TÍNH HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA

(Cách đây một hai thập niên, trên các diễn đàn, sách báo, mạng xã hội người ta nói đến hiện tượng “toàn cầu hóa” chả khác gì hiện nay người ta nói đến “cách mạng công nghiệp 4.0”. Toàn cầu hóa trở thành một từ cửa miệng của rất nhiều người, nhất là giới trí thức, chính trị… Vậy toàn cầu hóa là gì? Và phải chăng toàn cầu hóa chỉ đem lại cho các quốc gia những điều tốt đẹp?…. Thông tin này sẽ trả lời hai câu hỏi vừa nêu ở mức sơ giản, nếu xét theo quan điểm học thuật!)

1. Quan niệm về Toàn cầu hoá

Đã có nhiều định nghĩa, quan niệm về toàn cầu hóa (TCH). Chẳng hạn, Uỷ ban châu Âu cho rằng: “TCH có thể được định nghĩa như một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do có sự năng động của việc buôn bán hàng hoá và dịch vụ, cũng như có sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ. Đây không phải là một hiện tượng mới, mà là sự tiếp tục của một tiến trình đã được khơi mào từ khá lâu[1]”. Còn theo Mc. Gren thì: “TCH là việc hình thành một chuỗi vô số các liên kết ràng buộc giữa các chính phủ và các xã hội tạo lập nên một hệ thống thế giới hiện đại. TCH cũng là một quá trình mà ở đó các sự kiện, các quyết định và các hoạt động của một phần thế giới có thể tác động nghiêm trọng đến các cá nhân và cộng đồng ở các phần khác xa của trái đất[2]”.

Thậm chí, TCH còn được định nghĩa một cách khôi hài như sau: “Định nghĩa đúng nhất về TCH là gì? Trả lời: Cái chết của công nương Diana. Hỏi: Sao kỳ vậy? Trả lời: Một công nương Anh quốc, cùng với bạn trai Ai Cập, bị tông xe trong đường hầm của Pháp. Họ được một tài xế Bỉ chở trên một chiếc xe của Đức với động cơ của Hà Lan, người này uống rượu Wisky của Scotland. Họ bị một đám paparazi (báo chí, truyền thông) Ý cưỡi xe môtô Nhật theo sát gót. Sau đó, họ được các bác sĩ Mỹ điều trị, sử dụng thuốc men của Brazin. Tin nhắn được một người châu Phi gửi tới, đang dùng công nghệ của Bill Gates. Và có lẽ bạn đang đọc những dòng chữ này trên máy tính mà made in của nó là Đài Loan và màn hình của Trung Quốc[3]”.

Như vậy đủ thấy, TCH là một khái niệm rộng, phức tạp, đa nghĩa và không dễ gì thống nhất nội hàm một cách tuyệt đối. Để phục vụ cho nội dung bài viết này, tôi mượn một định nghĩa về TCH được nêu trong Wikipedia (Từ điển bách khoa mở trên Internet) làm công cụ phân tích. Wikipedia định nghĩa như sau: “TCH là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ kinh tế, văn hoá, v.v. trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, TCH hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hoá thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin và văn hoá[4]”.

2. Tính hai mặt của toàn cầu hóa

Những người thiết kế TCH kinh tế đầu tiên là các nhà kinh tế học Phương Tây, với mục đích là thông qua TCH để giúp các quốc gia Phương Tây thu được lợi ích kinh tế lớn nhất trong trao đổi quốc tế. Trong thời gian khá dài vừa qua, các nước Phương Tây thực sự đã thu được khoản lời lớn từ tiến trình TCH. Nhưng đồng thời trong quá trình này, tính chất và nội dung của kinh tế của TCH đã bị biến dạng. Khi mới thực hiện, người ta hy vọng rất lớn vào tiến trình này. Nhưng TCH giống như mọi hiện tượng khác trong xã hội, bản thân nó là “con dao hai lưỡi”, có cả mặt tích cực và tiêu cực.

Trước hết xét về mặt tích cực, chúng ta thấy:

– TCH thúc đẩy tự do hoá mậu dịch phát triển. Nhìn lại tình hình buôn bán của các nước trên thế giới hiện nay, hầu như không còn tồn tại tình trạng thị trường đơn nhất ngay cả ở các cường quốc kinh tế phát triển. Giờ đây, hầu như thị trường nội địa của các nước đều gắn với thị trường thế giới, là bộ phận của thị trường thế giới. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước cũng như ngành ngoại thương đóng vai trò rất lớn đối với tăng trưởng tổng sản lượng quốc nội (GDP). Năm 2004, mức độ phụ thuộc của GDP Mỹ vào ngành ngoại thương tới 25,9%; năm 2005, mức độ phụ thuộc của GDP Trung Quốc với ngành ngoại thương và buôn bán đối ngoại tới 61%.

Do tính phụ thuộc vào ngành ngoại thương ngày càng cao, nên mức độ tự do hoá mậu dịch của các nước trong khu vực Đông Nam Á cao hơn của các nước ở Mỹ La-tinh. Bởi vì, tới nay sự phát triển kinh tế của các nước Mỹ La-tinh chủ yếu dựa vào nội thu, trong khi nhân tố nhu cầu nước ngoài thấp hơn nhiều so với các nước Đông Á. Sau 5 năm gia nhập WTO (2001), nền kinh tế Trung Quốc có được nhiều lợi ích từ quá trình này, GDP tăng bình quân hàng năm là 9%. Từ nước đứng thứ 6 Trung Quốc đã nhảy lên hàng thứ 4 về tăng GDP…

– TCH kinh tế đẩy mạnh tiến trình quốc tế hoá lưu chuyển vốn, có lợi cho tự do hoá đầu tư. Trong ba năm 2001-2003, mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm sút rất lớn, nhưng bắt đầu từ năm 2004 đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại. Theo “Báo cáo đầu tư năm 2005” do Hội nghị phát triển mậu dịch Liên hợp quốc công bố, tổng số FDI trên toàn thế giới đã lên tới 648 tỷ USD, tăng 2% so với năm 2003.

Điều này cho thấy xu thế đầu tư quốc tế giảm sút từ năm 2001-2003 đã được ngăn chặn và bắt đầu gia tăng trở lại trên thế giới. Đặc biệt, trong năm 2004, các nước Phương Tây đã tiếp nhận FDI trị giá khoảng 380 tỷ USD, giảm 14% so với năm 2003. Trong khi đó, FDI ở các nước đang phát triển tăng 40%, với tổng giá trị 233 tỷ USD. Riêng Trung Quốc vào năm 2005 đã nhận được nguồn đầu tư từ bên ngoài vào là 72,4 tỷ USD. Như vậy, nếu không có TCH thì không thể quốc tế hoá vốn và di chuyển dễ dàng từ nước này qua nước khác.

TCH kinh tế chẳng những thúc đẩy FDI tăng lên mà còn thúc đầy tự do hoá đầu tư. Mấy năm qua, do môi trường đầu tư được cải thiện, xu thế lưu thông tự do đầu tư đã tăng lên rõ rệt. “Báo cáo của Hội nghị mậu dịch Liên Hợp quốc” năm 2004 cho biết hai nước có lượng FDI đổ vào nhiều nhất là Mỹ và Anh, trong đó Mỹ tiếp nhận tới 96 tỷ USD và nước Anh tới 78 tỷ USD.

Mặc dù các nước đang phát triển đã ra sức mở cửa thị trường vốn của mình và đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài; nhưng do cơ chế và thị trường còn nhiều khâu yếu kém, nên trình độ tự do hoá tiền vốn của các nước đang phát triển kém hơn nhiều so với các nước phát triển. Vì thế các nước đang phát triển cần nghiên cứu và hoàn thiện để tận dụng được cơ hội tốt của TCH.

– TCH kinh tế đã “bật đèn xanh” cho tự do hoá lưu chuyển tiền tệ. Trong điều kiện hiện nay, mọi tổ chức ngân hàng, tài chính, tiền tệ và thị trường chứng khoán của các nước đều phải phát triển theo xu thế TCH. Ba thị trường chứng khoán nổi tiếng là New York, London và Tokyo giờ đây đã len lỏi tới khắp nơi trên thế giới đề thu hút tiền vốn. Thông qua việc không ngừng điều chỉnh tỷ giá hối đoái, những đồng tiền như USD, Euro và đồng Franc của Thuỵ Sĩ đều trở thành đồng tiền dự trữ và có thể tự do lưu hành ở các nước. Tóm lại, tiền tệ được tự do lưu hành như hiện nay là do tác động mạnh mẽ của tiến trình TCH kinh tế.

– TCH đã thúc đẩy phát triển sản xuất xuyên quốc gia. Mấy năm qua, đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động sản xuất quốc tế là sản xuất của các công ty xuyên quốc gia mở rộng mạnh mẽ ra các nước. Đầu năm 1994, Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ vừa mới khởi động, các công ty xuyên quốc gia của Mỹ đã nhân cơ hội này thành lập một loạt công ty con ngay gần biên giới Mehico.

Những công ty này đã lợi dụng nguyên vật liệu, tài lực, vật lực của địa phương sản xuất hàng hoá giá rẻ đưa về thị trường nội địa Mỹ. Hay gần đây, hầu hết các công ty xuyên quốc gia lớn của Mỹ và các nước trên thế giới đều tới Trung Quốc lập văn phòng hoặc trụ sở công ty để tiến hành sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, TCH cũng tạo cơ hội cho các nước giao lưu, tiếp xúc hội nhập về văn hoá, xã hội, giáo dục, chuyển giao khoa học và công nghệ, v.v…

Tuy có những mặt tích cực trên đây; nhưng TCH cũng có nhiều mặt tiêu cực. (Không phải ngẫu nhiên mà trong những thập niên vừa qua, phong trào đấu tranh chống TCH đã diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Pháp, Úc, v.v…). Dưới đây là một số biểu hiện chủ yếu:

– Tình trạng bất bình đẳng và phân hoá giàu nghèo tăng lên. TCH đã làm nhiều quốc gia (chủ yếu là các nước đang phát triển) bị thua thiệt rất nhiều, tạo nên sự phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng mới. Có khoảng 20% dân số thế giới sống ở các nước giàu hưởng tới 80% GDP của toàn thế giới; còn 20% dân số đang sống ở các nước nghèo chỉ hưởng 1% GDP thế giới[5].

Ngay trong thế giới tơ bản chủ nghĩa cũng đang tồn tại “hai thế giới” – một thế giới giàu có, phát triển và một thế giới nghèo nàn, lạc hậu. Của cải tập trung trong tay một số người giàu; còn tuyệt đại dân cư sống trong tình trạng nghèo đói, thiếu thốn. Ngay trong các nước phát triển nhất cũng đang tồn tại những tầng lớp nghèo khổ sống dưới đáy của xã hội. Đối tượng này được gọi là một  cách mỉa  mai là  “thế giới thứ tư”.

– Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch làm cho trật tự tiền tệ thế giới bị rối loạn và các khoản trợ cấp, quỹ hưu trí, phúc lợi giảm sút, thất nghiệp tăng. Tự do hoá tiền tệ và lưu chuyển vốn cũng làm hệ thống ngân hàng tài chính của nhiều nước thế giới thứ ba rối loạn và bị các nước phát triển thao túng. Từ đó, rủi ro và khủng hoảng tiền tệ luôn luôn đe doạ họ. Tại châu Âu, trước mắt, chỉ những nước Trung Âu và Đông Âu được hưởng lợi nhất sau khi EU mở rộng. Những nước này có trình độ kinh tế kém phát triển, mức sống thấp, nên họ thu được nhiều lợi ích kinh tế sau khi gia nhập EU.

Còn những nước phát triển như Đức, Pháp và Italia thì bị thiệt thòi vì họ phải đóng thêm nhiều khoản tiền “chi viện”. Đây là nguyên nhân căn bản để dân chúng Pháp, Hà Lan phủ quyết Hiến pháp EU vì bất mãn với TCH kinh tế. Dư luận ở những nước này đều phàn nàn rằng cách đây 10 năm, kinh tế của họ đứng vào hàng đầu thế giới, nay đã bị tụt hậu đáng kể do phải gánh thêm việc chi viện cho các nước mới gia nhập EU.

– Các nước đang phát triển thì bị thiệt thòi nhất về hàng nông sản trong tiến trình TCH. Do TCH, tự do hoá mậu dịch và mở cửa thị trường, hàng nông sản giá rẻ của các nước phát triển bị điêu đứng, phá sản. Nông dân và người lao động ở Trung Quốc đang chịu thiệt thòi nhất khi nước này tham gia WTO. Việc gia nhập WTO đối với nhiều người dân giống họ đang “khiêu vũ với các loài sói”.

Hiện nay, một năm chính quyền Trung Quốc các cấp đã thu hồi khoảng 200.000 ha đất của nông dân, tức là có khoảng 2 triệu nông dân bị mất ruộng đất. Trung Quốc đã có hơn 40 triệu nông dân không còn ruộng đất và tương lai (đến năm 2020) sẽ có thêm 40 triệu nông dân nữa gia nhập vào đội quân này.

Giáo sư Wen Tiejun, một chuyên gia nghiên cứu về nông thôn Trung Quốc phát biểu: “Vấn đề nông thôn bắt đầu nảy sinh trong quá trình CNH, tuy nhiên nó sẽ trở thành nghiêm trọng hơn với quá trình TCH”. Vấn đề an sinh xã hội ở Trung Quốc cũng nảy sinh vấn đề rất gay go. Với 140 triệu công nhân nông thôn di cư đã làm cho hệ thống an sinh xã hội không bắt kịp với sự thay đổi nhanh về mặt xã hội. Với 1000 tỷ dự dữ ngoại tệ, Trung Quốc cũng không đủ lực để giải quyết vấn đề này…

– Sự huỷ hoại môi trường ngày càng tăng lên. Khi thương mại mở rộng đã làm tăng lượng hải sản đánh bắt, tăng diện tích rừng bị phá huỷ và mở rộng các ngành công nghiệp gây ô nhiễm sang các nước đang phát triển.

Báo cáo tháng 11/05 của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) cho biết, mỗi năm có khoảng 18 triệu mẫu Anh (acres) rừng bị phá huỷ, tức là ngang với diện tích của nước Panama. Hơn 2,5 triệu mẫu Anh rừng nhiệt đới đã bị xoá sạch trong những năm gần đây để lấy đất trồng đỗ tương (cung ứng cho nhu cầu của thị trường Trung Quốc).

Trong khi đó, các chương trình bảo vệ và trồng lại rừng đã không thành công ở nhiều nước. Tổ chức Hoà bình Xanh tố cáo Anh và châu Âu góp phần phá huỷ dải rừng dài 7.000 km, do những người nông dân đã phá để trồng đỗ tương và nuôi gà để bán sang châu Âu.

Sự phát triển kinh tế ngoạn mục của Trung Quốc trong ba thập niên qua có mặt trái của nó. Khối lượng than bị đốt tăng lên và lượng hoá chất sử dụng cho sản xuất đã không chỉ gây ô nhiễm cho môi trường và nguồn nước của Trung Quốc, mà cho cả môi trường của thế giới. Một công trình nghiên cứu năm 2004 đã phát hiện ra dấu vết của các loại hoá chất mà các nhà máy của Trung Quốc thải ra ở cách xa hàng nghìn dặm.

Một nhà nghiên cứu đã tìm ra nguồn gốc của các loại bụi thổi từ châu Á sang tận New England, Mỹ và còn tìm thấy dấu vết của bụi hoá chất do các nhà máy của Trung Quốc thổi vào bầu khí quyển. Đó là một trong những nguồn gốc gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính, trái đất ngày càng nóng lên. Theo báo cáo của nhà kinh tế Nicholas Stern, khi khí hậu Trái Đất ấm lên có thể gây tổn hại tới 20% cho kinh tế toàn cầu, tức là ngang với những tổn thất mà hai cuộc chiến tranh thế giới và thời kỳ Đại suy thoái gây ra trước đây.

Tài liệu tham khảo

01.  “Con dao hai lưỡi” trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế thế giớihttp://www.f.news.f-network.net.

02.  Đánh giá mức độ về toàn cầu hoá (Phần I, II, III), http:// www.vcci.com.vn

03.  GS Nguyễn Đức Bình, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, PGS.TS Trần Xuân Sầm (Đồng chủ biên): Toàn cầu hoá – Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

04.  Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng. Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2004-2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

Hà Nội, ngày 20/05/2008


[1] – Toàn cầu hoá: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, Nxb Chính trị, Hà Nội, 2001, tr.12.

[2] – Toàn cầu hoá – Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb CTQG, HN, tr.69.

[3] – Định nghĩa Toàn cầu hoá, http://www.tuoitrecuoi.com.

[4] – Toàn cầu hoá, http://vi. Wikipedia.org/wiki.

[5] – Toàn cầu hoá – Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 28.

Leave a Reply

Your email address will not be published.