NGHỀ BẮT VÀ NUÔI RẮN Ở PHỤNG THƯỢNG

Phụng Thượng, một làng quê nằm trong miền đất cổ xứ Đoài xưa, nay là một xã thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây.

Hoạt động kinh tế của cư dân nơi đây chủ yếu là nghề trồng trọt, chăn nuôi, kết hợp với chút ít nghề phụ: mộc, xây, dệt, rèn và buôn bán nhỏ.

Trong những thập niên gần đây, bên cạnh nông nghiệp, nhiều ngành nghề khác của thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ được mở mang, phát triển. Riêng trong nông nghiệp, hoạt động chăn nuôi vừa mang tính kế thừa truyền thống (nuôi gia súc, gia cầm, cá) lại vừa mang tính đổi mới (nuôi các loại đặc sản như: rắn, ếch, ba ba, chim cút…). Trong đó, hoạt động bắt và nuôi rắn là một hướng phát triển mới của kinh tế Phụng Thượng.

Phát sinh là nghề bắt rắn…

Xưa Phụng Thượng không có nghề bắt và nuôi rắn, chỉ đi bắt cua, ốc, ếch… Ở đây, nghề bắt cua là một hoạt động có ý nghĩa đối với một bộ phận cư dân Phụng Thượng. Ca dao làng Phụng Thượng phản ánh rõ hoạt động bắt cua nơi đây: Doanh Bằng là đất mò cua/ Ngày ngày cái giỏ đi khua khắp đồng. Hay: Trong làng cắt cỏ tài ghê/ Chả bằng ngoài trại nó lê một hồi.

Theo dân làng kể lại, cách đây khoảng 50 năm, có ông Hai Nước (người Thổ Tang, Vĩnh Phúc) thường đến Phụng Thượng bắt rắn. Bấy giờ, ở làng Phụng Thượng có ba ông – Trang, Hành, Mai thường đi bắt ếch đã tò mò đi theo xem ông Hai Nước bắt rắn; sau đó học nghề bắt rắn.

Từ năm 1949 ba ông chuyển từ bắt ếch sang làm nghề bắt rắn. Lịch sử phát triển ngành nghề của Phụng Thượng có thêm nghề bắt rắn…

Ông Trang kể lại: Thời kỳ đầu ba ông đi bắt rắn chung, được rắn bán lấy tiền chia nhau. Địa bàn hoạt động của các ông là Phụng Thượng và các xã khác lân cận trong vùng, trong tỉnh.

Các ông bắt tất cả các loại rắn – hổ mang, cạp nong, cạp nia, rắn ráo… Sau này khi hành nghề thành thạo ba ông tách ra làm ăn riêng cùng với con cháu trong nhà. Ông Trang và 4 con trai ông đều theo nghề bắt rắn. Đến năm 1978-1982, ông còn kiêm thêm việc mổ rắn thuê cho Xí nghiệp Dược phẩm I của tỉnh Hà Sơn Bình.

Cùng thời gian này, gia đình ông Trang vừa làm nghề bắt rắn vừa thu mua rắn ở các nơi bán cho xí nghiệp trên, đồng thời đi mổ rắn thuê cho họ.

Những năm này, thị trường trong ngoài nước có nhu cầu về rắn để ngâm rượu, làm thuốc và xuất khẩu. Các loại rắn – hổ mang bạnh, cạp nong, cạp nia, hổ mang thiếc và rắn ráo hợp thành bộ “ngũ xà” và ba loại – hổ mang, cạp nong, rắn ráo thì hợp thành bộ “tam xà” bán rất có giá trị kinh tế.

Từ năm 1982, Xí nghiệp Dược phẩm Hà Sơn Bình thôi không thu mua rắn nữa nhưng ông Trang và các con ông vẫn tiếp tục nghề bắt rắn, làm ruộng và…

… Chuyển dần sang nuôi rắ

Thời kỳ đầu ông Trang nuôi các loại rắn: hổ mang, cạp nong, cạp nia nhưng không thành công lắm vì rắn hay bị chết.

Trong những năm này, có một người Trung Quốc sang đặt hàng thu mua rắn cạp nong, cạp nia con mới nở với giá 2.500 đồng một con. Thế là gia đình ông Trang xoay sang nuôi rắn chửa đẻ, lấy chứng ấp nở để bán rắn con. Nhưng sau một thời gian thấy nuôi rắn đẻ không có lãi (do nuôi khó khi ấp nở, rắn con hay bị chết), nên ông Trang thôi không nuôi nữa, nhưng vẫn tiếp tục đi bắt rắn, nuôi các loại rắn để bán.

Từ tháng tư (âm lịch) năm 1993, gia đình ông Trang bắt đầu tiến hành nuôi rắn Hổ chúa. Đây là loại rắn hổ mang to, có màu đen, sọc trắng và có các khoang vàng. Loại rắn này có nọc cực độc và môi trường sinh sống là những khe, hang hốc vùng núi đá, rừng rậm…

Việc ông Trang quyết định nuôi rắn Hổ chúa bắt nguồn từ một sự kiện khá lý thú. Một lần do ông nhốt rắn Hổ chúa với 2 con rắn ráo trong cùng một chuồng. Đến hôm sau, ông không thấy 2 con rắn ráo đâu nữa, trong khi chuồng nuôi rất kín đáo, chắc chắn rắn không thể bò ra ngoài được.

Trước việc đó, ông suy nghĩ và rồi phát hiện ra – rắn Hổ chúa đã ăn 2 con rắn ráo nhốt chung chuồng. Ông Trang nghĩ, có thể nuôi được rắn Hổ chúa, vì ông đã tìm ra loại tức ăn nuôi chúng. Nghĩ sao, làm vậy, ông Trang và hai con trai ông năm đầu tiên đã nuôi thử mấy chục con rắn Hổ chúa.

Sau một năm thử nghiệm thấy thành công, gia đình ông quyết định mở rộng chuồng trại, đầu tư phát triển nuôi số lượng nhiều hơn. Liên tục trong nhiều năm gia đình ông gặt hái thành công và trở nên khá giả nhờ nuôi rắn Hổ chúa.

Nhiều gia đình trong thôn, xã học và làm theo, tạo thành một phong trào nuôi rắn phát triển mạnh mẽ ở Phụng Thượng. Hiện nay, theo thống kê sơ bộ, ở Phụng Thượng có khoảng 70% số hộ gia đình nuôi rắn (xã có khoảng 2.550 hộ) và hoạt động này đã đem lại nguồn thu nhập lớn cho họ. Số lượng rắn Hổ chúa nuôi trong các gia đình có khác nhau, tuỳ thuộc vào nguồn vốn và các năng lực lao động khác.

Ai nhiều vốn, nhiều nhân lực và kinh nghiệm thì nuôi tới hàng trăm con. Nguồn cung cấp rắn Hổ chúa giống chủ yếu từ hai nước Lào và Căm-pu-chia. Giá mua các loại rắn giống cũng khác nhau.

Vào đầu năm 1998, nếu mua một rắn giống có trọng lượng từ 0,5-1kg giá tiền là 450.000 đồng/kg; từ 1-3kg giá 650.000 đồng/kg; từ 3-5kg giá 480.000 đồng/kg. Giá loại rắn giống thứ ba rẻ hơn loại hai vì vốn mua một con quá lớn, nhiều người không đủ tiền mua nên có ít người mua, nên giá rẻ hơn.

Đến khi bán rắn, từ 2-5kg giá 440.000 đồng/kg; từ 6,7kg đến 20kg là 480.000 đồng/kg… Loại rắn hổ mang bình thường khi mua rắn giống từ 0,5-1kg giá 230.000 đồng/kg; từ hơn 1kg đến 5kg giá 90.000 đồng/kg. Thức ăn để nuôi loại rắn hổ mang bình thường là chuột, cóc. Khi bán nếu trọng lượng từ 1-1,5kg giá là 210.000 đồng/kg; từ 1,6-2,3kg giá bán là 250.000 đồng/kg.

Hàng năm người ta bắt đầu mua rắn giống và tiến hành nuôi từ tháng 3 âm lịch, kết thúc vụ và bán rắn vào khoảng tháng 11 âm lịch. Đây là khoảng thời gian tiết trời ấm nóng phù hợp cho rắn sinh trưởng. Đến mùa lạnh (từ cuối thu trở đi) là lúc rắn “ngủ đông”, các gia đình bán rắn cho các thương lái mang đi Trung Quốc.

Tại Phụng Thượng người ta mới chỉ nuôi được rắn Hổ chúa có trọng lượng lớn nhất tính đến khi bán là 17-18 kg. Thường một rắn giống khi mua nuôi đến khi bán tăng trọng trung bình gấp đôi.

Thức ăn cho rắn Hổ chúa là các loại rắn khác, nhỏ hơn như rắn nước, rắn ráo… Phổ biến nhất là rắn nước. Các gia đình đi bắt hoặc mua rắn nước về làm mồi nuôi Hổ chúa. Một con Hổ chúa loại trung bình một ngày tiêu thụ hết 0,2-0,3 kg rắn mồi. Rắn càng to, lượng thức ăn nuôi chúng càng hết nhiều.

Khi cho rắn Hổ chúa ăn người ta chặt bỏ đầu đuôi và rạch bụng rắn mồi giúp rắn Hổ chúa dễ tiêu thụ thức ăn, không bị chướng bụng, hay bị bệnh chết.

Từ cuối mùa Thu trở đi, khi thời tiết lạnh dần là lúc rắn lười ăn. Người nuôi phải chủ động “nhồi” cho rắn ăn. Đây là công việc rất nguy hiểm đối với người nuôi. Khi làm công việc này, thường phải có 2-3 người phối hợp thực hiện.

Một người nắm đầu rắn để nhồi thức ăn, còn 1-2 người khác giữ thân, phối hợp với người giữ đầu nhồi và vuốt cho thức ăn trôi dần vào bụng rắn. Cụ thể, người nắm đầu bóp cho miệng rắn há ra để đưa thức ăn vào. Người này dùng một chiếc đũa hoặc que tre chọc vào bụng rắn mồi rồi từ từ đưa vào miệng – họng rắn Hổ chúa rồi vuốt dần cho thức ăn trôi xuống phần bụng. Mỗi ngày một lần người nuôi nhồi cho Hổ chúa ăn từ 3-4 con rắn mồi con. Để rắn tăng trọng nhanh và không bị bệnh, người nuôi còn trộn cả thuốc B1 và Ganidan được tán nhỏ vào cho rắn ăn.

Đầu tư xây dựng chuồng trại nuôi rắn không tốn kém bằng mua rắn giống và thức ăn cho rắn. Chuồng được làm khá đơn giản, có hình vuông hoặc hình chữ nhật, diện tích độ 40-50cm2 chiều cao 70-80cm.

Bên trên có nắp đậy bằng xi măng hoặc bằng gỗ (có người căng lưới sắt) có lỗ nhỏ đủ để thò tay vào bắt và thả rắn. Đáy chuồng làm bằng gạch đất, mục đích để khi rắn bài tiết (phân, nước tiểu) được gạch này hút khô, không đọng bẩn, gây mất vệ sinh dễ làm rắn “bị nổ[2].

Về mặt kỹ thuật, chuồng nuôi rắn phải giữ sạch sẽ, ấm áp, được che đậy kín đáo, tránh gió mưa, ẩm thấp và lạnh; đồng thời không để rắn thoát ra ngoài đi mất hoặc gây nguy hiểm cho con người.

Các hộ gia đình thường làm chuồng rắn ngay trong nhà ở, nhà ngang hay dưới bếp. Cũng có một số người xây hệ thống chuồng trại riêng ở ngoài vườn, bên trên lớp ngói như nhà ở của người vậy.

Nuôi rắn ở Phụng Thượng đem lại thu nhập cao cho nhiều người dân nơi đây, nhưng nghề này nguy hiểm, nhiều rủi ro. Có nhiều người đã bị rắn cắn, hàng chục người đã chết do không cứu chữa kịp hoặc do nọc rắn Hổ chúa quá độc. Một số người có thuốc gia truyền thống chữa trị; nhưng thường chỉ hiệu nghiệm với các loại rắn bình thường như hổ mang, cạp nong, cạp nia.

Còn khi đã bị Hổ mang chúa cắn thì người ta chỉ có thể sơ cứu, sau đó phải mang gấp xuống bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) để cứu chữa. Nếu chậm trễ, tính mạng người bị Hổ chúa cắn rất khó được an toàn, thoát khỏi cái chết.


[1] – Bài đăng tạp chí Xưa & Nay, số 66, tháng VIII-1999.

[2] – “Bị nổ” là từ nhân dân địa phương dùng để chỉ chuồng không sạch, các chất thải đọng lại ở đáy chuồng bám vào da gây nên tình trạng rắn bị ghẻ, lở loét, sinh bệnh, khiến rắn có thể chết.

Leave a Reply

Your email address will not be published.