“MẤT DÂN GIAN LÀ MẤT HỒN DÂN TỘC”

Cố GS Trần Quốc Vượng có những nghiên cứu rất giá trị về văn hóa dân gian Việt Nam. “Mất dân gian”, theo ông, là “mất hồn dân tộc”. Tôi đồng tình với ông và vì thế xin post lên trang blog của mình một trong những bài “sáng giá” của ông bàn về vấn đề này.

Cụ Khổng Tử, từ thế kỷ thứ VI-V trước CN đã “tòng Chu”, “thuật nhi bất tác”, thừa kế và phát huy Chu học trở thành một vị “vạn thế sư biểu” và với tác phẩm chính – Luận ngữ – đã đặt tảng nền vững chắc cho Nho giáo – một hệ ý thức phù hợp với một nền văn minh nông nghiệp Trung Hoa phát sáng rực rỡ mấy nghìn năm có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều quốc gia láng giềng ở Đông Á, Đông Bắc Á, Đông Nam Á, trong đó có nước Việt ta.

Từ đời Chu đã đặt chức quan “Thái Thi” sưu tầm và tìm hiểu các sáng tác dân gian. Đức Khổng Tử đã căn cứ vào các tài liệu đó, tuyển chọn, san định thành Kinh Thi với câu nói nổi tiếng: “Bất học Thi, vô dĩ ngôn” (Không học thì lấy gì mà nói).

Trung Hoa là nước đầu tiên đã đưa sáng tác dân gian, cả văn, cả nhạc, vào Giáo dục rồi Thi cử. Ở các cấp thi Hương – Hội – Đình; “Cầm – Kỳ – Thi – Họa” trở thành chuẩn mực của tài năng. Dù sau này một số nhà Nho có xa rời dân chúng vào ngạch quan trường làm “Dân chi Phụ mẫu”, song đa số nhà Nho thân dân vẫn luôn nhắc lời Đức Phu Tử “Dân vi bản” hay/và nhắc lời Mạnh Tử “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.

Tấm bia thế kỷ XII ở xứ Thanh tụng ca Đức Lý Thường Kiệt: “… Nông dĩ bang bản, Dân thực vi Thiên, cổ bất thất chi” (Nông là gốc nước, Dân lấy ĂN làm TRỜI, nên (ông) không để (cho dân) bị lỡ thời vụ).

Cho đến bây giờ… Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương “lấy Dân làm gốc”, xây dựng một chế độ mới “từ Nhân Dân mà ra” và lại trở về “phục vụ Nhân Dân”, một chế độ “do Dân và vì Dân”, để cho “Dân nói, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra” và cuối cùng Dân sẽ được hưởng mọi phúc lợi xã hội. “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.

Cứ theo ý đó mà suy, nếu Dân là gốc nước thì Văn hóa Dân gian bao giờ cũng là nền tảng của văn hóa dân tộc. Nói như vậy chúng ta không hề phủ nhận sự đóng góp – nhiều khi to lớn – của tầng lớp trên trong những cái được gọi là văn hóa chính thống, bác học, cao… Văn hóa dân tộc = Văn hóa cung đình, chính thống + văn hóa dân gian.

* * *

Ta hiểu rằng, ở nhiều nước, khái niệm Folklore được hiểu với đôi chút sắc thái khinh thị (péjoratit): Chẳng hạn ở hội thảo quốc tế tháng 3 năm 94 tại Huế, Giáo sư G. Condominas đề nghị với tôi là thay từ Folklore bằng từ Traditions populaires và tôi đã tế nhị đồng ý.

Tôi nhớ lại hồi đầu năm 1991, khi tiếp xúc với GS Mỹ Alan Dundes ở Viện Folklore, Đại học Berkelay. Ông hỏi tôi:

– Việt Nam là thuộc địa cũ của Pháp. Chắc thế hệ các ông được đào tạo kiểu Pháp và hiểu Folklore theo kiểu Pháp?

– Thế nghĩa là…?

– … Người Pháp hiểu Folklore theo nghĩa “nhà quê”, “quê mùa”, văn hóa của nông dân, thôn dã (rural).

– Tôi biết nhiều học giả Pháp hiểu Folklore như vậy, nhưng chúng tôi hiểu Floklore khác.

– Nghĩa là…? Nghĩa là chúng tôi hiểu Folklore theo ý nghĩa rộng rãi nhất của khái niệm này. Về thời gian Văn hóa có Folklore cổ truyền và Folklore hiện đại. Về không gian Văn hóa, có Folklore nông thôn và Folklore đô thị. Ông biết đấy, khi xem danh thiếp của tôi, tôi là Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội. Mà Hà Nội là thủ đô nước tôi từ thế kỷ XI… Về hàm lượng, chúng tôi hiểu Folklore bao hàm không những văn hóa dân gian mà cả nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật âm thanh, nghệ thuật biểu diễn, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, cả bí quyết (Know-how) các nghề thủ công truyền thống nữa…

– Thế thì gần gũi với quan niệm Folklore của người Mỹ chúng tôi quá! Tuyệt vời!

Giáo sư Alan Dundes dẫn tôi đi xem các hộc tủ tư liệu Folklore các nước và phàn nàn rằng tư liệu Folklore Việt Nam ở Viện + Trường Đại học của ông có quá ít, không hiểu Việt Nam có Folkloreristics, có The study of Viet Nam Folklore không, hay chỉ là sự thu lượm tư liệu… Tôi trả lời:

– Chúng tôi có một đội ngũ Folklore học giả mấy trăm người (ông ngạc nhiên khi biết Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam có hơn 500 hội viên) từ Bắc chí Nam. Nước chúng tôi có Viện Folkloristics, các đại học lớn có bộ môn Folkloristics. Hội chúng tôi có chi hội văn nghệ dân gian ở nhiều trường đại học, từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh, ở nhiều viện khoa học xã hội và nhân văn, ở Đài phát thanh toàn quốc.

Chúng tôi không chỉ thu lượm mà còn nghiên cứu, phổ biến và truyền đạt di sản văn hóa dân gian để góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (national identity). Chúng tôi nghiên cứu Folklore cả về mặt lịch đại (diachronic), đặt Nó trong context Đông Nam Á, Đông Á và Nam Á, áp dụng các phương pháp liên ngành, có đối chiếu, so sánh, cố tìm hiểu sự giao thoa văn hóa giữa cung đình, bác học và dân gian ở bên trong và giao lưu, giao thoa với bên ngoài… Chúng tôi quan niệm nghiên cứu văn hóa và văn hóa dân gian là liên (inter) nghiên cứu văn hóa và văn hóa dân gian.

– Xin ông cho vài ví dụ?

– Ví dụ như việc nghiên cứu sự tích Trầu Cau, sự tích Ông Gióng, sự tích ngọc trai Mỵ Châu – Trọng Thủy… Chúng tôi đều đối chiếu với các dị bản (variants) ở Phù Nam, ở Indonesia, ở Ấn Độ, ở Trung Hoa, thậm chí ở châu Phi đen, ở Bretagne (Pháp),…

Tục lệ bánh chưng, bánh dày Việt Nam và tục lệ “tông bính” ở Tứ Xuyên, mochi ở Nhật Bản… Lễ hội đua thuyền ở Việt Nam và các “Fêtes des Eaus” toàn vùng Đông Nam Á, rồi nào là các trò chơi thả diều, kéo co… ở Việt Nam, ở Ấn Độ, thậm chí ở cả Mỹ la-tinh, thần độc cước ở Việt Nam và loại thần “Ông Trăng khuyết” như thế ở Tây và Nam Thái Bình Dương.

Nếu khảo cổ học – mà tôi là một thành viên sáng lập – bóc tách các lớp của một di chỉ từ lớp muộn nhất dần dà xuống lớp đáy xưa nhất, thì giới Folklorists Việt Nam – như Giáo sư Bùi Văn Nguyên ở Đại học Sư phạm Hà Nội và nhiều người khác (Giáo sư Đinh Gia Khánh, Giáo sư Chu Xuân Diên…) thì nghiên cứu các Thần Thánh của tín ngưỡng dân gian chúng tôi cũng bóc tách các lớp văn hóa từ muộn đến xưa – như các lớp phủ “Sơn Tinh”, “Hùng Vương”, “Trương Hống – Trương Hát”, v.v… để mong cuối cùng tìm thấy cái “cốt lõi cơ bản” được giải mã thành Thần Núi, Thần Nước, v.v…

Nghiên cứu văn hóa dân gian tộc người nào chúng tôi cũng đối chiếu liên – dân tộc như Tấm Cám, Trầu Cau, Sơn Tinh – Thủy Tinh Việt với Tấm Cám – Trầu Cau Tày Thái, Bua Pa Ví (Ba Vì) – Bua Khú Mường… Man nương Khâu Đà La Việt với nàng Trầm Hương – Hoàng tử Bắc Hà (Champa), Liễu Diệp – Kaudinya Phù Nam để cuối cùng rút ra cái lõi cơ bản chung ba vùng Bắc – Trung – Nam (xưa thuộc 3 văn minh – quốc gia khác nhau) là:

Vợ bản địa + chồng ngoại nhập

Mẫu hệ tảng nền + Lớp phủ phụ hệ ngoại sinh

Và chúng tôi gọi đó là tảng nền chung Đông Nam Á của văn hóa và hệ quả giao lưu văn hóa của Việt Nam và Đông Nam Á. Cũng thế, chúng tôi nghiên cứu diễn trình tiếp xúc, giao thoa, biến đổi văn hóa dân gian như từ Yang Po Nagar Chăm đến Thiên Y A Na Việt. Từ Ông Gióng anh hùng văn hóa đến anh hùng dân tộc và chúng tôi cắt nghĩa theo môi trường tự nhiên – mây mưa sấm chớp (dông) và môi trường nhân – văn lịch sử…

– Ô! Thế thì giới flolklorists Việt Nam nghiên cứu phương pháp luận, có cách tiếp cận “bài bản” lắm. Hóa ra các ông nhìn một nền Folklore Việt Nam như là một phức tổng thể tương đồng mà đa dạng, lại đặt nó trong bối cảnh rộng hơn: Đông Nam Á Thái Bình Dương, có đối sánh với các vùng Văn hóa – Văn minh khác: Nam Á, Đông Á rồi xa hơn nữa. Tiếc rằng do tình hình cấm vận, tôi không được biết các thông tin. Gặp được ông, thật may mắn quá…

– Tôi chưa phải là phát ngôn viên chính thức của giới Flokorists Việt Nam, vì, sao chăng nữa, trước hết tôi là một là nhà sử học và khảo cổ học. Tôi mong được kính mời Giáo sư Alan Dundes sang thăm Hà Nội – Việt Nam và tiếp xúc với giới Folklorists Hà Nội – Việt Nam.

– Rất hân hạnh và xin cảm ơn về lời mời chưa chính thức này…

Tôi nghĩ rằng khi nhắc lại một đoạn đối thoại trên đây giữa một giáo sư Việt Nam – không rành rẽ lắm về Folklore Việt Nam – và một giáo sư Mỹ, chuyên gia hàng đầu của Mỹ về Folklore học, tôi cũng chẳng xấu hổ gì lắm về tư cách “đại diện” của mình cho nền Văn hóa học Hà Nội và nền Văn hóa học dân gian toàn Việt Nam.

* * *

Để tạm dừng – tôi xin “chốt” lại những gì mà mình muốn giãi bày về những năm sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến và truyền dạy của giới Văn hóa – Văn nghệ Dân gian Việt Nam nói chung – có xen vào tí chút thể nghiệm cá nhân, là như sau:

1. Việt Nam là MỘT. Một quốc gia. Nhưng là một quốc gia đa tộc.

Do vậy mà:

2. Có một nền Văn hóa Quốc gia kết tinh ở chủ nghĩa ÁI QUỐC VIỆT NAM, không bao giờ và không gì có thể chuyển lay.

3. Song, nền văn hóa Việt Nam lại rất đa dạng, theo thời gian diễn triển, theo không gian gia đình – làng xã, vùng miền – tộc người… theo các mối giao lưu rồi giao thoa: hỗn chủng, đan xen, hỗn dung, tiếp xúc, biến đổi, biến dạng… nhưng cuối cùng vẫn hội tụ – kết tinh và định hình một nền Văn hóa:

Có cơ tầng Đông Nam Á

Có nhiều thành tố Nam Á

Có nhiều thành tố Nam Đảo

Có nhiều thành tố Đông Á

Có nhiều thành tố Tây phương, Pháp, Mỹ, Anh, Nhật, v.v…

Người ta nói đến “melting pot” (Nồi hầm nhừ – theo Hữu Ngọc dịch) của Văn hóa Mỹ, nói đến “mosaic” (tranh khảm đa sắc) của Văn hóa Úc, v.v… Song Việt Nam giống mà khác. Văn hóa Mỹ, Úc là những nền văn hóa “tương đối mới” mà hơn 200 năm chưa đủ “nhừ”, chưa đủ “nhuyễn” để tạo thành “căn cước”, một “bản lĩnh”, một “bản sắc”, mà người ngoài gọi là National Identity. Còn Việt Nam ta thì đã có “mấy ngàn năm văn hiến” với một thủ đô “ngàn năm văn vật” thì cho dù trải Lý, Trần, Lê, Nguyễn lịch đại hay trải Bắc, rồi “một đèo, một đèo, lại một đèo” qua Trung, và từ đấy tiến vô Nam thì:

Dù có xa nhau vạn dặm đường

Dù có xa nhau nhiều bối cảnh

Dù có tiếp thu, ở những mức độ khác nhau trong “không – thời gian” khác nhau về nhịp điệu tiếp biến văn hóa, thì Việt Nam ta: “bốn ngàn năm ta vẫn là ta…”.

Ta đây, không phải là văn hóa cung đình, vì Lý, Trần sùng Phật, Lê, Nguyễn sùng Nho,… thuộc địa sùng Tây, v.v… mà TA chính là Dân gian mà cũng là dân tộc. Dân gian Việt Nam là Hồn nhiên, là Cục mịch, là Thẳng thắn, là Thuận mắt, là Chất phác, là Dân gian, là Dân/Gian.

Do vậy câu định nghĩa của H. Varagnac “Est populaire, cequi n’est pas offiel” đúng (với Tây) mà không mấy đúng ở ta.

Hà Nội, cuối thu Kỷ Hợi

tháng 11 năm 1995

GS. Trần Quốc Vượng

Hà Nội, ngày 15/04/2020

Bùi Tâm Văn

Leave a Reply

Your email address will not be published.