Bản ngã cộng đồng trong và qua nền văn hóa – văn học Việt Nam (I)

(Đây là bài viết hay về “Bản ngã cộng đồng” của cố GS. Trần Quốc Vượng. Nội dung khá dài, tôi chia đôi để đưa lên blog, phục vụ các bạn quan tâm đến chủ đề này)

Có một Phật thoại – tức cũng là huyền thoại – ở xứ Phật (Ấn Độ = Hindou – Shindu nổi danh hoàn vũ là Huyền địa = Đất đai – tảng nền huyền thoại) kể rằng: Khi Mẫu hậu – Đức mẹ Maya của vương quốc Kapilavastu (nơi giáp ranh Nepal của Ấn Độ hôm nay) đứng tựa cây Vô Ưu (hay còn gọi là Ưu Bà) theo sinh học là một loại cây họ “lòng vả cũng như lòng sung”, có nghĩa là chớ lo (ưu) phiền, vì hư tâm, hay vô tâm cũng được – để sinh thành ra thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha Gautama) – sau sẽ thành Đức Thích Ca Mâu Ni Phật (Shakyamuni).

Đẻ đứng là một phong tục của cư dân đồng tộc của Đức Thích Ca khi ấy. Ngài cũng là một sản phẩm của Tự nhiên thôi: Không ai – bất cứ ai – lọt lòng mẹ mà đã khoác sẵn kim bào, cẩm bào hay “áo rách”; chính hơn hai ngàn năm sau, ông tổ Kalr Marx của học thuyết “Đấu tranh giai cấp” cũng công nhiên thừa nhận rằng: “Trẻ con không (chưa) có tính giai cấp”; chúng không có quyền “lựa chọn” cửa quyền môn hay hàn môn nào để sinh ra trên cõi đời này…

Vậy, Đức Phật, tức thái tử Tất Đạt Đa – ở trạng thái trụi trần – vừa lọt lòng Mẹ đã bước đi 7 bước, mỗi bước chân Ngài đặt nhẹ trên 7 bông sen (7 là con số vũ trụ – cosmic number, Sen là biểu tượng trắng trong – trẻ con nào mới lọt lòng mẹ mà không trắng trong?). Một tay (tay Trái – tượng trưng cho Nam – Đàn ông – “Nam tả”) Ngài chỉ lên Trời (thế giới các tầng Cao), một tay (tay Phải – tượng trưng cho Nữ – Đàn bà – “Nữ hữu”) Ngài trỏ xuống Đất (thế giới các tầng Sâu).

(Con người là sự kết hợp hài hòa Âm – Dương, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, trong đàn ông có đàn bà tính, trong đàn bà có đàn ông tính. Đó là phép biện chứng phương Đông). Rồi Ngài cất lên lời phán truyền bất hủ – được dịch ra Hán ngữ và Việt ngữ như sau: Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn (Trên trời, dưới Trời – khắp gầm trời này – duy chỉ có một mình Ta/Tôi là tôn quý nhất mà thôi!).

Đã có biết bao lời bình giải về Thông điệp (message) đầu tiên này của Đức Phật! Có người quá duy lý bảo đây là “chuyên bịa”: Chẳng có đứa trẻ nào vừa lọt lòng mẹ đã biết đi, biết nói, lại nói những lời quá cao cả – hay ngạo mạn.

Tây hay Đông, Nam hay Bắc thì, với năm đầu của đứa trẻ, đại khái đều theo quy luật này (tất nhiên, đã gọi là quy luật thì bao cũng có ngoại lệ: “3 tháng biết lẫy, 7 tháng biết bò, 9 tháng lò dò chạy đi”. Xin lưu ý 3-7-9 đều là số lẻ và rồi sẽ trở thành số tượng trưng hay/và số thiêng. Người quá duy lý đều là kẻ vô tín ngưỡng. Có người tín mê (mê tín là ngữ pháp Việt của tín mê) thì chấp nhận hoàn toàn, không cần lý giải (lòng tin nào mà chẳng không cần biện giải), và họ bảo: Thế mới là Đức Phật chứ, nếu không thì chỉ là thường nhân của cõi đời này. Đây là cõi Phật (thế giới Tâm linh) cơ mà!

Kẻ ngu hèn viết những dòng này thì… chọn một chỗ đứng ở giữa (“Doãn chấp quyết trung” theo Nho giáo, hay “Làm con trai cứ nước hai mà nói” theo triết lý dân gian – dân dã).

Nhưng đã là huyền thoại (dù Phật thoại) thì phải tiếp cận lời nói (Verb) ấy không thể theo thói thường, cho dù cái Phi thường – như lời Phật nói trên – bao giờ cũng nằm trên những cái Thường Thường (ví dụ như truyện Bánh Trưng – Bánh Dày vậy, từng yếu tố là thường thường, song cấu trúc các yếu tố đó lại theo một cung cách nào đó thì lại trở thành Sáng Tạo, thành Cái Mới, siêu việt lên trên cái thường thường (xoàng, xoàng). Truyện Trầu – Cau – vôi cũng vậy).

Ông Phó giáo sư Trần Lâm Biền (con cháu họ Lâm, được đem bán khoán cho Đức Thánh Trần) tự coi là một Phật tử – và nhiều người gọi ông là nhà Phật học – đã giải mã Lời Nói Đầu Tiên của Đức Phật (Buddha = Đấng Giác Ngộ) như sau: Cái Ngã trong lời Đức Phật nói trên không phải là Tiểu Ngã, là Cá Nhân Đức Phật, mà là cái Đại Ngã, cái Toàn Thể, toàn Nhân Loại!

Dù là bạn ông Trần Lâm, nhưng không theo nổi Phật đạo như ông – tôi suy diễn Phật thoại ấy có phần hơi khác: Đấy là sự hòa hợp vẹn tròn của cái Tiểu ngã với cái Đại ngã. Những nhân vật có cá tính mạnh, nhân cách lớn (Đức Phật, chúa Gieessu (Jesus), Bác Hồ…) đều tự khẳng định mình như thế!

Tôi (T.Q.V) là Người (tuy có phần “nửa người nửa ngợm”). Đức Phật Thích Ca cũng vốn là Người. Vậy thế nào là Người? Có anh bạn tôi, sính – sành chơi chữ, bảo Con Người có cả hai phần Con (con thú) và Người (siêu việt lên trên mọi loài thú).

Tôi thích trích dẫn lời các nhà bác học – để tỏ ra mình cũng có phần “uyên bác” – khi các vị đó cần phải định nghĩa (giới thuyết) về Con Người. Nhà xã hội học Joseph H. Fichtre viết: “Con người khác loài vật (khác) là ở chỗ có khả năng suy tư trừu tượng, có thể quyết định và lựa chọn. Con người là sinh vật tự điều khiển lấy mình. Con người ta có thể làm những dự án, trù liệu và tính toán cho tương lai, suy nghĩ về chính những hành động và phản ứng của mình, chịu trách nhiệm về hành vi của cá nhân mình và có khả năng phát triển ý thức trách nhiệm đối với người khác (Joseph H. Fichter, Sociology (Xã hội học), The University of Chicago Press, in lần thứ hai, 1971).

Nhà phân tâm học chống Phát-xít Đức Erich Fromm – được coi là một nhà nhân văn lớn – thì bảo: Hai con người vĩ đại nhất thế kỷ XIX-XX là Karl Marx và Sigmud Freud. Phối hợp tư tưởng cả hai ông, Fromm cho rằng: “Con Người vừa là một sinh vật xã hội (social animal) vừa là một cá nhân (individual)”. Tính xã hội là cái được môi trường đào luyện (gia đình – xóm làng – đất nước). Cái cá nhân là bẩm sinh, từ thuở (chưa) lọt lòng mẹ (vì vậy mà có ngành “Thai giáo” trước ngành “Mẫu giáo”).

Nhưng từ cá nhân, từ tính tự kỷ trung tâm của một đứa trẻ đến… chủ nghĩa cá nhân thì còn là một chặng đường dài lịch sử. Nó cũng dài như câu ca dân gian Việt: “Trống làng chưa đánh thì thùng/ Của chung sao (ai) khéo vẫy vùng thành riêng!”. Cái chung (đại đồng, đại ngã) và cái riêng là sự hòa kết tự nhiên, như Âm Dương lưỡng hợp và lưỡng phân trong một con người, bất cứ ai.

Thiên về cá nhân (thơ Cụ Hồ dùng từ “thiên ái”) quá đáng sẽ thành kẻ cá nhân vị kỷ. Và không một thời đại nào – kể cả “thời xưa” – đề cao giá trị của những kẻ chỉ tự biết có mình, “ky bo kiệt lõ”… “Chân mình những phẩn dề dề/ Còn đem bó đuốc mà rê chân người”. Với những kẻ cá nhân chủ nghĩa, dân gian bảo: “Thử sờ lên gáy xem xa hay gần?”.

“Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”, “Sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi”, những người như thế đâu có giá trị tốt, theo người đời nhận định. Các hệ thống triết lý nhân văn – kể cả, bao gồm cả cái lõi triết lý trong mỗi nền tôn giáo đều đề cao ý thức trách nhiệm với người khác…

Đức Khổng Tử “Vạn thế sư biểu” của Nho giáo, đề cao chữ Nhân, chiết tự ra là “nhị nhân”: Phải vì người khác, người thứ hai ngoài cá nhân mình, “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”. Triết lý sống của chúa Giê su tóm tắt vào hai chữ Bác ái. Triết lý nhà Phật là Vị tha (vì người khác) với ứng xử phổ quát là Bố thí (cho đi), “cho tức là nhận”.

Đức Mạnh Tử đề cao chữ Nghĩa, con người sống ở đời phải có “nghĩa vụ”: Thấy việc cần làm, nên làm, và phải làm, dù cá nhân mình có chịu thiệt thòi, hay hy sinh nữa: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã” (Thủ Khoa Huân). (Thấy (việc) nghĩa (mà) không làm (là) kẻ không có dũng (khí)).

Ngay triết học Hiện sinh – mà bao phen giới triết học nhà ta phê phán không thương tiếc – đã có hai “khái niệm” để đời: Sống là cá nhân nghiệm sinh (vesccu) nhưng sống bao giờ cũng sống với: Sống với tự nhiên, sống với tha nhân, với xã hội. Các tác giả Ba chàng ngự lâm pháo thủ (Alexandre Dumas), nhà văn Stendhal của Đỏ và Đen, rồi Somerset Maugham, rồi Lev Tolstoi, rồi Karl Marx,… luôn luôn nhắc lại một triết lý cao đẹp phổ quát toàn nhân loại: “Một người cho mọi người, mọi người cho một người” (Nôm na: Mình vì mọi người, mọi người vì mình).

(Còn nữa, mời bạn đón đọc tiếp nửa sau)

GS. TRẦN QUỐC VƯỢNG

Hà Nội, ngày 13/04/2020

Bùi Tâm Văn

Leave a Reply

Your email address will not be published.