“Tổ tiên ta và thương trường”

1. Xã hội truyền thống của ta – như Nguyễn Ái Quốc đã nhận định từ đầu thế kỷ XX – là một xã hội Nông Dân, với những nền văn hóa xóm làng và nền văn minh thôn dã. Đại đa số đồng bào ta sống ở Làng (Xã thôn, bản, buôn, ấp…). Sống ở làng, sang ở nước!

Sang, là khi thi đỗ (võ – văn) cao, được vua cho biển “ân tứ vinh quy”, hẵng “vinh quy” về làng – xã – tổng cái đã, để “Dân biết mặt nước biết tên”. Tổ chức lễ cỗ khao vọng xã dân cái đã, sau ít tháng mới “lên Kinh”, đợi Vua và Triều đình ban cho một chức Quan. Rồi khi bị cách chức bởi một lẽ nào đó, hay khi tuổi đã cao, được về hưu trí, thì lại quay về làng, chết ở làng, mộ chôn ở làng, cùng phần mộ tổ tiên.

Đi làm quan hay đi buôn bán làm ăn xa thì khi Giỗ Tết cũng cố về làng quê ít ngày. Chẳng tin, xin quý độc giả cứ đọc cuốn “Kể chuyện lên Kinh” (“Thượng Kinh ký sự”) của cụ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác viết vào năm 1786 thì khắc biết!

Mà thật ra cho đến trước cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, một số bà con ta “ra tỉnh” làm nghề thủ công, làm nghề buôn, làm công chức, hay làm quan – lại, vẫn “đóng góp”, thuế thân (và một số nghĩa vụ khác) ở làng quê – bản quán. Chỉ nếu như: “Văn chương phú lục chẳng hay”. Thì dường như không có con đường nào khác, là: “Trở về làng cũ học cày cho xong”.

Có thể nói không ngoa rằng: Cái khí quyển tinh thần tâm lý – xã hội – văn hóa… của một “Việt Nam truyền thống” (xã hội cổ truyền) là khí quyền tiểu nông.

2. Xã hội tiểu nông thì căn bản là tự cung – tự cấp lại vì nguy cơ ngoại xâm gần như là một nguy cơ thường trực, nên vua quan và triều đình, vì lý do an ninh xã hội, thường có thái độ nghi kỵ người nước ngoài đến làm ăn buôn bán ở nước ta. Và do vậy, thường có chính sách “bế quan tỏa cảng”! Trật tự xã hội, lấy Sĩ làm trọng, kinh tế xã hội, lấy Nông làm trọng, còn Công – Thương xếp loại ba, loại tư… Dân chài, xướng ca là loại “giang hồ” nay đó mai đây, lại còn không được “xếp loại” [“vô loại (loài)”] nữa cơ!

Vua tốt (“minh quân”), thì cơ bản cũng chỉ mong và cố làm sao cho Dân: An cư – lạc nghiệp! (Ở yên, Vui nghề). Trong khi, như mọi người biết, tính di động, lưu động, lãng du – chu du – viễn du… nữa, là một đặc điểm của thị dân và văn hóa đô thị! Đó là tiền đề tinh thần của kinh tế du lịch.

Tiểu nông thì cũng phải lo nhiều thứ “Trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm”, lo mất mùa, lo giặc giã “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”… nên có tâm lý cần kiệm, lo để dành, có của lo chôn của chứ không/ít dám đưa ra kinh doanh.

An phận thủ thường là một nét tâm lý nông dân. Họ hàng – làng xóm thì có mặt rất tốt là cố kết cộng đồng có tinh thần cộng cảm, tương trợ, đỡ đần nhau, song lại có mặt trái là xét nét nhau; mà vì sợ xét nét, nên có của thì giấu đi là hơn, “giả nghèo giả khổ”, không dám “khoe của”, phô phang “nhà cao cửa rộng” (trừ nhà quan!) không dám “mở cửa hiệu” đàng hoàng, chỉ “thì thà thì thụt”, giấu lén…

Buôn lậu, là cái căn tính của xã hội nông nghiệp.

Sĩ – sư thì lại có tâm lý “nhà nho thanh bạch”, “an bần lạc đạo”, vui/thỏa mãn với cảnh nghèo hay/và chỉ cần “đủ ăn”. Tâm lý làm giàu kém phát triển trong xã hội “cổ truyền”, mà đó lại là một nét đặc trưng cần phải có của thương nhân (“phi thương bất phú”).

“Làm kinh tế” trong xã hội có cơ chế thị trường, cũng như người đi biển, phải có tính phiêu lưu – dù đã “tính toán kỹ lưỡng”. Xã hội tiểu nông, tâm lý tiểu nông không thích và không khuyến khích tính phiêu lưu (adventure), liều lĩnh… mà lại ưa tính “chắc ăn” – “ăn chắc mặc bền”; được đời sống hằng ngày “cơm ba bát, áo ba manh” là đã thỏa mãn lắm rồi, còn hơn nhiều cảnh “ăn bữa nay, lo bữa mai”, “vá chằng vá đụp”… Trong khi đồ ăn mặc theo “thời thượng”, theo mốt (mode), thời trang lại là một nét không thể không có của một xã hội thị trường, xã hội đô thị và đô thị hóa… hiện đại!

3. Nhưng… có xã hội của con người là có phân công lao động xã hội. Và do vậy, phải có trao đổi: “Có con người là có phân công, có trao đổi” (Karl Marx). “Phân công” lao động là tiền đề của trao đổi. Đây không chỉ là một ý niệm kinh tế mác-xít, mà là một chân lý kinh tế – xã hội học nói chung. Ngay từ thời nguyên thủy của loài người…

Nhiều nhà kinh tế – xã hội học bảo: Trao đổi đầu tiên trong xã hội loài người là… trao đổi đàn bà! Do nguyên lý của xã hội loài người là nguyên lý cấm loạn luân giữa những người “cùng dòng máu” (sau ta gọi là họ hàng) nên các thị tộc nguyên thủy phải kiếm tìm – ngay từ đầu một/vài thị tộc khác để liên kết quan hệ hôn nhân: Bất cứ hôn nhân “hợp lệ, hợp pháp” nào – từ xưa đến nay – đều là hôn nhân ngoại tộc (Exo-gamy…) – lấy Mẹ hay/và họ mẹ làm trung tâm – như người Êđê, Giarai, Chăm… của từ ngàn xưa cho đến hôm nay – hay là Phụ hệ (Patriacarcat) – lấy cha hay/và họ cha làm trung tâm, như người Âu, người Hoa, người Kinh/Việt.

4. Sau cái sự trao đổi đàn bà, là sự trao đổi quà tặng. Học giả lẫy lừng Pháp, Marcel Mauss, đã có công trình nghiên cứu “để đời” Essai sur le Don (tiểu luận về quà tặng/biếu), được rất nhiều học giả mác-xít luôn tán thưởng và dẫn tụng.

Bởi vì… mỗi cộng đồng nguyên thủy – như V.I. Lenin, và trước đó F. Engels, nhận xét, họ cần phải sống cộng đồng ở thế “chẳng đặng đừng” do sự bất lực của từng cá nhân trước vũ trụ mênh mang mà họ không thể “ngày một ngày hai” tìm và hiểu ngay được, do cơ sở hạ tầng của xã hội nguyên thủy cực kì hạn chế – “núi cách sông ngăn” chẳng hạn, giao thông chưa phát triển… nên buộc phải sống trong một không gian quá nhỏ hẹp như vậy, họ thiếu thốn đủ thứ mà một nét rất cơ bản của con người khác loại vật khác, là tính bản năng “bất mãn”, không bao giờ thỏa mãn… với cái gì Trời Đất cho sẵn.

Vì thế con người phải làm thêm, thêm nếm chút gì vào cái “của Trời” cho ấy… Vì thế mà nảy sinh sản xuất (production). Vì thế mà nảy sinh phân phối, lưu thông, trao đổi… bốn thành tố chính của một chu kỳ kinh tế (economic – cycle).

Vẫn theo Marcel Mauss, thoạt kỳ thủy, chưa có thương nghiệp – thương trường – theo nghĩa hẹp của nó, là “tiền trao cháo múc”. Loài người không bắt đầu bằng tiền, và ước mong lớn nhất của con người cũng là làm sao trong tương lai không cần tiền bạc. Chuyện phát sinh tiền bạc và từ đó tâm lý tiền bạc, ta sẽ nói dài dài về sau.

Nay hãy nói ở cái thời kỳ chưa có tiền bạc – công cụ trung gian trao đổi ấy – thì loài người phải hành xử, ứng xử như thế nào trước thiếu thốn, về nguyên liệu, vật liệu, đá đất thôi chẳng hạn, đâu phải nơi nào cũng có loại đá tốt để làm công cụ đá. Đâu phải nơi nào cũng có đất sét, dù vàng, dù trắng, để làm gốm (bao gồm đồ đựng, đồ đun nấu, đồ dùng để ăn/uống)…

Thế thì phải làm gì? (Que faire?, một tác phẩm nổi tiếng của V.I. Lenin) và Làm như thế nào? (Pourquoi faire?, một tác phẩm nổi tiếng khác của J.M. Keynes, nhà kinh tế học nổi tiếng của châu Âu “cứu” chủ nghĩa tư bản trên “bước đường (tột) cùng” của Nó, người được coi là “nhà kinh tế học nổi tiếng nhất sau Adam Smith, Ricaro và Marx”, mà tiếc thay trong một thời gian dài mấy chục năm ròng, giới kinh tế học – doanh nghiệp nước ta dường như – thậm chí cho đến nay – còn chưa/ít biết đến!).

Người nguyên thủy làm như thế này: Tìm cách đánh bạn (chơi) với một/vài công xã – thị tộc láng giềng để trao đổi trao quà tặng/biếu – tất nhiên là “có đi có lại” – để mong bù đắp phần nào sự thiếu thốn của mình… Đấy, cái ông Marcel Mauss nổi tiếng, cháu ruột và học trò của ông chú/bác nổi tiếng không kém hoặc hơn nữa là đằng khác – Emile Durkheim (1858-1917) – “cha đẻ của Xã hội học hiện đại” – đã đi tìm nguồn Thương nghiệp từ Trao đổi Quà tặng nguyên sơ, chưa chút bợn gợn về cái lý do “ích kỷ” về sau: “ông rút chân giò, bà thò chai rượu”…

Hà Nội, đầu năm 1995

GS. Trần Quốc Vượng

Leave a Reply

Your email address will not be published.