Bản ngã cộng đồng trong và qua nền văn hóa – văn học Việt Nam (II)

Vậy cái chung và cái riêng bao giờ cũng song hành trong mọi hệ giá trị văn hóa Đông Tây kim cổ: Độ tuyệt vời là sự Hòa Hợp bản ngã và cộng đồng “Le moi est haissable” (cái Tôi thật đáng ghét) là một lối nói quá đà, nhưng là một đối tượng ở những xã hội phương Tây một thời chủ nghĩa cá nhân phát triển đến quá mức quá đáng!

Năm 1982, toàn thế giới mác – xít kỷ niệm 100 năm ngày ra đời của tác phẩm nổi danh của F. Engels Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước mà V.I. Lenin xưng tụng là “cuốn sách gối đầu giường của mỗi người cộng sản giác ngộ” (xin xem Các Mác và chủ nghĩa Mác, Nhà nước và cách mạng, v.v…). Viết sách ấy, F. Engels vĩ đại có một dòng tiểu chú dưới Đề sách “dựa theo các tài liệu của L. Morgan” và khiêm cung tỏ bày trong lời Tựa: “Chừng nào các tài liệu của Morgan được chứng minh là sai thì cuốn sách này cũng phải viết lại”. Biết bao các nhà nhân học và dân tộc học đã vạch ra rất nhiều sai lầm của Morgan khi đi điền dã lấy tài liệu ở các bộ lạc da đỏ Iroquois (lãnh địa của họ này thuộc bang New York. Và tôi cũng đã đến đó).

Giới khảo cổ học và dân tộc học hiện đại đã chứng minh đầy sức thuyết phục rằng: Ngay từ thời đại đá và trong công xã nguyên thủy, nhiều đồ dùng (công cụ, dụng cụ…) là của cá nhân: không thể, ngay từ buổi đầu nhân loại, cái gì cũng chung chạ để rồi xẩy ra cái cảnh “cha chung không ai khóc”. “Trên chùa lắm sãi chẳng ai đóng cửa chùa”…

Cũng vậy, giới học giả hiện đã chứng minh rằng: Luật tục mở đầu sự sinh thành của Nhân loại là luật cấm loạn luân và từ thời đại đồ Đá đã có gia đình, với vợ chồng – con cái chưa trưởng thành, đâu phải cứ nguyên thủy là tạp hôn, là chồng chung vợ chạ… rồi mãi sau mới có đối ngẫu hôn và sau đó nữa mới có gia đình hạt nhân! Vả lại đọc kỹ chương II (Gia đình) trong tác phẩm dẫn trên của F. Engels thì tôi thấy ông già vĩ đại này hẳn nói và tin như vậy. Ở chương đó vẫn có một câu buông thòng: Có thể ngay từ đầu đã có những cặp vợ chồng sống tương đối lâu dài với nhau (nhưng không có những thủ tục kết hôn phức tạp như ngày nay, thế thôi). Nói người cộng sản chủ trương “tam vô” (vô gia đình, vô Tổ quốc, vô thần) là một kiểu chống Cộng thô sơ, quá mùa, tuy quả thật như Lenin sớm nhận ra, quả là có thật một “Bệnh ấu trĩ (tả khuynh) của chủ nghĩa cộng sản” – kể cả những người cộng sản Việt Nam!

Khi cụ Khuất Nguyên nói: “Người đời đục cả một mình ta trong, người đời say cả một mình ta tỉnh”, đó không phải là cá nhân cao ngạo mà là sự tự khẳng định nhân cách cao cả của mình.

Trong thơ mừng nhà mới của Ức Trai, ở câu kết, Lý Tử Tấn, cũng khuyên Ức Trai đừng “tỉnh một mình”, cũng như Vũ Mộng Nguyên cũng nhắn bảo Ức Trai cần “theo thời”. Nếu thế, lịch sử văn hóa – văn học Việt Nam đã không có Ức Trai và bi kịch Lê Chi Viên!

Ức Trai là một nhân cách lớn. Ông hiểu đến chân tơ kẽ tóc cái “nhân tình thế thái”, song ông vẫn giữ vẹn tròn khí tiết Nho phong: Cuộc thế bạc đen dầu nó biến/ Ta gìn Nhân Nghĩa chớ loàn đa!... “Tôi vẫn là tôi của một thời đã qua. Tôi là người Ái Quốc”. Ông còn khẳng định Ông là anh hùng nữa cơ. Thì đã sao nào?… “Trời xanh cố ý hãm anh hùng!” (Ngục trung nhật ký).

Ông vẫn mộng mơ “cưỡi Rồng lên thượng giới” làm “khách thần tiên”: Lão Trang (nhấn vào cá nhân) là đối trọng của Khổng Mạnh (nhấn vào đại đồng) và vẫn chỉ là Hai mặt của Một nền văn hóa – văn minh Hoa Hạ, Á Đông… Ngày trước, trong nhiều bài viết, (tự tôi viết, không nhờ ai viết hộ) tôi xưng TÔI. Và bị gạch bỏ. Sao vậy nhỉ?

Hãy trở lại với định nghĩa Con Người của J.H. Fichter: Con người là sinh vật tự điều khiển lấy mình (chứ đâu chỉ “theo đuôi” con đầu đàn, như đàn trâu, đàn ngựa), tự chịu trách nhiệm về lời nói và hành xử của mình, và phát triển ý thức trách nhiệm với người khác!

Trên văn đàn nước ta, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến cái TÔI cá nhân được biểu hiện trong thơ văn Chiêu Lỳ (Phạm Thái), Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát… phản ánh khát vọng đòi quyền sống, quyền tự do yêu thương, thậm chí cả cái TÔI “hưởng lạc” khi nhìn cuộc “hí trường”, nhân sinh “ba vạn sáu ngàn ngày là chốc…”… Nhà “thơ mới” Phạm Huy Thông đã say mê Chiêu Lỳ và mối tình tuyệt vọng với Trương Quỳnh Như, được bộc lộ cảm xúc qua thơ và gây xúc cảm với con người cá nhân đầu thế kỷ XX như một tiền triệu của thơ văn trữ tình “anh và em” trong phong trào ta gọi là Thơ Mới. Phiêu lãng Hồ Xuân Hương giữa thế kỷ XIX, “một đèo, một đèo, lại một đèo” và ý thức rất mạnh về bản cách của mình: “Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ/Lại đây cho chị dạy làm thơ…”. Thì mấy ai ở giữa thế kỷ XX địch được?

Cuối cùng xin phép trở lại với nền văn hóa xóm làng và văn hóa dân gian Việt Nam. Trong nền văn hóa xóm làng truyền thống đó, con người phải sống với gia đình (và gia đình mở rộng = họ hàng). Phải nhớ ơn tổ tiên, phải ơn nhớ “công cha”, “nghĩa mẹ”, phải thuận tình với anh chị em: “chị ngã em nâng”, “anh em như thể chân tay”, phải “thuận vợ thuận chồng”, phải hiểu “họ chín đời còn hơn người dưng”, “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, v.v…

+ Sống với làng: “hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau” vì “Lũ lụt thì lút cả làng – Đắp đê phòng lụt thiếp chàng cùng lo”…

+ Sống với đất nước, một quốc gia tuy nhỏ nhưng là hợp thể của nhiều người: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng, v.v…”.

Đã một thời, có nhiều học giả Việt Nam và nước ngoài luôn nhấn mạnh vào luận điểm này: Phương Tây tư bản chủ nghĩa phát triển đến cao độ chủ nghĩa cá nhân, phương Đông (trong đó có Việt Nam) – mà theo cụ Karl Marx thì ruộng đất – tảng nền của nghề nông và văn minh nông nghiệp – đều là của công – cho nên rất phát triển chủ nghĩa cộng đồng và do vậy dễ chuyển sang chủ nghĩa cộng sản, “Thế giới đại đồng, thiên hạ vi công” (Khổng Tử). Người ta nói đi nói lại về một “phương thức sản xuất châu Á” (MPA), trong đó tồn lưu chế độ sở hữu quốc gia về ruộng đất. Điều đó có phần đúng mà/và không đúng. Dân gian có những câu: “Đất của Vua, chùa của Làng”, “Phép Vua thua lệ Làng”.

Mỗi làng Việt có một cá tính rất cao đậm, biểu hiện ở giọng nói, ở việc thờ thần làng (ta quen gọi là thành hoàng), ở phong tục tập quán, kiêng kỵ: “Đất có thổ công, sông có Hà Bá”, “Đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”…

Làng Việt từ lâu đã không còn là “công xã nguyên thủy” mà, để dùng một khái niệm của chủ nghĩa Mác, đã là “công xã nông thôn”. Nói giản dị, như Trần Từ trong Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền, làng Việt là một hợp thể của nhiều gia đình tiểu nông.

Làng Việt là một làng tiểu nông. Trong nền văn hiến nông nghiệp kỹ thuật cũ (truyền thống) thì “quy trình công nghệ” và sự “phân công lao động” tối ưu từ ngàn xưa cho đến hôm nay vẫn là: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa”.

Đơn vị sản xuất nông nghiệp và thủ công là gia đình nhỏ, chứ không phải là gia đình lớn hay họ hàng. Đó chỉ là một đơn vị “cộng cảm”, “tương trợ”, khi đã trưởng thành, đã “ra ở riêng” thì cảnh quan xã hội bao giờ cũng là “anh em kiến giả nhất phận!”

Nhiều quý vị giáo sư đã chứng minh đầy thuyết phục rằng ruộng tư đã hiện hữu trong các làng Việt từ thời Lý (thế kỷ XI-XIII) và sang thời Lê-Trịnh (thế kỷ XVIII), ruộng tư đã lấn át ruộng công (ruộng làng, ruộng họ…) phân chia (“quân điền”) cho các gia đình tiểu nông cày cấy, dăm ba năm mới chia lại, điều chỉnh lại một lần…

Xã hội xóm làng Việt là một cái biển tiểu nông, tiểu thủ công – tiểu thương, hỏi làm sao không có một thứ chủ nghĩa cá nhân tiểu nông (không phải, chưa phải là chủ nghĩa cá nhân tư bản). Người trung nông là một nhân vật điển hình ở làng Việt cổ truyền và là một nhân vật có cá tính. Phụ nữ tiểu nông (kiêm tiểu thương “chạy chợ”) lại có cá tính mạnh, có ý thức rõ rệt về cá tính của mình, mà đỉnh cao là nữ si Hồ Xuân Hương . (Tôi nghĩ rằng các chuyên gia về văn chương bác học nên thẩm định cái TÔI của Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… trên tảng nền chủ nghĩa cá nhân của tâm thức Việt Nam).

Tôi, Em, Anh… là những chủ ngữ thường thấy trong ca dao, tục ngữ: “Hỡi anh đi đường cái quan/ Dừng chân đứng lại em than (van, han) đôi lời”; “Hỡi cô đội nón quai thao/ Đi qua Thanh Liệt thì vào làng anh”; “Em là con gái đồng trinh/ Em đi bán rượu qua dinh ông nghè”; “Em là con gái Kẻ Mơ/ Em đi bán rượu tình cờ gặp anh”; “Từ nay tôi cạch đến già/ Tôi chẳng dám cấy ruộng bà nữa đâu…”.

Cho nên phát hiện và tìm hiểu một chủ nghĩa cộng đồng (communalisme) trong hệ ý thức Việt Nam cổ truyền là đúng, song xin chớ nên quên – và hôm nay càng cần tìm hiểu – một chủ nghĩa cá nhân tiểu nông Việt Nam truyền thống. Giáo sư Từ Chi rất tâm đắc với tôi về điểm này. Kính mong được nhiều người bàn bạc, bàn cãi thêm.

(Hết bài)

GS. Trần Quốc Vượng

Hà Nội, ngày 14/04/2020

Bùi Tâm Văn

Leave a Reply

Your email address will not be published.