. Học giả bắt đầu vào cửa Khổng học thiệt chưa thể lĩnh hội được cả tuyền thư”[13].

Như vậy, theo ý kiến cụ Phan thì Trung Dung là một đạo thống cao siêu trong hệ thống tư tưởng triết học của Nho gia.

Sau cụ Phan, ở miền Nam, Nhân tử Nguyễn Văn Thọ đã có những kiến giải độc đáo về Đạo Trung Dung. Theo học giả này, Trung Dung chính là “Thiên đạo, là đạo Vô Thượng trong thiên hạ[14]”.

Nguyễn Văn Thọ đã nương theo các bậc danh Nho thời trước để xác định trong Đạo Trung Dung Trung là tâm điểm, còn Dung là bất biến. Từ đây, ông tiếp tục khai triển sâu hơn quan niệm của mình về Đạo Trung Dung.

Nguyễn Văn Thọ cho rằng trong vòng biến thiên ảo hóa của vũ trụ, chỉ có một tâm điểm bất biến hằng cửu được gọi bằng những cái tên – Bản thể, Tuyệt đối, Thánh Cực, Đạo, Trời. Điều này đã được nói đến trong Kinh Dịch.

Cụ thể, Kinh Dịch đã vẽ Thái Cực ở tâm điểm vòng Dịch, còn các hào quái, tượng trưng cho vạn hữu, hình tướng biến thiên bên ngoài thì vẽ lên trên vòng Dịch bên ngoài. Tâm điểm vì ở giữa vòng biến thiên nên không nghiêng lệch về bên nào.

Nguyễn Văn Thọ còn đi xa hơn khi cho rằng với hai chữ Trung Dung, Khổng tử đã vạch cho con người con đường giải thoát với các nội dung:

1) Sống trong muôn vàn hiện tượng biến thiên, con người phải tìm cho ra căn cơ bất biến;

2) Ở đâu có biến thiên, ở đấy có căn cơ bất biến làm chủ chốt;

3) Ở con người có nhiều hiện tượng biến thiên, nên trong con người phải có một căn cơ bất biến làm chủ chốt;

4) Chỉ có Trời, có Đạo, có Thái Cực mới bất biến. Suy ra trong con người phải có Đạo, có Trời, có Nguồn sống siêu nhiên vĩnh cửu làm chủ chốt;

5) Cái gì biến thiên thì còn ở trong vòng sinh tử. Cái gì bất biến mới thoát ra ngoài vòng biến thiên sinh tử. Con người muốn thoát vòng sinh tử phải đạt tới Tâm Điểm (tức Trung Dung)…

Nguyễn Văn Thọ còn cho rằng, con người luôn chịu tác động của ba thứ đạo – Địa đạo, Nhân đạo và Thiên đạo.

Do con người có Thiên tính, nên phải sống siêu việt trên bình diện tâm hồn, phải siêu linh và thần thánh hóa mình để sống phối hợp với Thượng đế ngay từ khi còn ở trần gian, đó là Thiên đạo. Người xưa gọi đạo ấy là Trung đạo (hay Đạo Trung Dung), là Chân đạo hay Đại đạo[15].

Đạo Trung Dung quan niệm bản tính con người là Thiên tính… Tìm Đạo thực chất là đi tìm Trời ngự trị trong con người mình; tìm cách bắc nhịp cầu giữa tâm mình với Trời, tìm lại được Đạo nơi tâm[16].

Sau khi chỉ ra Đạo có sẵn trong tâm linh con người Đạo Trung Dung còn đề ra 3 phương pháp chính yếu, giúp con người tiến tới hoàn thiện về Nhân, Trí, Dũng. Nhưng để hoàn thiện về Nhân, Trí và Dũng thì con người phải:

1) Luôn luôn làm những điều hay, điều phải để đạt nhân đức thực sự (NHÂN);

2) Mở mang trí tuệ để đi đến chỗ đại trí, đại giác (TRÍ);

3) Cố gắng không ngừng nhằm phát triển năng lực tinh thần để tiến mãi cho tới chỗ tinh vi, cao đại (DŨNG)[17].

Như vậy, luận giải của Nguyễn Văn Thọ không chỉ sâu mà còn mở sang cả việc ứng dụng Đạo Trung Dung vào đời sống.

Đây là một trong những điểm độc đáo của học giả này mà ta có thể xem nó như là sự bổ sung, phát triển thêm Đạo Trung Dung trong thời đại mới ngày nay.

* Bên cạnh các danh nho, học giả người Việt thì từ phương Tây, vào cuối thế kỷ XX có một nhà triết học đương đại người Pháp là F. Jullien cũng đi sâu nghiên cứu về tư tưởng Trung Hoa.

Khi đối sánh tư tưởng Trung Dung của Nho giáo với tư tưởng Trung Dung của phương Tây, F. Jullien nhận thấy: Trong khi Trung Dung của Trung Hoa chủ trương các cực, bằng cách chuyển dịch từ cực này sang cực kia và cho phép triển khai hiện thực trong tất cả các khả năng của nó thì phương Tây lại “chạy trốn cái cực đoan, sợ sa vào thái quá”[18].

F. Jullien cho rằng, cái độc đáo của Khổng Tử là ở chỗ chủ trương linh hoạt trong ứng xử – có thể thế này hoặc có thể thế kia, tùy thời, không cứng nhắc. Ví như có thể ra làm quan hoặc có thể cáo quan, đi ở ẩn là tùy thời.

Còn một điểm độc đáo khác trong Trung Dung của Nho giáo là cứ mỗi lần đi đến cùng “cái có thể” thì lại khai thác mỗi “thời” riêng của nó. Theo đó Trung dung là cái “đứng giữa” (tức “trung điểm”); nhưng nó được nhân đôi lên, nó nằm ở cực bên này lẫn ở cực bên kia, cả cái này lẫn cái kia tự nó đều hợp pháp[19].

F. Jullien còn chỉ ra ba điểm khác nhau giữa hai truyền thống tư tưởng triết học Trung Hoa và phương Tây. Đó là:

Với người Hy Lạp, trung điểm đặc thù của đức hạnh được xem xét trong bối cảnh của hành động, được quan niệm một cách kỹ thuật và theo một hình mẫu đặt ra như một mục đích. Còn của Trung Hoa nó nằm trong lô-gích của tiến trình, hiện thực được quan niệm tuỳ theo bậc hạng của diễn tiến; cái trung tâm ấy là trung tâm bởi vì có thể dịch chuyển từ cực này sang cực kia, sự điều tiết là liên tục.

Aristote có ý tưởng về một trung điểm có thể chuyển dịch, không chỉ đơn thuần như toán học (6 ở giữa 2 và 10), mà liên quan đến từng người (chẳng hạn một lượng thức ăn đối với người này là nhiều, đối với người kia lại là ít) và tiến hành bằng cách vận dụng theo hoàn cảnh (“vào lúc thích hợp”). Nhưng ông lại không có ý tưởng về một sự chuyển dịch từ cực này sang cực kia, đều là có thể, như quan niệm của Khổng Tử (Trung Hoa) về hai trung tâm.

Trung dung của Aristote chỉ bao hàm đạo đức, còn Trung Dung của Trung Hoa ứng với lô-gích của mọi diễn tiến. Ở Trung Hoa, không có vấn đề bên này là hiện thực, bên kia là cái thiện. Cái mà hiện thực bắt nguồn là trung dung của sự điều tiết, cũng là chuẩn mực của cái thiện, là Đạo[20].

3. Kết luận

* Tư tưởng Trung Dung đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Nội dung có điểm khác nhau, nhưng mục đích đề xuất Đạo Trung Dung đều nhắm tới cái đích là giúp con người sống phù hợp với quy luật của vũ trụ và nhân sinh, đảm bảo cho sự sinh tồn, phát triển.

Tư tưởng Trung Dung thời khởi thủy ở Trung Hoa còn đơn giản, nhưng đã được Khổng Tử và các danh nho đời sau nâng tầm thành một phạm trù triết học trong hệ thống tư tưởng Nho giáo.

Trung Dung của Nho giáo có những điểm khác biệt với Trung Dung của phương Tây ở tính linh hoạt và được ứng dụng một cách toàn diện trong đời sống con người. Trung Dung Nho giáo, theo đó trở thành đạo thống quan trọng về vũ trụ và  nhân sinh.

* Để hiểu một trong những giá trị lớn mà Nho giáo đã cống hiến cho nhân loại, chúng ta cần quan tâm tìm hiểu và có nhận thức sâu sắc, đúng đắn về đạo lý này. Theo một ý nghĩa nào đó, Đạo Trung dung giúp chúng ta nắm được thế giới quan, phương pháp luận của Nho giáo. Và xa hơn nó còn cấp cho ta một công cụ – một phạm trù triết học, giúp ta có điều kiện đi sâu tìm hiểu nhiều vấn đề khác trong hệ thống tư tưởng triết học Nho giáo Trung Hoa.

* Việc nghiên cứu, nhận thức sâu sắc, đúng đắn Đạo thống Trung Dung sẽ giúp người thời nay có thể khai thác, vận dụng tinh hoa của nó để tạo nên cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ giác độ nhân sinh, học giả – Nhân tử Nguyễn Văn Thọ đã khuyến cáo chúng ta:

“Đạo Trung Dung sinh ra nhằm dạy con người hướng về Thiên đạo. Con người thực ra là những vị thần minh, những vị thiên tử lạc xuống hồng trần rồi quên mất dòng dõi cao sang của mình, quên mất con đường trở về Thiên quốc. Con người cần thực hiện một cuộc hành trình nội tâm nhằm tìm Đạo, tìm Trời”[21] để tồn tại, phát triển tốt hơn trong thời đại ngày nay.

Tài liệu tham khảo trích dẫn

[1] Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch), Trần Trọng Sâm (biên dịch): Tứ thư,  Nxb.Văn học, 2010, tr. 55-56.

[2] Hoàng Nha Phương: Khổng Tử, tinh hoa trí tuệ qua danh ngôn, Nxb. Văn hóa thông tin, 2008, tr. 7.

[3] Lao Tử – Thịnh Lê: Từ điển Nho, Phật, Đạo, Nxb. Văn học, 2001, tr. 1663.

[4] Lý Minh Tuấn: Tứ thư bình giải, Nxb. Tôn giáo, 2011, tr. 1204-1205.

[5] Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch), Trần Trọng Sâm (biên dịch): Tứ thư, Nxb.Văn học, 2010, tr. 55.

[6] Sách do nhóm Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong chú dịch, Trần Trọng Sâm biên dịch và được Nxb. Văn học xuất bản ở Việt Nam vào quý III, năm 2010.

[7] Xin xem Tứ thư do Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong chú dịch, Trần Trọng Sâm biên dịch, Nxb. Văn học, 2010, tr. 51-52.

[8] Xin xem Tứ thư do Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong chú dịch, Trần Trọng Sâm biên dịch, Nxb.Văn học xuất bản năm 2010, tr. 52-53.

[9] Tử tư (Khổng Cấp), cháu đích tôn của Khổng Tử đã viết sách Trung Dung, kế thừa và phát huy tư tưởng trung dung của Khổng Tử một cách có hệ thống…[xem Nguyễn Tôn Nhan: Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc, Nxb. Văn hóa thông tin, 2002, tr. 295].

[10] Lao Tử – Thịnh Lê: Từ điển Nho, Phật, Đạo, Nxb. Văn học, 2001, tr. 1661.

[11] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[12] Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch), Trần Trọng Sâm (biên dịch): Tứ thư,  Nxb.Văn học, 2010, tr. 51-52.

[13] Dẫn theo Lý Minh Tuấn: Tứ thư bình giải, Nxb. Tôn giáo, 2011, tr. 1204.

[14] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[15] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[16] Xem Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[17] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, (https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, truy cập ngày 7/9/2019).

[18] F. Jullien (2003): Minh triết phương Đông & triết học phương Tây, Nxb Đà Nẵng, tr. 54-55.

[19] F. Jullien (2003): Minh triết phương Đông & triết học phương Tây, Nxb Đà Nẵng, tr. 57.

[20] F. Jullien (2003): Minh triết phương Đông & triết học phương Tây, Nxb Đà Nẵng, tr. 59-60.

[21] Nhân tử Nguyễn Văn Thọ: Con đường huyền nhiệm trung dung, https://nhantu.net/TonGiao/ConduongHuyennhiemTrungdung.htm, (truy cập 7/9/2019).

[P/S: Bài viết đã đăng trên Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 108 (169), tháng 3/2020]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.