HAI CHUYẾN ĐI THỰC TẾ – CÔN ĐẢO VÀ MỘT SỐ TỈNH VIỆT BẮC

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhiều bậc danh nhân khác luôn nhắc nhở chúng ta cần phải sống, làm việc theo phương châm: “Học đi đôi với hành”, “Lý luận gắn liền với thực tiễn”. Thấm nhuần tinh thần đó, từ 2004 đến nay, hàng năm khoa Lý luận chính trị trường Đại học Thương mại thường tổ chức những chuyến đi thực tế bổ túc kiến thức cho giảng viên của khoa từ cuộc sống sinh động ở những vùng miền khác nhau trên địa bàn cả nước.

Trong những chuyến đi tôi có điều kiện tham gia thì có hai chuyến đi để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất, đó là chuyến đi Côn Đảo (hè năm 2004) và chuyến đi Việt Bắc (hè năm 2006).

1. Chuyến đi Côn Đảo (hè năm 2004)

Vào dịp hè năm 2004, được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Thương mại, ba bộ môn: Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị Mác – Lênin và Lịch sử Đảng – Chủ nghĩa xã hội khoa học đã phối hợp tổ chức chuyến đi thực tế tại đặc khu Côn Đảo (thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Do lần đầu tiên đi thực tế, nên lãnh đạo nhà trường rất quan tâm, đã cử hẳn đồng chí Nguyễn Quang Lập – Phó bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Công đoàn trường làm trưởng đoàn.

Đoàn khởi hành từ Hà Nội trên một xe ca lớn chạy dọc dài đất nước theo quốc lộ I qua các tỉnh thành. Ngày đi còn đêm thì dừng nghỉ tại các địa phương lần lượt là Đồng Hới (Quảng Bình), Huế – Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu. Trong gần hai ngày dừng chân tại thành phố Hồ Chí Minh, đoàn đã thăm quan di tích lịch sử đất thép địa đạo Củ Chi. Sau đó di chuyển xuống Vũng Tàu.

Vào ngày đi Côn Đảo, buổi sáng Đoàn tổ chức mời đồng chí Thống trong ban Tuyên giáo tỉnh uỷ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bạn thời đại học của thầy Sanh) đến nói chuyện về tình hình kinh tế – xã hội địa phương. Buổi chiều, khoảng 5 giờ, đoàn lên tàu (thuỷ) đi ra Côn Đảo. Thời điểm lên tàu mặt trời chưa lặn, mọi người có thể ngắm cảnh biển và quan sát bến cảng Vũng Tàu rất rõ.

Hầu hết các thành viên của đoàn lần đầu đi biển nên đều tỏ ra thích thú. Nhiều bức ảnh được chụp, nhiều đoạn video được quay. Số ảnh, video này là nguồn tư liệu quý đối với cán bộ, giảng viên trong khoa.

TRÊN TÀU ĐI RA CÔN ĐẢO

Lần đầu đi tàu trên biển, biển lại quá mênh mông (không giống như sông hồ trong lục địa) nên có những lúc tôi có cảm giác sờ sợ. Sợ gặp bão, sợ tàu chìm… nhưng khi nhìn thấy các phao kim loại lớn vít chặt nâng đỡ xung quanh thân tàu, hôm đó trời yên, biển lặng, thời tiết ổn nên tâm lý sợ sệt ban đầu cũng tiêu tan.

Lênh đênh trên biển một đêm, sáng hôm sau khoảng 6 giờ tàu cập bến Côn Đảo. Đoàn được Ban quản lý di tích Côn Đảo đón tiếp nồng hậu.

Trong mấy ngày thăm quan, đoàn được lãnh đạo huyện và Ban quản lý di tích Côn Đảo tiếp đón rất chu đáo. Các thành viên được nghe nói chuyện, được đưa đi thăm quan các khu trại giam trong hệ thống nhà tù.

Tôi được nghe, được tận mắt thấy các khu trại giam, nhà tù trên đảo. Từ giới thiệu của hai chị thuyết minh viên và từ tài liệu, tôi biết, hệ thống nhà tù Côn Đảo được Pháp xây dựng năm 1862 (theo quyết định thành lập Nhà tù Côn Đảo do Bô-na ký ngày 1/2/1862)[1]. Tại sao thực dân Pháp chọn nơi đây xây dựng nhà tù?

Vì chúng nghĩ, đây là nơi đáp ứng tốt nhất những yêu cầu đối với một nhà tù, do bốn bề trời biển mênh mang, cách đất liền gần trăm hải lý, người tù khó mà trốn thoát được. Lại nữa, bọn cai tù có thể tra tấn dã man và đàn áp tù nhân tàn bạo cũng không sợ người ngoài biết.

Thật không ngoa khi sách báo mô tả và mệnh danh cho hệ thống nhà tù Côn Đảo cái tên “địa ngục trần gian”. Các nhà tù mà Pháp, Mỹ xây dựng ở Việt Nam không nơi nào có quy mô và sự tra tấn dã man như ở Côn Đảo. Đoàn được nghe nhiều mẩu chuyện đấu tranh anh dũng của người tù chính trị. Dù bị tra tấn tàn bạo, dù thân xác và tinh thần chịu những đoạ đày khủng khiếp nhưng họ vẫn giữ vững khí tiết của người người cộng sản.

Tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất là các đồng chí: Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Diểu, Ung Văn Khiêm, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Văn Linh, Trần Huy Liệu, Tố Hữu, Võ Thị Sáu, v.v… Nghe thuyết minh viên kể về chuyện nữ anh hùng liệt sỹ Võ Thị Sáu chúng tôi hết sức khâm phục và kính trọng người con gái vùng đất đỏ đã chịu đựng mọi sự tra tấn dã man và anh dũng hi sinh cho đất nước khi chị mới 16 tuổi…

Chúng tôi còn được biết về sự thay da đổi thịt của nhân dân huyện Côn Đảo sau ngày miền Nam giải phóng đến nay. Côn Đảo từ một “địa ngục trần gian”, nơi giam cầm những người yêu nước, những chiến sĩ cách mạng đã từng bước chuyển mình trở thành một địa phương có kinh tế, xã hội khởi sắc và nay giữ một vị trí quan trọng trên biển – cửa ngõ phía Nam của Tổ quốc.

Trước chuyến đi, vốn hiểu biết của tôi về Côn Đảo là không đáng kể. Tôi biết một chút về Côn Đảo qua bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” của cụ Phan Châu Trinh, biết nhiều hơn về những người tù qua cuốn tự truyện “Bất khuất” của Nguyễn Đức Thuận…

Sau chuyến đi nhận thức và cảm xúc của tôi về Côn Đảo tăng lên rất nhiều. Lịch sử thế giới vẫn nhắc đến và lên án các trại tù, trại tập trung của bọn phát xít Hít-le trong thế chiến thứ hai. Nhưng có lẽ sự tàn bạo, dã man của bọn Đức quốc xã hồi đó không thể sánh bằng “địa ngục trần gian” Côn Đảo.

Từ những gì mắt thấy, tai nghe (và cả tay sờ) cộng với nguồn tài liệu thu thập được trong chuyến đi, tôi đã viết hai bài tham luận đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học do Bộ môn tổ chức tháng 10-2004 về Côn Đảo (“Một số suy nghĩ về sự phát triển kinh tế ở Côn Đảo những năm gần đây”, “Nhà tù Côn Đảo – Một trường học cách mạng đặc biệt của những người cộng sản Việt Nam”).

Sau đó tôi cùng thầy Phạm Ngọc Phương viết chung bài – “Kinh tế huyện Côn Đảo trong những năm gần đây” đăng trên tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (số 27 năm 2005). Tôi còn mua được cuốn sách quý – “Nhà tù Côn Đảo (1862-1975)” trong chuyến đi này…

Vậy là chuyến đi không chỉ đem lại cho tôi những trải nghiệm tuyệt vời, bồi đắp cho tôi tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng mà nó còn giúp tôi có những tư liệu giá trị để tôi viết các bài báo khoa học và giảng dạy tốt hơn.

2. Chuyến đi Việt Bắc (hè năm 2006)

Chuyến đi thứ hai – Việt Bắc hè năm 2006 – cũng để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Lộ trình chuyến đi gần trùng với chiến khu Việt Bắc xưa – Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn.

 Điểm đầu tiên đoàn dừng chân nghỉ ăn trưa ở Bắc Cạn. Buổi chiều di chuyển vào khu nghỉ mát thăm quan – một danh lam thắng cảnh của núi rừng Việt Bắc là Hồ Ba Bể. Thiên nhiên nơi đây phải nói là đẹp.

Thời đi học phổ thông, tôi đã biết đến những địa danh – những cảnh quan đẹp của đất nước như Hồ Ba Bể (Bắc Cạn), thác Bản Giốc (Cao Bằng), rừng Cúc Phương (Ninh Bình), v.v… Nay đến tận nơi, thăm quan tìm hiểu Hồ Ba Bể, được đi thuyền ngắm cảnh quanh hồ, quả là kỳ thú!

Hôm sau đoàn đi Tuyên Quang vào thăm khu di tích đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào và lán Nà Lừa. Trên đoạn đường đi vào lán Nà Lừa, tôi nhìn thấy “rừng phách” được Tố Hữu “vẽ ra” trong bài thơ viết về Việt Bắc của ông: Ve kêu rừng phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình…

Do sinh trưởng ở đồng bằng nên mỗi chuyến lên rừng hay xuống biển đều gây cho tôi nhiều cảm hứng. Mỗi khi đến những nơi trước đó mình chỉ biết qua sách vở tôi đều thấy hào hứng, thích thú. Chuyến đi đem đến cho tôi những trải nghiệm thú vị về Việt Bắc, giúp tôi cảm nhận được nhiều hơn những gì trong thơ Bác:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay

Non xanh nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt chè tươi mặc sức say

Kháng chiến thành công ta trở lại

Trăng xưa, hạc cũ, với xuân này.

                         (Cảnh rừng Việt Bắc, 1947)[2]

Tôi càng thích thú hơn khi đến thăm lán Nà Lừa (Tuyên Quang), địa điểm Bác ở sau khi rời Pác Bó (Cao Bằng) xuôi về nơi mà sau này sử sách gọi là “Thủ đô gió ngàn của cách mạng”. Tại chiếc lán đơn giữa khu rừng nứa, trong những ngày tiền khởi nghĩa, Bác của chúng ta ốm nặng, sốt cao, nhiều lần mê sảng. Phòng xa nhỡ mình không qua khỏi trận ốm thập tử nhất sinh, Bác cho gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến dặn dò – khi thời cơ tới thì “dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập[3]”.

Sau chuyến đi, mỗi khi giảng đến vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh trong tâm trí tôi lại hiện lên căn lán Nà Lừa đơn sơ giữa núi rừng Việt Bắc, nơi phát sinh một trong những câu nói bất hủ của vị lãnh tụ tối cao của dân tộc: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Bài giảng của tôi trên lớp theo đó có hồn và có sức thuyết phục cao hơn…

          Đoàn quay sang thăm mái đình Hồng Thái, cây đa Tân trào. “Trăm nghe không bằng mắt thấy. Mắt thấy không bằng tay sờ”. Được tận mắt chứng kiến, tay chạm vào hiện vật, tâm trí nhớ lại điều đã học… Rất tuyệt! Hôm sau, đoàn đi Cao Bằng.

Trong đời nhiều lần tôi đã đọc bài thơ này của Bác:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang

                 (Tức cảnh Pác Bó)[4]

Giờ đây ở bên tảng đá Bác ngồi dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô ra tiếng Việt, được ngắm nhìn suối Lê Nin, non Các Mác và nhớ đến những vần thơ đầy cảm hứng của Người về Pác Bó:

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lênin, kia núi Mác

Hai tay xây dựng một sơn hà

                    (Pác Bó hùng vĩ)

Chúng tôi được uống nước nguồn từ núi Mác chảy ra, được chiêm ngưỡng chiếc giường “đặc biệt” trong hang Cốc Bó (tiếng Nùng có nghĩa là đầu nguồn), nơi Bác ở trong thời kỳ nhóm ngọn lửa cách mạng cho dân tộc.

Một thanh niên Mỹ khi tìm hiểu về Hồ Chí Minh đã thực hiện một hành trình đi từ ngọn nguồn Pác Bó qua các tỉnh xuôi về Thủ đô Hà Nội theo lộ trình trước đây Hồ Chí Minh đã đi. Anh đã ngủ một đêm trên chiếc giường của Bác trong hang Cốc Bó. Người Mỹ cảm nhận, trải nghiệm sự kiện có phần khác chúng ta…

Ở Cao Bằng đoàn còn đi thăm Thác Bản Giốc, cửa khẩu Việt Trung và sau đó di chuyển sang Lạng Sơn khảo sát về kinh tế, xã hội của tỉnh này…

3. Suy nghĩ – cảm nhận chung về đi thực tế

3.1. Những chuyến đi thực tế bổ sung một phần quan trọng cho người giảng viên, đó là những cảm nhận, cảm xúc, trải nghiệm, những tri thức từ thực tế, thực địa – những trực quan sinh động về cuộc sống, mà nếu thiếu nó, những giờ giảng, bài giảng có phần “thiếu sức nặng”… Những cảm nhận, cảm xúc, kiến thức thu được từ thực tế giúp chúng ta tự tin và thuyết phục hơn mỗi khi lên lớp.

3.2. Hai chuyến đi về hai phía – hai cực nam, bắc của Tổ quốc. Một đến nơi “Địa ngục trần gian” – Côn Đảo, một trở về cội nguồn, quê hương buổi đầu của cách mạng, của kháng chiến (chống Pháp)… Nếu không có hai chuyến đi này (và cả những chuyến đi không được đề cập trong bài viết) thì kiến thức trong tôi đa phần là sách vở, thiết hụt hơi thở của cuộc sống. Tôi không thể có những dẫn chứng từ thực tiễn và cũng thiếu những cảm hứng mỗi khi đứng trên bục giảng, bài học ít nhiều thiếu sức truyền cảm, sức thuyết phục người học.

3.3. Hôm nay, từ tấm lòng thành của mình, tôi xin nói lời cám ơn Đảng, Nhà nước, cám ơn trường Đại học Thương mại, cám ơn Khoa Lý luận chính trị, cám ơn Bộ môn Lịch sử Đảng – CNXHKH (nay là Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh) đã cho tôi những chuyến đi hết sức bổ ích và lý thú.

Tài liệu tham khảo

[01] TS Bùi Hồng Vạn: Nhà tù Côn Đảo – Trường học cách mạng của những người cộng sản Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Bộ môn về chuyến đi thực tế Côn Đảo.

[02] TS Bùi Hồng Vạn, ThS Phạm Ngọc Phương: Kinh tế huyện Côn Đảo trong những năm gần đây, Tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, số 27-2005.

[03] Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

[04] Kỷ yếu Hội nghị khoa học khoa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chuyến đi thực tế các tỉnh Việt Bắc, tháng 10 năm 2006.

[05] Mai Hương, Thanh Việt (Biên soạn): Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2000.

[06] GS Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh, tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[07] Nguyễn Ngọc Truyện (Biên soạn và tuyển chọn): Hồ Chí Minh, cứu tinh dân tộc Việt, Nxb Thanh Niên, 2008.

Hà Nội, ngày 18-10-2015


[1] – BCH Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Nhà tù Côn Đảo (1862-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 42.

[2]Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, 2000, tr. 641.

[3] – GS Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh, tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 345.

[4] – Dẫn theo sách Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 630-634.

HỒ CHÍ MINH VỚI QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ

Khi nghiên cứu về các vĩ nhân của thế giới (là Tô-mát Giéc-phéc-sơn, Ma-hát-ma Găng-đi, Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, Các Mác, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh (HCM), Mắc-tin Lu-thơ Kinh, Nen-xơn Man-đê-la), Giô-xơ-phin Sten-xơn nhận thấy: “chỉ có Hồ Chí Minh đã luôn luôn bộc trực về quyền bình đẳng của phụ nữ, về giáo dục, tự do ngôn luận, độc lập về kinh tế và quyền của phụ nữ được hưởng các quyền lợi khác như của nam giới”[1]. Nhận xét của nhà Sử học Mỹ là chính xác.

Trong cuộc đời mình, HCM luôn dành sự quan tâm thích đáng đến vấn đề bình đẳng giới, đến sự giải phóng cho “phân nửa xã hội”. Để phòng khi “sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”, Người đã chuẩn bị bản Di chúc bất hủ, trong đó có đoạn nhắc nhở chúng ta:

“Cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”[2].

Tư tưởng giải phóng phụ nữ ở HCM trước hết bắt nguồn từ tình yêu thương đối với người mẹ, người chị gái của mình. Chúng ta đều biết, HCM sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh gia đình không thuận lợi.

Khi cụ Nguyễn Sinh Sắc từ quan phiêu bạt làm nghề bốc thuốc chữa bệnh, dạy học xa gia đình, quê hương thì thân mẫu của Người là cụ Hoàng Thị Loan một mình phải gánh vác lo toan mọi việc. Cụ Loan mất sau lần sinh cuối, do bị bệnh hậu sản. Nỗi đau mất mẹ trong tuổi ấu thơ là nỗi bất hạnh lớn lao mà HCM nếm trải.

Tiếp đến chị gái (bà Thanh) bị kết án tù chung thân ở tuổi 14 (do tham gia vào việc mua bán vũ khí) là nỗi đau thứ hai của Người sau nỗi đau mất mẹ. Vậy là ngay từ thuở thiếu thời, HCM đã chứng kiến cảnh hai người phụ nữ thân yêu trong gia đình mình là “nạn nhân của những tai hoạ và cả hai tai hoạ đó đều là hậu quả của sự bất công xã hội đối với phụ nữ.

Chắc chắn là những tai hoạ này có ảnh hưởng quan trọng và lâu dài đối với cuộc đời của Người khi trưởng thành”[3]. Đó là trong phạm vi gia đình, còn ở ngoài xã hội, đi đến đâu HCM cũng nhận thấy phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng, chịu nhiều đau khổ, bất hạnh hơn đàn ông.

Ở Việt Nam, từ khi lập quốc đến trước cách mạng tháng Tám 1945, mặc dù phụ nữ có công lao to lớn nhưng “căn bản chỉ đóng một vai trò khiêm tốn trong nhiều hoạt động xã hội đồng thời chỉ được ghi nhận một cách ít ỏi”[4]. Đặc biệt trong xã hội phong kiến, khi Nho giáo trở thành hệ tư tưởng thống trị (từ thời Lê–Nguyễn) thì người phụ nữ dần trở thành nạn nhân của tệ phân biệt đối xử.

Trọng nam khinh nữ là hiện tượng phổ biến trong xã hội cũ. Các câu: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”; “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, (“tam tòng, tứ đức)… phản ánh rõ hiện tượng bất bình đẳng về giới đó. Về cơ bản phụ nữ không được đến trường học, không được tham gia các hoạt động quản lý xã hội. Chủ yếu họ làm lụng, sinh đẻ, lo toan cho chồng con và gia đình nhà chồng… Có thể nói, trước cách mạng tháng Tám 1945, phụ nữ nước ta có thân phận thấp kém và đau khổ nhất trong những người nô lệ[5].

Trong cuộc đời mình, HCM đã mắt thấy, tai nghe vô số chuyện đời đau khổ, bất hạnh của phụ nữ do chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân gây ra. Trong các trước tác Người để lại đã phản ánh rõ điều đó. Chẳng hạn, trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925), chúng ta thấy Người mô tả những cảnh cùng khổ của phụ nữ:

“Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược. Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay ở thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn quan cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga. Một người Âu mắng một phụ nữ An Nam là con đĩ, con bú dù là một việc bình thường. Ngay giữa chợ Bến Thành ở Sài Gòn… bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh phụ nữ bản xứ để bắt họ tránh khỏi làm nghẽn lối!”[6].

Hay: “Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi thấy rằng nền văn minh dưới nhiều hình thức khác nhau như tự do, công lý, v.v., được tượng trưng bằng hình ảnh dịu hiền của một người phụ nữ và được một hạng người tự cho là phong nhã ra sức điểm tô – lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ bằng xương, bằng thịt và xúc phạm tới phong hoá, trinh tiết và đời sống của họ một cách cực kỳ vô liêm sỉ. Thói dâm bạo thực dân là hiện tượng phổ biến và tàn ác không thể tưởng tượng được”.

Và còn thêm nữa: “Khi bọn lính kéo đến, tất cả dân chúng đều chạy trốn, chỉ còn lại hai cụ già, một thiếu nữ, một thiếu phụ đang cho đứa con mới đẻ bú và tay dắt một bé gái lên tám. Bọn lính đòi tiền, rượu và thuốc phiện. Vì không ai hiểu tiếng Pháp nên chúng nổi giận, lấy báng súng đánh chết một cụ già.

Còn cụ già kia thì bị hai tên lính, khi đến đã say mèm, đem thiêu sống trong một đống lửa hàng mấy giờ liền để làm trò vui với nhau. Trong khi đó thì những tên khác thay phiên nhau hiếp cô thiếu nữ, người mẹ và đứa con gái nhỏ của bà. Xong, chúng vật ngửa cô thiếu nữ ra, trói lại, nhét giẻ vào miệng, rồi một tên cầm lưỡi lê đâm vào bụng cô, chặt ngón tay cô để lấy chiếc nhẫn và cắt đầu cô để lột cái vòng cổ.

Trên đám đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra… một xác cụ già ghê rợn khủng khiếp, thân thể trần truồng, mặt mũi cháy không nhận ra được nữa”[7].

Sau những trang tố cáo, phơi bày tội ác của chủ nghĩa thực dân, bằng những lời lẽ đanh thép, Nguyễn Ái Quốc – HCM đã lên án, kết tội chế độ này: “Người ta thường nói: “Chế độ thực dân là ăn cướp”. Chúng tôi xin thêm: “là hiếp dâm và giết người””[8].

Vào đầu thế kỷ XX, làn sóng nữ quyền (lần thứ nhất) xuất hiện ở phương Tây, lan sang các nước châu Á, có ảnh hưởng tích cực đến Việt Nam. Khi ở Trung Quốc, “phái cách mạng nổi lên phê phán triệt để đạo đức phong kiến, kêu gọi “cách mạng đạo đức”, “cách mạng gia đình”, đòi hỏi giải phóng người phụ nữ, chủ trương nam nữ bình quyền”[9] thì ở Việt Nam một số nhà Nho theo khuynh hướng duy tân cũng bắt đầu lên tiếng đấu tranh chống những “học thuyết hủ lậu ích kỷ” đè nặng lên cuộc đời phụ nữ. Một bài báo của cụ Huỳnh Thúc Kháng phản ánh rõ tình hình đó: “nhân phong triều “phụ nữ giải phóng”, “nam nữ bình quyền” tràn vào xứ ta, trên các báo thường bàn, nhứt là phàn nàn cho đám chị em nữ lưu bị vùi lấp đè nén dưới những học thuyết hủ lậu ích kỷ của bọn mày râu”[10].

Ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước và hoạt động cách mạng trong bối cảnh đó, HCM đương nhiên chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ của thời đại. Đặc biệt khi gặp chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã tìm thấy “chiếc cẩm nang thần kỳ” để cứu nước, giải phóng cho dân tộc.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng cách mạng trong con người HCM ngày càng được hoàn thiện và nâng lên một tầm cao mới. Người đã dần trở thành một biểu tượng sáng ngời tượng trưng cho tinh thần đấu tranh giành độc lập, tinh thần đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người (trong đó có giải phóng cho “phân nửa xã hội”).

Tiếp thu tư tưởng tiến bộ  của thời đại, trong nhiều bài báo, tác phẩm HCM cực lực tố cáo chế độ thực dân đã khinh miệt, đối xử bất bình đẳng, thậm chí còn chà đạp hết sức vô nhân đạo lên nhân phẩm, thân thể của nhiều phụ nữ. Trong một bài viết cho “Mục dành cho phụ nữ: Về sự bất công” của báo Thanh Niên (ngày 4-4-1926), với bút danh Mộng Liên, HCM đã chỉ trích chế độ nam trị ở châu Á.

Người viết: “Người Trung Quốc thường so sánh phụ nữ với con gà mái: “Gà mái gáy báo sáng là điềm gở cho cả gia đình”. Ở An Nam, chúng ta nói: Đàn bà phải quanh quẩn trong bếp. Trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì”. Kết thúc bài báo, Người hạ bút: “Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?”[11]. Đây chính là sự cổ vũ phụ nữ đứng lên đấu tranh chống lại sự bất công, đòi quyền bình đẳng cho mình.

Tư tưởng đấu tranh giải phóng phụ nữ được HCM đề cập trong nhiều bài viết, nhiều tác phẩm nhưng có lẽ biểu hiện rõ nét nhất là trong Đường Cách mệnh (1927). Xuất phát từ quan điểm tiến bộ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người cho rằng: “Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tấn bộ ra sao?”. Từ đó Người khẳng định: “Đàn ông, đàn bà đều phải bình đẳng”, đồng thời xác định phương hướng đấu tranh giải phóng phụ nữ: “Việt Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”. Tinh thần này được tái khẳng định trong “Chính cương vắt tắt của Đảng” (1930): “b. Nam nữ bình quyền” và sau đó trong Lời kêu gọi đoàn kết đấu tranh giành độc lập của Mặt trận Việt Minh (nhiệm vụ thứ 10).

Khi cách mạng thành công, là người đứng đầu chế độ mới, HCM đã làm tất cả những gì có thể để giải phóng cho “phân nửa xã hội”. Trên phương diện lý thuyết, tư tưởng giải phóng phụ nữ thể hiện rõ ngay trong văn bản đầu tiên của chính thể mới – Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945) và trong hành động treo cờ ở buổi mít tinh tại quảng trường Ba Đình.

Theo Lady Borton (nhà văn Mỹ), khi trích Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ (1776), HCM không trích dẫn nguyên xi mà Người đã đổi câu trong bản dịch tiếng Anh. Cụ thể, bản Tuyên ngôn của Mỹ viết: “Chúng tôi coi đây là chân lý hiển nhiên, rằng mọi đàn ông (tôi gạch dưới) sinh ra đều bình đẳng” (“We hold these truths to be self-evident, that all men (emphasis mine) are created equal”).

Khác với Tuyên ngôn của Mỹ, “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh bắt đầu bằng câu: “Tất cả mọi người (tôi gạch dưới) đều sinh ra có quyền bình đẳng” (“All people (emphasis mine) are created equal”). Từ tiếng Việt để chỉ “đàn ông” (men) không hề xuất hiện ở đây”. Lady Borton viết tiếp: “Hồ Chí Minh rất giỏi tiếng Anh: Cụ phân biệt được “đàn ông” (men) và “mọi người” (people).

Với việc chỉ sửa một từ trong bản dịch của mình, Cụ Hồ đã khôn khéo nhưng cuối cùng cũng thông báo được cho nhân dân của Cụ và thế giới một cuộc cách mạng thứ hai: đó là Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập cho phụ nữ Việt Nam (BHV nhấn mạnh)”[12]. Đây có phải là trò chơi chữ của HCM không? Không! Theo tôi đây chính là sự “vượt gộp[13]” trong tư tưởng và hành động của HCM.

Chính do những “vượt gộp” này khiến nhiều học giả nước ngoài nhìn nhận HCM như một tư tưởng gia vĩ đại của nhân loại. (Chẳng hạn, giáo sư triết học Nhật Bản, Shingo Shibata chỉ qua bản Tuyên ngôn độc lập (1945), đã phát hiện ra những đóng góp lý luận nổi tiếng của Người và khẳng định HCM là một nhà tư tưởng[14]).

Ngay trong buổi mít tinh mừng ngày độc lập (2-9-1945) tại quảng trường Ba Đình, tư tưởng giải phóng phụ nữ đã được thể hiện rõ thông qua việc HCM cho bố trí hai phụ nữ kéo lá cờ Tổ quốc. Người ta thấy: “đáng lẽ là hai người lính, thì lại là hai người phụ nữ trẻ cùng kéo lá cờ Tổ quốc.

Đó là bà Đàm Thị Loan, người con gái dân tộc Tày ở vùng núi phía Bắc và bà Dương Thị Thoa (sau này là giáo sư Lê Thi), nữ sinh Hà Nội”[15]. Đây đúng là “một cuộc cách mạng” theo cách nhìn nhận của nhà văn Mỹ Lady Borton như đã nhắc đến ở trên. Hai người phụ nữ đại diện cho “phân nửa xã hội” kéo cờ Tổ quốc trong giờ phút trọng đại của dân tộc. Có thể xem đây là dấu mốc mở đầu cho trang sử mới đối với phụ nữ Việt Nam.

Cách mạng giành được độc lập chưa phải là tất cả, sau giành và tuyên bố độc lập còn rất nhiều việc phải làm. Nói về điều này, Maxim Gorky có lý khi cho rằng: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”[16].

Chúng ta nên hiểu ý đại văn hào Xô-viết muốn nói đến nhiều công việc phải làm sau hành động giành được chính quyền của lực lượng cách mạng. Sau tuyên bố độc lập là hàng loạt công việc mà HCM triển khai thực hiện để xây dựng chế độ mới, bảo vệ chính quyền non trẻ và tiến hành kháng chiến chống Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai.

Đối với công cuộc giải phóng phụ nữ, với tư cách là người đứng đầu Ban soạn thảo Hiến pháp, HCM đã trân trọng đề nghị ghi vào bản Hiến pháp đầu tiên (1946) của chính thể mới quyền bình đẳng nam nữ. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, quyền sống và các quyền chính trị, quyền con người khác của phụ nữ được pháp chế hoá.

Khi trong xã hội “quyền phụ nữ luôn luôn là cái bị hy sinh nhân danh quyền con người”[17] thì việc làm này là một trong những tiền đề quan trọng để triển khai thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trên thực tế.

Từ quyền ghi trong Hiến pháp đến hiện thực là cả một khoảng dài tranh đấu không mệt mỏi của HCM cùng với Đảng và nhân dân ta. “Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, nói và làm là nhất quán[18]”. Người tuyên bố giải phóng “phân nửa xã hội” không chỉ trên lời nói mà còn bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong thực tế.

Rất nhiều mẩu chuyện kể về sự tôn trọng, che chở, tranh đấu của HCM cho quyền bình đẳng nam nữ. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều minh chứng trong các sách, bài viết liên quan đến chủ đề này (chẳng hạn như cuốn “Chuyện kể Bác Hồ với phụ nữ”[19]). Trong một bài viết ngắn (hơn 3 trang), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã hai lần nhắc đến vấn đề HCM rất quý/tôn trọng phụ nữ[20]. Người rất bất bình khi thấy trong xã hội mới vẫn còn hiện tượng đàn ông chửi bới, đánh đập phụ nữ. Người tỏ rõ thái độ: “Đánh vợ là xấu, đánh vợ là dã man, đánh vợ là phạm pháp!“.

Đúng như một học giả nước ngoài nhận xét: “Điều nổi bật trong hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngay từ buổi đầu cuộc đời hoạt động và chiến đấu của mình, Người đã thấy rõ vai trò quan trọng của phụ nữ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong việc xây dựng đất nước”[21].

Từ quan niệm trên HCM thường xuyên động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho chị em phụ nữ phấn đấu trưởng thành và có sự đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Có thể kể ra đây những tấm gương tiêu biểu cho nữ giới trên những lĩnh vực, cương vị khác nhau từ sau cách mạng tháng 8-1945.

Đó là: Nguyễn Thị Chiên, Mạc Thị Bưởi, Võ Thị Sáu, Trần Thị Lý, Tạ Thị Kiều, Út Tịch, Kan Lịch, Đặng Thuỳ Trâm, Lê Thị Hồng Gấm, Đinh thị Vân, Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, Vân Đài, Hằng Phương, Xuân Quỳnh, Trà Giang, Ngô Bá Thành, Hoàng Xuân Sính, Trương Mỹ Hoa, Tòng Thị Phóng, Hà Thị Khiết, Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Thị Kim Tiến, Phạm Thị Hải Chuyền[22], v.v…

Khi HCM từ trần (1969), nhà thơ Tố Hữu làm thơ “khóc” HCM. Trong bài “Bác ơi”, Tố Hữu viết: “Trái bưởi kia vàng ngọt với ai/ Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài/ Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm/ Quanh mặt hồ in mây trắng bay”. Trong khổ thơ trên, theo nhà thơ Xuân Diệu, thông qua câu thứ hai, Tố Hữu muốn nhắc nhở chúng ta tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng “phân nửa xã hội” theo tấm gương Chủ tịch HCM.

Khi người đời rẻ khinh hoa nhài (“Con vợ khôn lấy thằng chồng dại/ Như bông hoa nhài cắm…”; hoa nhài nở về đêm, được ví như gái lầu xanh!) thì HCM lại trồng hoa nhài quanh nơi mình ở. Đây là một trong những hành động tôn trọng phụ nữ – tư tưởng nhân văn cao đẹp của HCM… Một tứ thơ hay mang chứa cả một tư tưởng lớn, tiến bộ của HCM và cũng là của văn minh nhân loại.

*       *

*

Tôi xin mượn đoạn nhận xét của Baya Látxen trong bài “Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ Việt Nam” đăng trên tạp chí Phụ nữ (Angiêri) vào năm 1969 khi HCM từ trần làm lời kết cho bài viết của mình: “Tất cả những gì mà phụ nữ Việt Nam đạt được trong hàng chục năm qua là do chị em có tinh thần can đảm, có ý chí cách mạng. Nhưng chị em có được như vậy cũng là nhờ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên và giáo dục…”[23].

Hà Nội, ngày 10-2-2014

Tài liệu trích dẫn

[1] – Giô-xơ-phin Sten-xơn: “Vai trò của Hồ Chí Minh trong lịch sử tiến bộ của phụ nữ” trong Thế giới còn đổi thay, nhưng Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Khoa học xã hội, 2008, tr. 255.

[2]Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 12, 1966-1969, Nxb Chính trị quốc gia, 2000, tr. 504.

[3] – Giô-xơ-phin Sten-xơn: “Vai trò của Hồ Chí Minh trong lịch sử tiến bộ của phụ nữ” trong Thế giới còn đổi thay, nhưng Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Khoa học xã hội, 2008, tr. 256.

[4] – Cao Tự Thanh (Tổng chủ biên), Trần Thị Kim Anh (Chủ biên): Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử, Tập 1, Phụ nữ Việt Nam thời phong kiến, Nxb Phụ nữ, 2012, tr. 7.

[5] – Trần Khuê: Nghiên cứu và tranh luận, Nxb VH–TT, Hà Nội, 2010, tr. 342.

[6]Hồ Chí Minh, Toàn tập, 2, 1924-1930, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 105.

[7]Hồ Chí Minh, Toàn tập, 2, 1924-1930, Nxb CTQG, HN, 2000, tr.109-110.

[8]Hồ Chí Minh, Toàn tập, 2, 1924-1930, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 106.

[9] – Phương Lựu: “Hồ Chí Minh với những tư tưởng tiến bộ trong đạo đức tư sản”, trong sách Lý luận phê bình văn học, Nxb Đà Nẵng, 2004, tr. 831.

[10] – Chương Thâu, Phạm Ngô Minh (Sưu tầm & Biên soạn): Huỳnh Thúc Kháng, Tuyển tập, Nxb Đà Nẵng, 2010, tr. 394.

[11]Hồ Chí Minh, Toàn tập, 2, 1924-1930, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 448.

[12] – Lady Borton: “Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn độc lập Mỹ”, trong sách Hồ Chí Minh, một người châu Á của mọi thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr. 87-88.

[13] – “Vượt gộp” là chữ dùng của Phan Ngọc. Ông dùng chữ này để chỉ sự tích hợp tri thức, văn hoá của cá nhân hay cộng đồng. Sau đó đóng góp thêm phần của mình vào, tức có sự bổ sung, phát triển hơn. Xin đọc: “Chương XIII: Tư tưởng Hồ Chí Minh, đỉnh cao của văn hoá Việt Nam”, trong sách Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, 2004, tr. 396-431.

[14] – PGS.TS Thành Duy: “Tổng quan về quá trình nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh”, trong Thế giới còn đối thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, tr. 25.

[15] – Nguyễn Ngọc Truyện (Biên soạn và Tuyển chọn): Hồ Chí Minh, cứu tinh dân tộc Việt, Nxb Thanh Niên, 2008, tr. 122.

[16] – Dẫn theo Nguyên Ngọc: “Cách mạng, văn hoá và giáo dục”, trong sách Một góc nhìn của trí thức, Nxb Tri thức, 2011, tr. 22.

[17] – Cao Tự Thanh (Tổng chủ biên), Trần Thị Kim Anh (Chủ biên): Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử, Tập 1, Phụ nữ Việt Nam thời phong kiến, Nxb Phụ nữ, 2012, tr. 11.

[18] – Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Nghiên cứu, học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Công an nhân dân, 2006, tr. 19.

[19] – Nguyễn Văn Dương: Chuyện kể Bác Hồ với phụ nữ, Nxb Hồng Bàng, 2012.

[20] – Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Bài phát biểu tổng kết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng”, trong sách Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Khoa học xã hội, 2008, tr. 321-324.

[21] – Baya Látxen: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ Việt Nam”, trong sách Hồ Chí Minh, một người châu Á của mọi thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr. 247-248.

[22] – Xin đọc “Tháng Ba nghĩ về gương mặt các thế hệ phụ nữ Việt Nam anh hùng trong lịch sử” của PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, TCTuyên Giáo, số 3-2013, tr.45-49.

[23] – Baya Látxen: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ Việt Nam”, trong sách Hồ Chí Minh, một người châu Á của mọi thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 248.

TS. Bùi Hồng Vạn

VÀI NÉT VỀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA ĐỨC KHỔNG TỬ

1. Nếu tôi không nhầm thì trong lịch sử thế giới chỉ có Đức Khổng Tử được hậu thế tôn vinh là “Vạn thế sư biểu”. Ngài tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh năm 551 TCN tại ấp Trâu, làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ (Trung Quốc).

Ngay từ nhỏ Ngài vốn là người thông minh, hiếu học, hay chơi trò cúng lễ. 17 tuổi do học giỏi, phẩm hạnh tốt nên Ngài được nhiều người biết đến mặc dù xuất thân nghèo khó. Năm 516 TCN nước Lỗ có loạn, Khổng Tử sang nước Tề lánh nạn. Tại đây, Ngài được vua Tề trọng dụng nhưng sau bị quan đại phu là Yến Anh gièm pha, hãm hại nên chỉ một năm sau phải trở về nước Lỗ.

Ngài quyết định mở trường lớp thâu nhận học trò, dạy học. Tương truyền số đệ tử theo học Ngài lên tới 3.000 người. Đến năm 500 TCN, vua Lỗ phong cho Ngài chức quan Tế tại Trung đô (huyện Vân Thượng, tỉnh Sơn Đông ngày nay). Năm sau Khổng Tử được thăng chức Tư không, tiếp đến thăng lên chức Đại Tư Khấu.

Sau ba tháng nắm quyền, Khổng Tử đã giúp cho nước Lỗ thịnh trị, yên bình. Do sợ nước Lỗ hùng cường, vua Tề đã dùng kế ly gián, sai người đem 80 gái đẹp, giỏi múa hát sang dâng vua Lỗ. Vua Lỗ nghe lời đại phu Quý Tôn Tử, mê tửu sắc, đàn hát bỏ bê việc triều chính, Khổng Tử thấy vậy bèn xin từ chức, rời nước Lỗ đi chu du liệt quốc vào năm 496 TCN[1].

13-14 năm Khổng Tử cùng học trò đi du thuyết các nước chư hầu nhằm thực hiện lý tưởng cải cách xã hội và chính trị của mình[2] nhưng không thành công. Ngài gặp toàn kẻ bá đạo, chuyên dùng vũ lực trị nước và tiêu diệt lẫn nhau. Chán nản với nhân tình thế thái, năm 68 tuổi Ngài trở về quê hương chuyên tâm vào viết sách, dạy học trò. Ngài mất năm 479 TCN, hưởng thọ 73 tuổi. Hai năm sau khi Ngài mất, vua Lỗ cho xây lại ngôi nhà của Ngài, biến nó thành nơi tế tự, nay là Khổng miếu[3]. Học thuyết của Ngài được các học trò kế thừa và phát triển, được nhiều triều đại đề cao, vận dụng. Đặc biệt từ thế kỷ thứ II, nhà Hán đã tôn Khổng học thành quốc giáo. Tuy có bước thăng trầm nhưng nhìn chung Khổng giáo vẫn có địa vị cao trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc. Ngày nay Khổng giáo thu hút được sự quan tâm rộng rãi ở cả các nước phương Đông và phương Tây.

2. Trên địa hạt giáo dục, Khổng Tử đã có những tư tưởng và việc làm in dấu ấn đậm nét trong lịch sử Trung Hoa cổ đại. Ngài là người đầu tiên mở trường tư, thu nạp đông đảo học trò. Trong số 3 ngàn môn đệ của Ngài có 72 người thuộc diện xuất sắc, tinh thông lục nghệ. Xét về mặt nghề nghiệp, chính Khổng Tử đã tạo ra một loại chức nghiệp mới đó là nghề dạy học. Trước Khổng Tử chưa có ai lấy dạy học làm nghề mưu sinh. Chỉ từ Khổng Tử hoạt động này mới xuất hiện với tư cách một nghề nghiệp thực thụ trong xã hội. Chính việc làm của Khổng Tử đã góp phần hình thành, phát triển một lực lượng mới (có vai trò quan trọng) trong xã hội, đó là tầng lớp trí thức (sĩ, kẻ sĩ).

Một trong những tư tưởng nổi trội, mang tính cách mạng trong giáo dục ở Trung Quốc cổ đại là chủ trương “Hữu giáo vô loại”[4]. Khổng Tử quan niệm tất cả mọi người, ai cũng cần phải học tập, phú quý hay dân thường đều cần được giáo hoá. Ngài không phân biệt sang hèn, nguồn gốc chỉ cần người học nạp chút lễ vật thì đều được thu nhận. Trước đó, trường học do nhà nước mở và chỉ dành cho con em quý tộc. “Hữu giáo vô loại” thể hiện rõ tinh thần dân chủ, tính nhân dân trong học thuyết Nho giáo. Đây chính là biểu hiện cụ thể của tư tưởng “phiếm ái chúng nhi thân nhân” (“Yêu khắp mọi người, gần gũi người nhân đức”, Học Nhi, 6) của Đức Khổng Tử. Chủ trương “Hữu giáo vô loại” là “quan điểm, là ý hướng tiến bộ, là đóng góp hữu ích” vào việc hoàn thiện và làm phong phú kho tàng lý luận giáo dục đạo đức cho nhân loại. Đứng ở phương diện này, Ngài không chỉ là nhà lý luận mà còn là một nhà giáo dục lớn[5]. “Hữu giáo vô loại” trở thành ngọn cờ đầu mang tính cách mạng trong lịch sử giáo dục Trung Quốc, đã khai sáng con đường phổ cập giáo dục và văn hoá cho Trung Quốc, nó có ý nghĩa trọng đại trong việc phát động truyền bá văn hoá[6]”.

Mục tiêu dạy học của Khổng Tử là giúp học trò nên “Người”, trở thành “chính nhân quân tử” để ra làm quan, giúp ích cho xã hội. Nội dung quan trọng nhất trong học thuyết Khổng Tử là Đức Nhân. Có học giả nói: “Tuyệt đích trong triết lý giáo dục của Khổng Tử kết tinh trong một chữ Nhân[7]”. Điều đó đúng! “Nhân” là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người, nên “nhân” chính là đạo làm người[8]. Khổng Tử có lần nói: “Đạo của ta chỉ lấy Một (Nhân) đó mà bao hàm tất cả” (Ngô đạo Nhất dĩ quán chi). Đạo biểu hiện ở Đức Nhân ái, lòng Yêu người (Nhân giả ái nhân). Tuy nhiên, Đạo nhân của Khổng Tử có ý nghĩa đặc biệt và khác hẳn chủ trương Ái Nhân trong thuyết Kiêm Ái của Mặc Tử, Bác Ái của Ki-tô giáo. Đôi khi Khổng Tử dùng chữ “Nhân” vừa để chỉ đức tính yêu người, đồng thời còn ám chỉ tất cả các đức tính tốt gộp lại (Xem Luận Ngữ).

Khổng Tử muốn đào tạo ra một mẫu người hiểu biết, có học và sống hợp tình hợp lý. Ngài chủ trương: “Duy nhân giả năng hiếu nhân, năng ố nhân”, nghĩa là người theo đạo nhân biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét, trong khi Kiêm Ái muốn yêu tất cả, mà không biết ghét. Còn chúa Ki-tô thì dạy về Bác Ái: nếu “ai tát má bên phải, ta chìa nốt má bên trái ra” cho người đó tát, Khổng Tử cho điều đó không hợp tình, hợp lý, trái với bản tính tự nhiên của con người[9]. Ngài còn có quan niệm con người được giáo dục căn bản từ gia đình để trở thành con người xã hội, biết sống “cận nhân tình”. Trong gia đình Ngài cho rằng nghĩa vợ chồng là đầu mối trong Đạo của người Quân tử; còn ngoài xã hội thì Ngài đề xướng: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tâm đắc câu này và Người đã từng sử dụng nó làm vũ khí trong đấu tranh ngoại giao với thực dân Pháp để giành độc lập dân tộc.

Bên cạnh giáo hoá về Đạo đức, Khổng Tử đem Lục nghệ ra dạy cho học trò của mình. Thời ấy lục nghệ chính là các môn văn hoá có giá trị và bao gồm: Lễ (5 nghi lễ), Nhạc (6 loại nhạc), Xạ (bắn cung), Ngự (cưỡi ngựa và xe), Thư (6 cách tạo chữ Hán), số (toán học). Lục nghệ có công dụng cụ thể – “Thi để dẫn dắt ý chí, Thư để dẫn dắt công việc, Lễ để dẫn dắt hành vi, Nhạc để hoà, Dịch để hiểu âm dương, Xuân Thu để nói về danh phận[10]”. Các môn này trước Khổng Tử chỉ được truyền dạy cho giới quý tộc.

Khổng Tử chỉ tập trung vào dạy cách làm người, làm thánh hiền. Nói khác đi Ngài chú trọng đến kiến thức về luân lý, đạo lý, chính trị mà không dạy “khoa học, kỹ thuật, binh bị”. Việc “lấy đức dục làm gốc, lấy trí dục làm ngọn[11]” theo quan điểm hiện nay rõ ràng là chưa đủ. Tuy nhiên, chúng ta có thể thông cảm cho Ngài, vì trong hoàn cảnh xã hội thời Xuân Thu đang rất lộn xộn, các nước chư hầu đánh giết lẫn nhau để xưng hùng xưng bá, luân thường đạo lý suy đồi thì việc chú trọng “đức trị” nhằm tạo sự cân bằng, giúp xã tắc yên bình, thịnh trị là việc làm cần thiết, phù hợp với thực tiễn bấy giờ.

Khổng Tử là người tâm huyết với giáo dục, Ngài được sinh ra “để dạy đời[12]”. Chủ trương: “Học nhi bất yếm” (Học không biết chán) và “Hối nhân bất quyện” (Dạy không biết mệt) trong sách Luận Ngữ trở thành phương châm giáo dục của Ngài. Theo lô-gích, học và dạy có mối liên hệ mật thiết với nhau. Muốn dạy thì trước hết phải học, có học mới có kiến thức để dạy. Chữ học trong quan niệm của Khổng Tử bao hàm nghĩa lý sâu xa và rộng lớn hơn cách hiểu thông thường. Trong sách “Khổng học đăng”, Cụ Phan Bội Châu đã phân tích chữ “Học” theo ba nghĩa: “1) Học nghĩa là bắt chước – Hễ người nào tự xét trong mình hãy còn là người hậu giác tất phải bắt chước những người tiên giác đã làm; 2) Học nghĩa là học để biết – Nghĩa này lại cặp kè với chữ “Tri”; 3) Học để mà làm – Nghĩa này lại cặp kè với chữ “Hành”…”[13].

Theo Đức Khổng Tử, con người phải nỗ lực, cố gắng học tập không mệt mỏi. Đây là một trong những yêu cầu cần thiết đối với người học. Ngài từng nói: “Kẻ nào không cố công tìm hiểu ta chẳng dạy cho, kẻ nào không bộc lộ được tư tưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho, kẻ nào ta bày một mà không biết hai ta chẳng dạy nữa” (“Bất phẫn, bất khải; bất phỉ, bất phát. Cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dã”, Luận Ngữ, Thuật nhi, 8). Ngài còn khuyên các đệ tử cần “phải nghe nhiều rồi chọn điều hay mà theo, thấy nhiều để xét cho rõ cái hay, cái dở mà nhớ lấy, đó là điều quan trọng để trở thành trí giả” (“Đa văn, trạch kỳ thiện giả nhi tùng chi; đa kiến nhi chí chi; tri chi thứ dã”, Luận ngữ, Thuật nhi, 27) và trong khi học cần loại bỏ tâm lý vị kỷ tư dục, võ đoán, cố chấp – “Vô ý, vô cố, vô tất, vô ngã” (Luận Ngữ, Tử Hãn, 4), v.v…

Đức Khổng Tử là một tấm gương sáng về việc học. Ngài tự bạch: “Lúc mười lăm tuổi, ta đã để chí nỗ lực học tập. Ba mươi tuổi đã xác định được chí hướng. Bốn mươi tuổi đã hiểu được sự lý, không còn bị mê hoặc. Năm mươi tuổi đã hiểu được mệnh trời. Sáu mươi tuổi nghe người khác nói đều thuận tai cả. Bảy mươi tuổi đã có thể theo lòng muốn nhưng không hề vượt ra ngoài khuôn phép”[14] (“Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu (ư) học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ”, Luận Ngữ, Vi chính, 4). Cả đời ham học hỏi, tu dưỡng đạo đức Khổng Tử trở thành bậc trí giả nổi tiếng, một “Vạn thế sư biểu”, một bậc chí thánh!

Từ “Học không biết chán” sẽ dẫn đến “Dạy không biết mệt”. Nhờ hiểu biết sâu rộng mà người ta nhận ra được những nguyên nhân gây nên bao điều ác, điều xấu xa và muốn cải tạo xã hội theo những chân lý đã học được. Vì vậy, người chăm học bao giờ cũng có tâm nguyện muốn dạy lại những điều mình hiểu biết và mong mọi người hướng thiện, muốn cho xã hội ổn định, thái bình, thịnh vượng. Việc dạy bảo người không biết mệt mỏi là hệ quả tất yếu của người chăm học. Khi thấy có người tỏ ra muốn học hay có cơ hội có thể dạy được, người chăm học sẽ dạy ngay, không đặt thành vấn đề thù lao nhiều hay ít. Đó là đức tính của người chăm học[15]. “Học không biết chán”, “Dạy không biết mệt” là phương châm Đức Khổng Tử nêu ra cách đây 2.500 năm nhưng đến nay, nó vẫn mang tính thời sự và còn nguyên giá trị đối với mỗi giáo chức chúng ta trong hoạt động Học và Dạy của mình.

3. Học thuyết của Khổng Tử xuất hiện cách ngày nay mấy ngàn năm, đương nhiên có những nội dung không còn phù hợp nữa. Song vẫn còn nhiều giá trị mà chúng ta cần khai thác, phát huy trong thời đại mới. Khổng Tử là người đầu tiên lập trường tư, mở rộng việc giáo hoá cho dân chúng và biến hoạt động dạy học thành một nghề trong xã hội, đồng thời góp phần hình thành, phát triển đội ngũ kẻ sĩ (trí thức) ở Trung Quốc cổ đại. Những việc làm của Khổng Tử có ảnh hưởng to lớn đối với lịch sử Trung Quốc giống như hành vi và ảnh hưởng của Socrate đối với Tây phương[16].

Khổng Tử là người khởi xướng, đề cao nền giáo dục hướng tới đại chúng, chủ trương hiếu học và đặc biệt coi trọng đức dục. Đây cũng là điều mà Đảng, Nhà nước ta hiện nay đang chủ trương và tích cực thực hiện. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nguyện “làm người học trò nhỏ” của một trong các vị tiền bối là Đức Khổng Tử, vì học thuyết của Ngài có ưu điểm là “sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”. Thiết nghĩ để xây dựng, phát triển đất nước chúng ta cần noi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh – chắt lọc những tinh hoa trong tư tưởng Khổng Tử để vận dụng vào sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước nhà hiện nay.

TS. Bùi Hồng Vạn

Trường Đại học Thương mại (TMU)

Tài liệu tham khảo

01. PGS.TS Doãn Chính (Cb): Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị quốc gia, 2012.

02. Phùng Hữu Lan: Lược sử triết học Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, 2013.

03. Trần Tiến Khôi: Luận ngữ với người quân tử thời hiện đại, Nxb Từ điển bách khoa, 2008.

04. Ian P. McGreal: Những tư tưởng gia vĩ đại Phương Đông, Nxb Lao động, 2005.

05. Phùng Hữu Lan: Lịch sử triết học Trung quốc, Tập I, Nxb Khoa học xã hội, 2013.

06. Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, Viện Harvard-Yenching Hoa Kỳ: Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành, Nxb Thế giới, 2009.

07. Nhân tử Nguyễn Văn Thọ: Chân dung Khổng Tử, Nxb Hồng Đức, 2012.

08. Sào Nam Phan Bội Châu: Khổng học đăng, Nxb Văn hoá thông tin, 1998.

09. Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (Chủ dịch): Tứ thư, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003.

10. Lý Minh Tuấn: Tứ thư bình giải, Nxb Tôn giáo, 2011.


[1] – PGS.TS Doãn Chính (Cb): Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị quốc gia, 2012, tr. 253.

[2] – Phùng Hữu Lan: Lược sử triết học Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr. 51.

[3] – Ngày nay UNESCO xếp Khổng miếu vào danh mục di sản văn hoá thế giới.                  

[4] – Tư tưởng này ta còn thấy ở Đức Thích ca mâu ni, Ngài sẵn sàng chấp nhận mọi đối tượng làm đệ tử.

[5] – PGS.TS Doãn Chính: Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr. 258.

[6] – Trần Tiến Khôi: Luận ngữ với người quân tử thời hiện đại, Nxb Từ điển bách khoa, 2008, tr. 17.

[7] – Ian P. McGreal: Những tư tưởng gia vĩ đại phương Đông, Nxb Lao động, Hà Nội, 2005, tr. 137.

[8] – PGS.TS Doãn Chính: Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr. 259.

[9] – Ian P. McGreal: Những tư tưởng gia vĩ đại Phương Đông, Nxb Lao động, 2005, tr. 141.

[10] – Phùng Hữu Lan: Lịch sử triết học Trung Quốc, Tập I , Nxb Khoa học xã hội, 2013, tr. 96.

[11] – Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, Viện Harvard-Yenching Hoa Kỳ: Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành, Nxb Thế giới, 2009, tr. 9.

[12] – Nhân tử Nguyễn Văn Thọ: Chân dung Khổng Tử, Nxb Hồng Đức, 2012, tr. 301.

[13] – Sào Nam Phan Bội Châu: Khổng học đăng, Nxb Văn hoá thông tin, 1998, tr. 25-26.

[14] – Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (Chủ dịch): Tứ thư, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 124-125.

[15] – Lý Minh Tuấn: Tứ thư bình giải, Nxb Tôn giáo, 2011,  tr. 153.

[16] – Phùng Hữu Lan: Lịch sử triết học Trung Quốc, Tập I, Nxb Khoa học xã hội, 2013, tr. 97.

ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO

Nổi bật

1. Đạo Phật là một thành tựu văn hoá, văn minh đặc sắc, trước hết của dân tộc Ấn, sau đó là của cả nhân loại. Đạo Phật xuất hiện ở Ấn Độ cách ngày nay hơn 2.500 năm, về sau lan toả và phát triển ra khắp các châu lục và hiện đang là “một trong ba tôn giáo lớn của thế giới (Đạo Phật, Đạo Cơ đốc và Đạo Hồi”).

Sinh thời, A. Einstein đã cho rằng: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, xuất phát từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, và Phật giáo đáp ứng đủ các điều kiện ấy”.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay Phật giáo được nhân loại tôn vinh là một tôn giáo có triết lý sống nhân văn, thiết thực nhất và trở thành thứ Đạo được hướng tới trong tương lai. Đạo Phật xuất phát từ hiện thực con người và vì con người, nhằm hướng con người đi đến hạnh phúc an lạc.

Nói một cách vắn tắt, Đạo Phật là con đường giải thoát con người khỏi khổ đau, bất toại nguyện. Tìm hiểu sâu chúng ta sẽ nhận thấy trong toàn bộ giáo lý của Đạo Phật thể hiện một nếp sống đạo đức có những đặc trưng riêng biệt, nổi bật mà con người khi trải nghiệm sẽ nhận ra được chân giá trị đích thực của hạnh phúc.

Đạo đức là một phạm trù được quan niệm không hoàn toàn giống nhau trong các nền văn hoá và trong các thời đại lịch sử. Nó là phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội; là những phẩm chất tốt đẹp của con người. Đây là quan niệm chung về đạo đức.

Quan niệm đạo đức của Đạo Phật căn bản cũng như vậy. Nhưng có cái khác biệt là nhấn mạnh đến cái thiện ở bên trong, nó là cái gốc của những hành vi, lời nói tốt đẹp thể hiện ra bên ngoài của con người.

“Đạo đức là những khuynh hướng tốt có trong tâm ta, mà những khuynh hướng đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến cho mọi người chung quanh ta được chuyển hoá, an vui, lợi ích”.

2. Đạo Phật là đạo giải thoát chúng sinh khỏi trầm luân khổ ải, bất toại nguyện. Từ góc nhìn này ta thấy Đạo Phật là một loại đạo đức lớn.

Trong tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), nếu phân tích đến cùng sẽ ẩn chứa đạo đức bên trong. Nhưng có lẽ biểu hiện rõ nét và tập trung nhất của đạo đức trong Phật giáo là ở các Giới (Ngũ giới, lục giới và thập giới).

Khi nghiên cứu về đạo đức trong Phật giáo, ta nhận thấy một số điểm nổi bật sau:

Một là: Đạo đức Phật giáo thể hiện rõ ràng, dứt khoát về thiện ác.

Đây là điểm khác biệt với nhiều học thuyết đạo đức học phương Tây. Phương Tây thường nhấn mạnh tính tương đối của thiện ác, coi tiêu chuẩn của thiện ác có sự thay đổi theo thời gian và không gian. Phật giáo luôn thể hiện sự dứt khoát, minh bạch trong vấn đề này.

Trong Kinh Tăng chi bộ khẳng định thiện và ác phân biệt cách xa nhau như đất với trời, phân biệt rõ nguyên nhân căn bản của ác là tham, sân, si và nguyên nhân căn bản của thiện là không tham, không sân, không si.

Đồng thời Kinh cũng phân biệt rõ kết quả do thiện ác đem lại là hạnh phúc và bất hạnh cho con người ở đời này và đời sau như thế nào. Hình tướng của thiện và ác được phân tích rõ ràng là không sát sinh hay sát sinh, bố thí hay trộm cắp, sống chính hạnh hay là tà hạnh, v.v… cho đến những ý nghĩ thiện hay bất thiện trong tâm hồn cũng được phân tích rõ ràng minh bạch.

Kinh chép: “Có hai tiềm lực trong con người, làm điều thiện hay làm điều ác. Thật có thể từ bỏ điều ác; từ bỏ điều ác đem lại lợi ích và hạnh phúc. Cũng có thể huân tập điều thiện. Huân tập điều thiện cũng mang lại lợi ích và hạnh phúc (đoạn 19)”.

Nếu chúng ta coi trọng tính thực tiễn của học thuyết đạo đức, nghĩa là mọi học thuyết đạo đức đều phải hướng tới việc khích lệ mọi người sống thiện, bỏ ác, thì những chủ thuyết không phân biệt rõ thiện và ác làm sao có thể hoàn thành được mục tiêu này.

Nếu một chủ thuyết tuyên bố thiện là cái không thể định nghĩa thì làm sao có thể khuyến cáo người ta làm điều thiện.

Chính vì vậy mà giáo sư T.W. Rhys Davids đã phê phán đạo đức học phương Tây: “Cho tới nay, việc nghiên cứu đạo đức ở phương Tây đã thất bại thảm hại qua những cuộc bàn cãi lý luận kéo dài và những tư biện trống rỗng cắt đứt mọi thực tế”.

Hai là: Đạo đức Phật giáo có tính liên tục và nhất quán.

Nội dung của thiện ác như chính Đức Phật Thích Ca đã đích thân thuyết giảng, từ ngày Ngài còn tại thế cách đây hơn 2.500 năm và được kết tập trong Kinh tạng Nguyên thủy, nội dung thiện ác đó đã được duy trì một cách liên tục nhất quán cho đến nay, hầu như không thay đổi gì kể cả trong thời kỳ Phật giáo bộ phái và Phật giáo Đại thừa.

Nội dung của năm giới, mười điều thiện đến nay, vẫn không thay đổi mặc dù Phật giáo đã phát triển qua một thời gian dài và trở thành một tôn giáo thế giới, có mặt ở hầu hết các nước trên hành tinh này.

Sự phân biệt thiện ác của đạo đức Phật giáo không chỉ dứt khoát, minh bạch mà còn nhất quán và liên tục.

Có thể nói, được chính Đức Phật Thích Ca tuyên bố và minh định nội dung của đạo đức Phật giáo thật sự là những giá trị siêu thời gian và không gian, và nó trở thành khuôn mẫu ứng xử tốt đẹp nhất của con người, không kể là thời đại nào hay ở châu lục nào.

Vì thế mà Albert Schweitzer khẳng định: “Đức Phật đã sáng tạo ra một nền đạo đức nội tâm hoàn thiện nhất”, và “trong lĩnh vực này, Đức Phật đã nói lên những chân lý đạo đức có giá trị bất hủ, đã phát triển nền đạo đức không phải của đất nước Ấn Độ mà là của cả nhân loại. Đức Phật là một trong những nhà đạo đức học vĩ đại nhất, kỳ tài nhất mà thế giới có được”.

Ba là: Đạo đức Phật giáo dựa trên quy luật nhân quả nghiệp báo.

Đây là một quy luật có giá trị khách quan nhất, công bằng nhất, quy luật nhân quả nghiệp báo đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với cá nhân, cũng như đối với cộng đồng và xã hội.

Theo Phật dạy, nghiệp là hành động. Nghiệp báo là kết quả hay là quả báo của hành động. Quả báo đó tương ứng với hành động tức nghiệp tạo ra nó. Ca dao tục ngữ Việt Nam đã đúc kết quy luật đó thành những câu như “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão”. Đó là quy luật mà lương tri mọi người đều chấp nhận.

Đạo Phật xem quy luật này như là cái chìa khóa, giúp lý giải tất cả mọi sự vật và hiện tượng diễn biến trong tự nhiên và xã hội.

Đạo Phật bác bỏ Thần ý luận, cũng như Ngẫu nhiên luận. Nếu mọi diễn biến trong xã hội đều do ý của thần linh hay của đấng sáng tạo sắp xếp sẵn rồi, thì mọi cố gắng sống đạo đức của người đều là vô ích.

Đối với Ngẫu nhiên luận cũng vậy, nếu mọi diễn biến trong xã hội đều xảy ra một cách ngẫu nhiên, không có quy luật gì cả, thì sống đạo đức mà làm gì?

Định mệnh luận và Túc mệnh luận, tuy không phải là Thần ý luận, nhưng kết quả đối với hành động đạo đức của con người, cũng mang một ý nghĩa tiêu cực như thế.

Nếu mọi diễn biến xảy đến cho xã hội và cá nhân đều do định mệnh, hay là do quá khứ quyết định và an bài, thì mọi cố gắng của con người trong hiện tại đều là bất lực và vô ích. Con người chỉ còn biết an phận và chịu đựng.

Đọc các vở kịch thơ của Homère thời Hy Lạp cổ đại, chúng ta thường gặp khái niệm số mệnh hay số phận. Đó là một giải thích rất tiêu cực đối với mọi diễn biến của cuộc sống cá nhân và xã hội.

Đạo Phật, trái lại tuyên bố “Con người là chủ nhân của nghiệp, đồng thời con người cũng là thừa tự của nghiệp”, nghĩa là chính con người hành động bằng ý chí tự do của mình, và con người phải chịu hậu quả của hành động của mình. Con người tuy là thừa tự của nghiệp nhưng quyết không phải là nô lệ của nghiệp.

Với một nỗ lực đạo đức tối đa trong hiện tại người ta hoàn toàn có thể chuyển nghiệp quá khứ, hạn chế nghiệp quá khứ, thậm chí có thể xóa bỏ nó chuyển thành nghiệp thiện, nghiệp lành.

Cũng như một người, do nghiệp nhân tạo ra trong đời quá khứ, phải sanh ra với một thân thể gầy yếu, thế nhưng, người đó với một cố gắng liên tục và tối đa rèn luyện thân thể, hoàn toàn có thể trở thành khỏe mạnh, thậm chí trở thành một lực sĩ hay võ sĩ.

Đạo Phật bao giờ cũng khẳng định khả năng của con người là vô tận, nếu con nguời có ý chí phấn đấu, bản thân mình cũng như hoàn cảnh mình đều có thể cải tạo được theo hướng tiến bộ, nếu người thật sự muốn và cố gắng.

Có thể nói, sự hiểu biết đúng đắn thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật sẽ tạo cho mỗi người một ý thức trách nhiệm rất cao đối với cá nhân mình và xã hội.

Bởi vì, căn cứ theo quy luật Nhân quả Nghiệp báo của đạo Phật, tất cả mọi hành động lời nói cho đến mỗi ý nghĩ của chúng ta, đều tác động đến bản thân chúng ta trong hiện tại và tương lai, đồng thời cũng tác động đến xã hội, tạo ra cái mà đạo Phật gọi là biệt nghiệp, đối với mỗi cá nhân và tạo ra cộng nghiệp đối với cộng đồng và xã hội.

Nói cộng đồng ở đây là các cộng đồng nhỏ và lớn, trong đó mỗi con người chúng ta sống và hoạt động như gia đình, tập thể cơ quan, ngành nghề và quốc gia xã hội.

Sống có ý thức, với đầy đủ trách nhiệm của mình tức là nhận chân thật rõ, không chút mơ màng là mỗi việc làm, mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ của chúng ta đều có tác động ít hay nhiều đến bản thân mình đã đành (biệt nghiệp), mà còn đến người khác nữa, đến môi trường sống chung quanh chúng ta (cộng nghiệp).

Cương vị càng cao, quyền lực càng lớn, thì tầm cỡ ảnh hưởng của mỗi việc làm chúng ta cũng rộng lớn theo, chứ không chỉ hạn chế trong phạm vi gia đình, bạn bè thân thuộc.

Bốn là: Những nguyên lý đạo đức Phật giáo có ý nghĩa thực tiễn, sống động.

Mỗi người phải biểu hiện thường xuyên bằng những hành động đạo đức, lời nói đạo đức cho tới ý nghĩ đạo đức, trước hết là của tất cả Tăng, Ni, Phật tử. Nhờ vậy, chúng ta tỏa sáng cho đời để cuộc đời sáng đẹp hơn lên.

Như thế, đạo Phật có mặt trong đời sống không chỉ diễn bày qua chùa chiền, tượng Phật, kinh sách, các nghi lễ cầu an, mà trước hết là bằng nếp sống đạo đức của Tăng, Ni, Phật tử, bằng những quan hệ ứng xử mẫu mực của mọi người với nhau trong xã hội.

Khi mỗi người đã nhận chân ra đặc trưng của đạo đức Phật giáo là gì, thì chắc chắn rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với bất cứ ai thực hành theo nếp sống này.

3. Tóm lại: Đạo đức Phật giáo là một thành tựu văn hoá, văn minh chung của nhân loại. So với những truyền thống đạo đức khác (như Nho giáo, Đạo thiên chúa, Đạo Hồi…) thì đạo đức Phật giáo có nhiều điểm riêng biệt, độc đáo.

Nghiên cứu đạo đức Phật giáo và tìm cách khai thác những hạt nhân hợp lý trong đó, kết hợp với các truyền thống đạo đức khác sẽ giúp ta xây dựng một xã hội tốt đẹp, hạnh phúc hơn trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

[01] – Hoàng Tâm Xuyên (Chủ biên): Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
[02] – Tâm Thiện: “Tôn giáo và giá trị đích thực” trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, (Chương trình Phật học hàm thụ, Tập 2), Nxb Hồng Đức, 2013.
[03] – Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, 1999.
[04] – Thích Chân Quang: Tâm lý đạo đức, (Quyển số 1, Tái bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung), Nxb Tôn giáo, 2006.
[05] – Damien Keown: Đạo đức học Phật giáo, Nxb Tri thức, 2013.
[06] – Minh Hạnh Đức: “Đạo đức Phật giáo”, in trong Đạo Phật ngày nay, Tập 46 (10-2014), Nxb Phương Đông.
[07] – Thu Giang Nguyễn Duy Cần: Phật học tinh hoa (Tái bản lần thứ nhất), Nxb Trẻ, 2014.
[08] – Nguyễn Duy Hinh: Một số bài viết về Tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội, 2007.

TS Bùi Hồng Vạn
Trường Đại học Thương mại (TMU)

NÊN GIÁO DỤC TRẺ CÀNG SỚM CÀNG TỐT

Giáo dục trẻ là công việc muôn thuở của những ông bố, bà mẹ, của những người lớn là thầy cô giáo, người thân và xã hội. Tuy nhiên việc giáo dục trẻ từ xưa đến nay không hề đơn giản và dễ dàng. Trong lịch sử giáo dục căn bản tồn tại hai quan niệm giáo dục trẻ trong những tháng năm đầu đời. Một quan niệm chủ trương giáo dục khi trẻ 7-8 tuổi, quan niệm ngược lại thì cho rằng nên giáo dục trẻ sớm hơn, khoảng từ 0-6 tuổi. Bài viết sẽ đề cập đến giáo dục trẻ theo quan điểm thứ hai, giáo dục sớm.

1. Trên thế giới đã có những nghiên cứu và thực tế chứng minh rằng, việc giáo dục trẻ sớm có vai trò quan trọng, quyết định đến cuộc đời con người. Chẳng hạn, trong cuốn sách “Thiên tài & sự giáo dục từ sớm” của Kimura Kyuichi nói đến nhiều trường hợp trẻ nhờ có sự giáo dục sớm của cha mẹ đã phát triển thành những tài năng nổi bật (thiên tài). Một trong số đó là cậu thiếu niên 15 tuổi đã tốt nghiệp trường Đại học Harvard – William James Sidis, con trai của một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ – Boris Sidis.

Thành tích học tập của William được coi là hết sức kỳ diệu. William bắt đầu được học tập khi cậu 18 tháng, đến 3 tuổi thì đã biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ. Lên 5 tuổi, khi nhìn thấy tiêu bản của một bộ xương trong nhà cậu đặc biệt hứng thú với cấu tạo cơ thể người và bắt đầu học môn Sinh lý học. Không lâu sau cậu đã đạt được học vấn tương đương với người có chứng chỉ hành nghề y.

Năm lên 6 tuổi, William đến trường tiểu học cùng những đứa trẻ khác. Ngay trong năm đó, cậu bé đã học xong chương trình tiểu học. Khi lên 7 tuổi, William muốn học tiếp trung học nhưng vì còn nhỏ nên bị từ chối và phải học tập tại gia. Ở nhà, cậu tự học chủ yếu môn toán bậc trung học. Năm lên 8, cậu vào trường trung học, môn nào cũng đạt kết quả xuất sắc. Đối với môn toán cậu có thể giúp thầy sửa bài cho những học sinh khác.

Trong thời gian này, William đã viết sách về Thiên văn học, ngữ pháp tiếng Anh và sách giáo khoa tiếng La-tinh. Tất cả kiến thức ở bậc trung học cậu đều nắm vững và chẳng mấy chốc đã tốt nghiệp. Từ đó trở đi tên tuổi của cậu bắt đầu lan rộng. Nhiều người gần xa tìm đến nhà cậu để kiểm chứng và tất cả đều rất khâm phục tài năng của William.

Một giáo sư dạy ở Học viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ) đã chất vấn William bằng một câu hỏi khó trong đề thi lấy bằng tiến sỹ của mình tại Đức. Chỉ trong nháy mắt, cậu đã có câu trả lời, bấy giờ William mới 9 tuổi. Sau đó, William tự học ở nhà và đến 11 tuổi thì vào học tại Đại học Harvard. Không lâu sau cậu đã tham gia diễn thuyết về đề tài Không gian bốn chiều – một vấn đề rất khó của toán học – và đã khiến các giảng viên hết sức ngạc nhiên.

Năm 12 tuổi, William rất tâm đắc với cuốn Thiên tài và người bình thường của bố cậu. Cậu rất giỏi về thiên văn học và toán cao cấp, những thứ mà nhiều học giả thời đó cảm thấy đau đầu. Đặc biệt hơn, William còn thuộc cả bản gốc bộ sử thi Iliade và Odysée viết bằng tiếng Hy Lạp.

Cậu còn rất giỏi các ngôn ngữ cổ xưa. Những tác phẩm của các nhà hài kịch Hy Lạp cổ đại như Sophocles, Euripides, Aristophanes… William đều đọc và hiểu dễ dàng chẳng khác gì cuốn truyện phiêu lưu Robinson Crusoe mà những đứa trẻ khác vẫn đọc.

Cậu cũng nắm rõ về thần thoại và ngôn ngữ so sánh, lý luận học, lịch sử cổ đại, lịch sử nước Mỹ… đồng thời còn am hiểu chính trị và hiến pháp của các quốc gia khác. Với trình độ đó, William đã tốt nghiệp đại học loại xuất sắc và tiếp tục học để lấy bằng tiến sỹ.

Ngoài William, sách còn kể đến một số thiên tài khác cũng được giáo dục, đào tạo từ rất sớm. Đó là Adoref Augustus Berle, 13 tuổi rưỡi vào học Đại học Harvard và chỉ học trường này có 3 năm đã tốt nghiệp. Hay Norbert Wiener, con trai của tiến sỹ ngôn ngữ Slavơ vào học ở trường Đại học Taft từ năm 10 tuổi, đến 14 tuổi thì tốt nghiệp và học tiếp cao học tại Harvard, về sau đỗ tiễn sỹ năm 18 tuổi.

Trên thế giới còn nhiều trường hợp xuất sắc khác cũng do được giáo dục đào tạo sớm theo đúng cách tạo nên.

Điển hình là trường hợp nhà Luật học người Đức Karl Witte. Witte sinh tháng 7 năm 1800 tại vùng Hale của nước Đức. Cha ông chỉ là mục sư ở một làng quê bình thường, nhưng là người có nhiều sáng kiến trong dạy con khiến mọi người rất nể phục.

Cha Witte cho rằng cần phải giáo dục con ngay từ khi còn là đứa trẻ sơ sinh. Theo cách nói của ông “giáo dục con trẻ phải bắt đầu từ buổi bình minh của nhận thức”. Ông tin rằng, làm như vậy “đứa trẻ sẽ trở thành phi phàm”.

Theo cách này, năm lên 8-9 tuổi, cậu bé Witte đã thông thạo sáu thứ tiếng: Đức, Pháp, Ý, La-tinh, Anh và Hy Lạp. Cậu còn biết cả về động vật học, thực vật học, vật lý, hoá học và đặc biệt là toán học.

Năm 9 tuổi, Witte đã thi đậu vào trường Đại học Leipzig và tháng 4-1814, khi chưa đầy 14 tuổi, Witte đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ về đề tài toán học. Sau đó Witte nhận bằng tiến sỹ triết học, luật học năm 16 tuổi và được bổ nhiệm làm giảng viên luật ở Đại học Berlin…

Nhiều người khi đọc đoạn mô tả trên sẽ nghĩ rằng đó là những thần đồng, những thiên tài vừa mới lọt lòng. Kỳ thực khi khảo sát và suy ngẫm kỹ càng sẽ nhận ra không phải vậy.

Những trường hợp trên không phải sinh ra đã là thần đồng hay thiên tài. Họ là kết quả của nhiều nền giáo dục khác nhau, là những anh tài do được giáo dục từ rất sớm, khi mới lọt lòng.

Cha của Witte đã ghi lại tất cả những phương pháp mà ông đã áp dụng trong quá trình dạy dỗ con mình từ khi ra đời đến năm 14 tuổi và chỉnh lý, biên soạn thành cuốn sách nổi tiếng – “Phương pháp giáo dục của Witte” (1818). Sách ra đời cách nay gần 200 năm (hiện chỉ còn một cuốn của thư viện trường Đại học Harvard), nhưng giá trị của nó thì không cần bàn cãi.

Những “thiên tài” được giới thiệu trong phần đầu bài viết đều được cha mẹ họ sử dụng các phương pháp giáo dục trẻ được nêu trong cuốn sách này.

2. Quan điểm giáo dục trẻ sớm tạo ra thiên tài xuất hiện từ lâu và đã được thực tế kiểm chứng. Theo quan điểm này trong khoảng đầu đời, từ 0-6 tuổi là “thời kỳ vàng” của trẻ. Nếu các bậc cha mẹ, giáo viên biết nắm lấy và triển khai việc giáo dục sớm theo đúng phương pháp sẽ giúp trẻ phát triển, phát huy được thế mạnh trí não để trở thành những tài năng nổi bật.

Cơ sở của thuyết giáo dục sớm dựa trên các kết quả nghiên cứu về sự phát triển của hệ thần kinh. Theo nhiều tài liệu, trí thông minh (IQ) của con người được quyết định bởi não bộ, mà não bộ của trẻ lại phát triển chủ yếu trong giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi. Vì vậy, việc giáo dục nên bắt đầu ngay trong giai đoạn đầu tiên này.

Cụ thể hơn, đứa trẻ sinh ra sẵn có 100 phần năng lực, để tự nhiên thì nó chỉ có thể phát triển được 20-30 phần. Nhưng nếu được giáo dục tốt có thể khi trưởng thành năng lực sẽ phát triển đến 60-70 phần, thậm chí tốt hơn là 80-90 phần. Lý tưởng nhất khi giáo dục để trẻ phát huy được đủ 100 phần năng lực vốn có.

Thực tế năng lực của trẻ tồn tại theo quy tắc giảm dần: Nếu được giáo dục đúng cách từ khi sinh ra có thể đạt đủ 100 phần, nhưng nếu bắt đầu khi trẻ 5 tuổi thì dù có làm tốt đến mấy cũng chỉ phát huy được 80 phần, còn nếu bắt đầu từ 10 tuổi thì tối đa chỉ được 60 phần. Nghĩa là thời điểm bắt đầu càng muộn thì khả năng phát huy năng lực sẵn có của trẻ càng giảm.

Trong giai đoạn từ 0-6 tuổi, dù trên phương diện tâm lý hay sinh lý, việc giáo dục tốt sẽ ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến cấu trúc và chức năng não bộ của trẻ.

GS Kaspyi cùng các nhà nghiên cứu của Học viện Quốc gia London khi tiến hành điều tra đối với 1000 em bé trong vòng 25 năm (1980-2005) nhận thấy “Mọi lời nói, hành động của những đứa trẻ hồi nhỏ phản ánh rõ tính cách của chúng khi trưởng thành”.

GS Kaspyi kết luận: “Tất cả mọi chuyện đã trải qua hồi còn nhỏ của một người đều được đại não ghi nhận lại, và trở thành mấu chốt ảnh hưởng đến việc phát triển tính cách sau này. Điều đó có nghĩa là thời kỳ quan trọng đối với việc hình thành tính cách và bồi dưỡng năng lực của trẻ nằm ngay trong giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi. Nhu cầu đòi hỏi của trẻ trong giai đoạn này rất mạnh, dưới sự thúc đẩy của việc tò mò muốn khám phá thế giới xung quanh, trẻ con còn có thể tiếp nhận tất cả các loại kiến thức khác nhau. Tính cách của trẻ giống như một hạt giống, nếu được gieo trồng trong môi trường đất thích hợp và được hấp thu những chất dinh dưỡng có lợi, chắc chắn nó sẽ phát triển thành một cây xanh tươi tốt, có khả năng sống bền vững”.

Nhà Tâm lý học người Mỹ – Benjamin Bloom cũng đã tổng kết thành tựu của ngành Tâm lý học về mức độ thông minh của con người. Theo ông, nếu giả sử lấy IQ của đứa trẻ 17 tuổi ứng với IQ của người trưởng thành là 100% thì sự phát triển của đứa trẻ 4 tuổi sẽ là 50%, 8 tuổi là 80%, 12 tuổi là 90% và 13 tuổi là 92%.

Các số liệu này được thể hiện trên biểu đồ cho thấy tốc độ phát triển về trí thông minh không đồng đều, 4 năm đầu phát triển rất nhanh, 4 năm tiếp theo giảm dần và 4 năm sau đó thì chậm hẳn. Điều này chứng tỏ tốc độ phát triển trí thông minh khi tuổi càng nhỏ sẽ càng nhanh.

Theo khoa học nghiên cứu về thần kinh con người, cơ sở cấu trúc não của trẻ là do gien của cha mẹ quyết định, nó sẽ cung cấp một mô hình về sự phân bố các tế bào thần kinh ở não. Thông qua sự kích thích từ môi trường bên ngoài, những tế bào thần kinh này gắn kết lại với nhau. Các nhà khoa học gọi sự gắn kết này là liên kết thần kinh, những tế bào liên kết sẽ quyết định não bộ của trẻ xử lý thông tin mới ra sao, tạo ra cơ sở cho việc học tập, phản ứng, giao tiếp xã hội và phát triển tình cảm sau này.

Một đứa trẻ khi mới ra đời có số lượng tế bào liên kết thần kinh trong não chỉ bằng 1/10 so với người lớn. Thông qua những trải nghiệm phong phú đa dạng trong cuộc sống sau này, các tế bào liên kết sẽ không ngừng gia tăng số lượng. Khi trẻ khoảng 2-3 tuổi, số lượng liên kết này tăng gấp 20 lần so với khi mới sinh.

Điều đó cũng có nghĩa là tỷ lệ trao đổi chất trong não bộ của trẻ vào lúc này rất cao, nên sự phát triển trí lực và khả năng học tập trong giai đoạn này cũng rất nhanh, thậm chí còn vượt xa cả người trưởng thành. Một số lượng lớn tế bào liên kết sẽ giảm tốc độ xử lý thông tin của não bộ, những tế bào liên kết nhỏ bé không cần thiết sẽ bắt đầu bị loại bỏ khi trẻ được 21 tháng tuổi.

Chỉ còn một vài khu vực có kinh nghiệm tiếp nhận thông tin, cũng chính là những liên kết thần kinh đã từng sử dụng qua mới có thể tồn tại được. Nói cách khác, nếu những kích thích từ bên ngoài mà trẻ tiếp nhận càng phong phú thì số lượng tế bào liên kết trong não bộ sẽ càng nhiều.

Kết quả một cuộc nghiên cứu kéo dài suốt 18 năm đã chỉ ra rằng, năng lực của những đứa trẻ đã từng tiếp xúc với giáo dục sớm trước 6 tuổi trong các lĩnh vực đọc sách và học toán, thậm chí trong cả thành tích học ở tiểu học, trung học đều cao hơn những đứa trẻ không được tiếp xúc với giáo dục sớm.
Như vậy, cần phải khẳng định thêm một lần nữa: Giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi của trẻ chính là quãng thời gian chủ yếu, quan trọng để phát triển trí thông minh.

Sự phát triển của não bộ không giống với sự phát triển của hệ miễn dịch hay phát triển xương, điều đó có nghĩa là phát triển não bộ chỉ có một giai đoạn, khi đã trải qua giai đoạn phát triển đỉnh cao này, sự phát triển của hệ thần kinh trung ương cơ bản đã hình thành, nên sau này có muốn bổ sung thêm là điều rất khó khăn.

Vì thế, nếu muốn khai thác tối đa tiềm năng trong đại não của trẻ, các bậc cha mẹ, thầy cô giáo cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi để từ đó “cung cấp chế độ dinh dưỡng đầy đủ nhất, phong phú nhất, đồng thời phải đảm bảo sự phát triển toàn diện của não bộ cùng các bộ phận khác trên cơ thể; không chỉ vậy, còn phải tạo ra sự kích thích từ môi trường bên ngoài một cách hoàn thiện nhất, để kết cấu và tổ chức bên trong não bộ phát triển nhanh và lành mạnh ”.

Khi chủ trương giáo dục sớm chắc chắn có những bậc cha mẹ e ngại vì việc này có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của trẻ. Thực tế không phải vậy, tất cả các trường hợp được áp dụng theo phương pháp giáo dục này đều khoẻ mạnh, phát triển bình thường.

Chẳng hạn: Witte sống đến 83 tuổi, Huân tước Kelvin cũng thọ 83 tuổi và James Thomson thọ 70 tuổi… Tóm lại, không có bằng chứng nào cho thấy việc giáo dục sớm có ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ. Các bậc cha mẹ, giáo viên có thể yên tâm về vấn đề này.

Trong quá trình giáo dục, cha mẹ, thầy cô giáo và những người lớn cần quan tâm giáo dục cho trẻ những đức tính cần thiết để phát triển như: trung thực, nhân ái, tính tự lập, v.v…

Và cần ghi nhớ rằng, sự dạy dỗ, giáo dục nhân cách, đặc biệt là thói quen, cách sống, sinh hoạt và ngôn ngữ ở độ tuổi sơ sinh đối với cộng đồng, xã hội, đối với loài người là yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển bình thường của trẻ em.

Nói một cách vắn tắt là cần quan tâm giáo dục cho trẻ trên cả bốn mặt – “Đức, Trí, Thể, Mỹ”. Một điều khác các bậc cha mẹ, thầy cô giáo rất cần lưu tâm là quá trình giáo dục phải đặt trên nền tảng của tình yêu thương và tôn trọng trẻ. Người lớn dứt khoát phải loại bỏ những hành vi tiêu cực như chửi bới, trừng phạt, đánh đập con trẻ bằng đòn roi, vũ lực.

Với nhiều người, làm được việc này thật không dễ dàng; nhưng vì lợi ích lâu dài của bản thân trẻ và của cả gia đình, xã hội chúng ta cần có những hành động theo chiều hướng tích cực. Bởi, dù có trừng phạt trẻ nghiêm khắc, cũng chẳng có tác dụng gì.

Trên thực tế việc đó rất có hại cho trẻ em và thanh thiếu niên. Đồng thời khi dùng hình phạt, vũ lực trong nuôi dạy trẻ – chứng tỏ sự bất lực của người lớn (“Ta ra lệnh cho các tinh cầu câm lặng, bởi vì ta bất lực”). Có lẽ chẳng ai trong chúng ta muốn mình rơi vào tình cảnh này.

Trong giáo dục sớm, cha mẹ giữ vai trò rất quan trọng, nhất là người mẹ. Mẹ là người gần gũi nhất, đồng thời là “người giáo viên đầu tiên” của con. “Giáo dục của mẹ lớn hơn sự dạy dỗ của cả trăm người thầy ”.

Câu thành ngữ của người Do Thái không phải không coi trọng sự giáo dục của nhà trường mà có lẽ họ chỉ muốn nhấn mạnh hơn đến vai trò giáo dục gia đình, của người mẹ trong một hai năm đầu khi trẻ mới sinh ra.

3. Trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn đều cho thấy, việc giáo dục trẻ nếu được tiến hành sớm và đúng phương pháp trong “thời kỳ vàng”, khoảng từ 0 đến 6 tuổi sẽ cho phép chúng ta khai thác, phát huy được năng lực phát triển tích cực nhất của trẻ. Trên cơ sở đó, các bậc cha mẹ (gia đình), thầy cô giáo (nhà trường) và xã hội có thể/cơ hội tạo ra được những tài năng lớn, những thiên tài cho đất nước, cho nhân loại.

Tài liệu tham khảo
[01] Kimura Kyuichi: Thiên tài & sự giáo dục từ sớm, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2012.
[02] Ngô Hải Khê: Phương án giáo dục sớm từ 0 – 6 tuổi, Nxb Lao động – xã hội, 2013.
[03] TS Nguyễn Văn Đồng: Tâm lý học phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.
[04] Thomas Gordon: Giáo dục không trừng phạt, Nxb Tri thức, 2012.
[05] Ikeda Daisaku: Thế kỷ XXI, ánh sáng giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013.
[06] Nguyễn Minh (BS): Phương pháp Montessori (Nghệ thuật nuôi dạy trẻ đỉnh cao), Nxb Lao động, 2013.
[07] Thái Tiếu Vãn: Sự nghiệp làm cha (Ghi chép sự huy hoàng của một gia đình tiến sỹ), Nxb Thời đại, 2010.

“VẠN THẾ SƯ BIỂU” VIỆT NAM – CHU VĂN AN

TS Bùi Hồng Vạn
(Trường Đại học Thương mại)

Ở Trung Quốc (và cả Việt Nam) người ta gọi Khổng Tử là “Vạn thế sư biểu” (Người thầy của muôn đời). Khổng Tử là nhà tư tưởng, nhà giáo dục vĩ đại. Chu Văn An không có tầm kích như Khổng Tử, nhưng ở một số khía cạnh về giáo dục, ta vẫn có thể xem ông như “Vạn thế sư biểu” của Việt Nam.

1. Chính sử chép tên ông là CHU AN, song trong nhiều tài liệu không hiểu sao người ta đều gọi ông là CHU VĂN AN. Phải chăng điều này bắt nguồn từ họ tên thân phụ ông (?). [Bố Chu Văn An là Chu Văn Hưng – người Tàu, do chạy loạn Mông Cổ sang Đại Việt lấy vợ làng Thanh Liệt – bà Lê Thị Chiêm].

Về thời gian sinh và mất (với đầy đủ dữ kiện – ngày tháng năm) của Chu Văn An hiện không có tài liệu nào cho biết đầy đủ và chính xác. Ngay năm sinh của ông nhiều sách biên soạn cũng bỏ trống, còn mất thì đều ghi năm 1370.

Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm – Nay là thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội [05, 71]. Thuở chưa trưởng thành, Chu Văn An được mẹ nuôi dưỡng ăn học.

Theo sử sách cho biết, ông là người thông minh, lại rất chăm học nên sớm nổi danh. Sách Đăng khoa lục nói ông thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ), song không ra làm quan mà ở nhà mở trường dạy học. Nhiều người tin Đăng khoa lục, nên khi viết sách thường nói về ông theo tinh thần này. Chỉ cố GS Trần Quốc Vượng là có ý kiến khác, ông viết: “Cho đến nay, chưa có tài liệu nào thuyết phục được tôi là CHU AN đậu thái học sinh nhưng không chịu ra làm quan, ở nhà dạy học. Tôi cho là ông tự học rồi làm thầy đồ làng quê, dần dần nổi tiếng” [03, 559].

Nếu đúng như GS Vượng nói thì Chu Văn An quả là một nhân tài hiếm thấy, do tự học mà thành danh, lại rất nổi tiếng khi làm nghề dạy học.

Chu Văn An dựng trường trên gò lớn giữa đầm để dạy học. Do danh tiếng của ông rất nổi và vang xa, nên khắp nơi học trò kéo đến theo học. Trường Huỳnh Cung không chỉ thu hút học trò bản địa (Hà Đông), Thăng Long, Kinh Bắc, Sơn Nam mà còn thu hút cả những người từ Hồng Châu (Hải Dương), Ái Châu (Thanh Hoá), Hoan Châu (Nghệ An)… đến học.

Chu Văn An dạy giỏi, nổi tiếng đến mức gợi cảm hứng cho dân gian sáng tạo cả một huyền thoại về hai con vua Thuỷ vùng Đầm Rồng (Long Đàm, tên huyện thời Trần) hoá hiện thành người đến thụ giáo. Hai người học trò này đã vâng lời thầy (trái lệnh trời nên sau đó bị chết chém) để làm mưa cứu dân chúng trong vùng qua cơn hạn hán… Quả là một huyền thoại hay ca ngợi sự nổi tiếng của thầy Chu Văn An. Nhưng một số nhà nghiên cứu lại nhận ra đây là tàn tích của phương thuật cầu mưa – một phương thuật khá nổi tiếng của cư dân trồng lúa nước – người Việt cổ ẩn chứa trong huyền tích này [03, 550].

Học trò của ông có rất nhiều người hiển đạt, trong đó có hai người giữ chức quan to trong triều Trần là Lê Bá Quát và Phạm Sư Mạnh.

2. Để dạy học, Chu Văn An đã biên soạn bộ Tứ thư thuyết ước (gồm 10 quyển). Đây là bộ sách luận giải bộ Tứ thư của Trung Quốc. Thời xưa người đi học được dạy kiến thức từ hai bộ kinh điển – Tứ thư và Ngũ kinh của Nho giáo.

Tứ thư, Ngũ kinh truyền vào Việt Nam từ bao giờ, chưa xác định được chính xác. Song, kể từ thế kỷ I đến thời Trần, có nhiều người nước ta theo Nho học nên đã làm quen với hai bộ sách này.

Thời Trần, mặc dù Nho học chưa chiếm thế thượng phong nhưng nó đã được chú trọng hơn trước nhiều. Tứ thư thuyết ước ra đời trong bối cảnh lịch sử đó. Bộ sách tóm lược tinh hoa của 4 cuốn giáo khoa thư của Nho gia xưa là: Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học và Trung dung. Tứ thư thuyết ước nay không còn vì theo GS Trần Quốc Vượng, sách “đã mất về tay giặc Minh” [07, 309].

Theo các nhà nghiên cứu, Tứ thư thuyết ước là sách giáo khoa giảng dạy Nho giáo đầu tiên do người Việt biên soạn. Về sau bộ Tứ thư còn được một số nhà Nho nổi danh khác biên soạn, diễn dịch, luận giải ra tiếng Việt; nhưng sách do Chu Văn An làm vẫn được đánh giá cao hơn. Nội dung Tứ thư thuyết ước được xem là “cùng lý chính tâm”, khác xa Tống Nho cách vật trí tri và còn đi trước cả Dương Vương Minh đời Minh của Trung Quốc [01, 60].

Ngoài Tứ thư thuyết ước, trước tác mà Chu Văn An để lại còn có Thất trảm sớ, Tiều ẩn quốc ngữ thi (đều chưa tìm thấy). Hiện chỉ có 12 bài thơ chữ Hán chép trong VQTT, TVTL và HVVT lưu ở Thư viện Hán Nôm Hà Nội. Trong các bài thơ trên có 5 bài nội dung nói về cảnh chiều tà mà vẫn thể hiện sự lạc quan (có lẽ đây là những bài được Chu Văn An viết ở Chí Linh, phản ánh tâm trạng ông lúc đó). Đặc biệt Thất trảm sớ được người đời bình luận là bài văn bất hủ, “nghĩa cảm quỷ thần”.

3. Chu Văn An rất nghiêm khắc trong dạy học. Tính ông cương nghị, thẳng thắn. Học trò ông, kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la thét không cho vào gặp.

Thời nay, nhiều người hấp thụ tinh thần giáo dục cởi mở, coi trọng người học từ truyền thống văn hoá phương Tây, sẽ không đồng tình với cách ứng xử nghiêm khắc của ông. Nhưng nếu không nghiêm túc (có nhiều khi phải nghiêm khắc) thì liệu người thầy có tạo được sản phẩm tốt cho xã hội? Chu Văn An nghiêm khắc, kết hợp với dạy giỏi đã tạo ra bao hiền tài cho đất nước. Điều này chúng ta không thể phủ nhận và nên đồng cảm với ông.

Trong làng giáo Việt xưa nay, có nhiều nhà giáo tài năng, đức độ. Nhưng người được đánh giá cao như Chu Văn An thì không nhiều. Bên cạnh năng lực tự học thành tài, năng lực dạy giỏi thì nhân cách, khí tiết của ông thật đáng để người đời ngưỡng mộ, đề cao trong lịch sử.

Dưới thời vua Dụ Tông, chính sự rối ren, nhân cách quần thần trong cung nhiều người suy đồi. Trong bối cảnh đó không thấy ai lên tiếng, chỉ thấy sử sách chép Chu Văn An dám đứng ra khuyên can vua. Khuyên can bằng lời không được ông bèn soạn “Thất trảm sớ” dâng lên đề nghị Dụ Tông chém bảy tên gian thần quyền thế đang được vua sủng ái. Can trường như vậy trong lịch sử dân tộc xưa chỉ có mình ông.

Không được vua chấp nhận, ông treo mũ từ quan đi ở ẩn và tiếp tục dạy học. Ứng xử của ông tiêu biểu cho nhân cách của một nhà nho chân chính. Sau này, Sử gia Ngô Thì Sĩ đã có những lời bình thật xác đáng về ông trong sách Việt sử tiêu án: “Văn An là người điềm đạm, giữ tiết hạnh rất nghiêm, không cầu lợi lộc cao sang, chỉ ở nhà đọc sách và dạy học”.

Nhà bác học thời phong kiến Lê Quý Đôn còn cho chúng ta biết, khi dạy học Chu Văn An thường nói với học trò của mình rằng: “Phàm học thành đạt cho mình là để thành đạt cho người, công đức tới dân, ân huệ để lại đời sau, đấy là phận sự của nhà Nho” [dẫn theo 04, 317].

Mặc dù đi ở ẩn, Chu Văn An vẫn luôn quan tâm đến chính sự đất nước. Khi triều đình lập vua mới, ông chống gậy về kinh đô yết kiến. Được vua mời ở lại làm quan nhưng ông khước từ trở về núi Chí Linh tiếp tục dạy học.

Tài năng, khí tiết, nhân cách, sự đóng góp của ông được người đời đánh giá cao và hết lời ca ngợi.

Đọc lại chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư), chúng ta sẽ rõ: “An (người Thanh Đàm), tính cương nghị, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc. Ông ở nhà đọc sách, học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ. Như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát đã làm hành khiển mà vẫn giữ lễ học trò, khi đến thăm hỏi thầy thì lạy ở dưới giường, được nói chuyện với thầy vài câu rồi đi xa thì lấy làm mừng lắm. Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la thét không cho vào. Ông là người trong sạch, thẳng thắn, nghiêm nghị, lẫm liệt đáng sợ đến như vậy đấy. Minh Tông mời ông làm Quốc tử giám tư nghiệp, dạy thái tử học. Dụ Tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước. An khuyên can… không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, đều là những kẻ quyền thế được vua yêu… Sớ dâng lên nhưng không được trả lời, ông liền treo mũ về quê. Ông thích núi Chí Linh, bèn đến ở đấy. Khi nào có triều hội lớn thì đến kinh sư. Dụ Tông đem chính sự trao cho ông, nhưng ông từ chối không nhận. Hoàng thái hậu bảo: “Ông ta là người không thể bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ta?”.

Vua sai nội thần đem quần áo ban cho ông. Ông lạy tạ xong, liền đem cho người khác hết. Thiên hạ đều cho là bậc cao thượng. Đến khi Dụ Tông băng, quốc thống suýt mất, nghe tin các quan đến lập vua, ông mừng lắm, chống gậy đến xin bái yết, xong lại xin trở về quê, từ chối không nhận chức gì” [02, 151-152].

Sử gia Ngô Sĩ Liên bình luận thêm: “Hãy lấy Văn Trinh mà nói, thờ vua thẳng thắn can ngăn, xuất xử thì làm theo nghĩa lý, đào tạo nhân tài thì công khanh đều từ cửa ông mà ra, tiết tháo cao thượng thì thiên tử cũng không bắt làm tôi được. Huống chi tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ… Ông thực đáng được coi là ông tổ của các nhà nho nước Việt ta mà thờ vào Văn miếu” [02, 152-153].

Phan Huy Chú đánh giá: “Ông Văn Trinh học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, được thời ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ. Tìm trong làng Nho ở nước Việt ta, từ trước đến nay chỉ có mình ông, các ông khác thực không thể so sánh được” [11, 336]. Còn Lê Quý Đôn coi Chu Văn An là “bậc thánh cao nhất”, sắc phong thời Lê trung Hưng (1784) thì xếp ông “đứng đầu các nhà Nho, làm rường cột cho đạo ấy. Ghét ác, trừ gian, lẫm liệt một thời chính khí, giúp dân giữ nước, bàng bạc muôn thuở anh linh” [01, 62].

4. Chỉ tiếc, một trí thức tài năng, tiết tháo, vì dân, vì nước và được mọi thời ngưỡng mộ như thế mà tại quê hương ông lại bị đối xử “lạnh nhạt”. Để dạy học, ông phải mở trường ở đất làng khác. Lúc thành danh không được làng đón rước, khi từ quan ông phải tìm đến nơi khác (Chí Linh, Hải Dương) ẩn cư và dạy học. Đến khi ông mất dân làng quê ông cũng chẳng lập đền thờ.

Tóm lại ở nơi ông sinh ra và trưởng thành ông không được dân làng (chính xác là các chức sắc) trọng vọng. Mãi về sau (đến cuối thế kỷ XIX), nhờ có sự can thiệp của một đại nho đang chấp chính là Bùi Huy Bích can thiệp, Hội Tư Văn làng Quang Liệt mới lập đền thờ ông ngoài cái miếu cũ nhỏ bé ở thôn Văn. Nhưng “chức sắc trong làng cũng chỉ lập một đền thờ nhỏ ở Viên Đàm (Đầm Tròn) để thờ ông thôi” [03, 557].

Nguyên nhân dẫn đến thái độ lạnh nhạt, bàng quan của dân làng Thanh Liệt đối với ông do hai cha con ông là dân ngụ cư. Dân ngụ cư ở nông thôn xưa bị đối xử phân biệt và không được hưởng mọi quyền lợi như dân chính cư.

Trong lịch sử nước ta, không chỉ có Chu Văn An bị đối xử như vậy. Ông chỉ là một trong số những nhân vật trí thức xưa bị tục lệ cũ “đối xử lạnh nhạt”. Muốn biết rõ hơn, mời quý độc giả tìm đọc bài “Nỗi bất hạnh của một số trí thức Nho gia”, in trong cuốn sách mới xuất bản (2014) – “Trong cõi” của cố GS Trần Quốc Vượng [07, 301].

Tài liệu tham khảo
[01] Nguyễn Quang Ân (Chủ biên): Lịch sử và văn hoá Việt Nam – Những gương mặt trí thức, Tập I, Nxb Văn hoá thông tin, 1998.
[02] Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, 1998.
[03] GS Trần Quốc Vượng: Văn hoá Việt Nam, Nxb Thời đại & Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, 2013.
[04] Minh Châu & DSC: Hồn sử Việt – Các truyền thuyết, giai thoại nổi tiếng, Nxb Lao động, 2010.
[05] Ngô Đức Thọ (Chủ biên): Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Nxb Văn học, 1993.
[06] Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb Thế giới, 2004.
[07] Trần Quốc Vượng: Trong cõi, Nhã Nam – Nxb Hội nhà văn, 2014.
[08] Ngô Đức Thọ (Chủ biên): Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia tiến sĩ, Hà Nội, 2007.
[09] Nguyễn Đăng Tiến, Nguyễn Phú Tuấn: Danh nhân giáo dục Việt Nam và thế giới, Nxb Văn hoá thông tin, 2011.
[10] Nguyễn Đăng Tiến (Chủ biên): Lịch sử giáo dục Việt Nam trước cách mạng Tháng 8-1945, Nxb Giáo dục, 1996.
[11] Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Nxb Trẻ, 2014.
[12] Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu Hán Nôm: Ngữ văn Hán Nôm, Tập 1, Tứ thư, Nxb Khoa học xã hội, 2004.

ĐÔI LỜI TRI ÂN BẠN ĐỌC!

Tôi rất nhớ bài đầu tiên tôi post lên trang blog “buitamvan.blogspot.com” là bài “Một ngày buồn!”. Gọi là bài kỳ thực đấy chỉ là mấy dòng chia sẻ về tâm trạng của tôi lúc bấy giờ. Đó là ngày 17-10-2019. Thấm thoắt đã hơn ba tuần rồi, chính xác là 23 ngày.

Tôi đã chia sẻ nhiều thứ trên trang bolog “buitamvan.blogspot.com”. Trong khoảng thời gian đó tôi nhận được sự quan tâm, tình thương mến từ rất nhiều người (gồm bạn bè, đồng nghiệp, sinh viên, cả người thân và những người tôi chưa từng gặp mặt). Những bài viết, chia sẻ của tôi còn nhiều hạn chế, chưa có mấy giá trị, ý nghĩa; nhưng các bạn vẫn theo sát, ủng hộ tôi. Điều đó khiến tôi rất cảm động!

Cũng từ ngày hôm nay (8-11-2019), tôi sẽ không post bài lên trang blog “buitamvan.blogspot.com” nữa, thay vào đó tôi sẽ chia sẻ những nghĩ suy, cảm xúc, kiến thức và cả những câu chuyện đời… trên trang blog mới là “buitamvan.com”.

Khi trở lại “sân chơi” blog, theo các bạn trẻ tư vấn, tôi tạo lập blog mới trên nền tảng WordPress. Blog tạo dựng nơi đây có điều kiện vận hành chuyên nghiệp, ổn định và lâu dài hơn so với trên nền tảng Blogger (của Google).

Trong hai ngày qua, tự mình vừa học vừa làm, thêm sự trợ giúp của con trai út – Bùi Quốc Hưng (cựu sinh viên Học viện Bưu chính viễn thông Việt Nam), tôi cũng tạo lập được trang blog mới với tên miền buitamvan.com trên WordPress.

Như vậy giống như trước đi xe đạp, nay tôi “tậu” được xe máy và “phi” trên đường cho phù hợp với nhu cầu cuộc sống thời cách mạng công nghiệp 4.0.

Vì lẽ đó, tôi post bài này để cảm ơn tất cả những ai đã ủng hộ tôi trong thời gian qua, đồng thời thông báo tôi “chuyển nhà”. Mong mọi người tiếp tục ủng hộ BÙI TÂM VĂN trong thời gian tới…

Trân trọng…!!!

Hà Nội, 18h00 ngày 8/11/2019
BÙI TÂM VĂN = BÙI HỒNG VẠN

BÃI BIỂN NHẬT LỆ (QUẢNG BÌNH)

Chuyến khảo sát thực tế kết hợp với du lịch nghỉ mát hè năm 2014 do Khoa LLCT (Trường Đại học Thương mại) tổ chức đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về đất và người Quảng Bình.

Ở tầm quốc gia, quốc tế thì hai danh thắng nổi tiếng là Phong Nha – Kẻ Bàng và động Thiên Đường (gần đây thêm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) là những điểm thu hút khách du lịch bốn phương. Nhưng ở mức khiêm tốn hơn có thể kể đến bãi biển Nhật Lệ cùng nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử khác trên đất Quảng Bình không kém phần hấp dẫn đối với du khách.

Bài viết này nói về một trong những danh thắng, di tích nói trên của Quảng Bình, đó là bãi biển Nhật Lệ với những nét đặc sắc riêng của nó.

1. Về cái tên Nhật Lệ (những giải thích về tên gọi)

Nhật Lệ là tên gọi của một vùng đất và tên một con sông chảy qua nằm trên đất Quảng Bình. Bãi biển Nhật Lệ nằm cạnh cửa sông Nhật Lệ, cách trung tâm thành phố khoảng 3 km về phía Đông Bắc.

Hai tiếng Nhật Lệ dễ gợi lên trong tâm tưởng du khách câu hỏi tại sao sông, bãi biển nơi đây mang tên Nhật Lệ? Người dân địa phương có sự giải thích khác nhau về nguồn gốc của hai chữ Nhật Lệ. Có người nói cái tên “Nhật Lệ” gắn với sự kiện vương phi Mỵ Ê của vua Chiêm Thành đã trầm mình trên dòng sông để thủ tiết sau khi vua Lý Thái Tông chinh phạt Chiêm Thành năm 1044.

Về sau, vào năm 1306, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông muốn yên bờ cõi phương Nam đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành (Chế Mân) làm hoàng hậu[1].

Cuộc hôn nhân chính trị này đã đem về cho nước Đại Việt hai châu Ô, Lý[2]. Nhưng với Huyền Trân thì lại buồn tủi cho thân phận của mình, nàng đã khóc rất nhiều. Không biết bao nhiêu nước mắt của công chúa Huyền Trân đã âm thầm rơi xuống cửa sông nơi mảnh đất này… Cảm thương với hai bậc kiều nữ của hai đất nước đã lặng lẽ rơi những giọt lệ buồn mà người xưa đã gọi tên dòng sông chảy qua đất Quảng Bình là Nhật Lệ.

Người khác lại bảo rằng thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786), khi sông Gianh trở thành lằn ranh của hai bên chiến tuyến thì những lưu dân ở bờ Nam vẫn thường hướng về bờ Bắc, nhớ quê hương mà dòng lệ tuôn rơi. Lâu dần nước mắt chảy thành sông rồi từ sông chảy ra biển mà thành cái tên Nhật Lệ.

Có người nói, theo từ Hán-Việt, “nhật” là ngày, “lệ” là điều được lặp đi lặp lại thành thói quen. “Nhật Lệ” là ngày nào cũng có dòng nước chảy giống nhau, nên gọi là Nhật Lệ… Những cách giải thích trên đây thực hư thế nào, thuyết nào đúng, thuyết nào sai thời nay chúng ta rất khó khẳng định! Dẫu sao cái tên Nhật Lệ vẫn là cái tên đẹp, gây cảm hứng cho du khách đến nơi đây.

2. Bãi biển Nhật Lệ – đẹp, thơ mộng, lãng mạn

Thiên nhiên nơi đây đã ưu ái ban tặng cho Quảng Bình một bãi biển – bãi tắm tuyệt đẹp với nền cát trắng phau và dòng nước biển trong xanh… Đặc biệt, trên bãi biển Nhật Lệ còn có một di chỉ văn hoá khảo cổ học thời đá mới (Bàu Tró) nổi tiếng của cả nước và một hồ nước ngọt xanh trong kỳ lạ.

2.1. Trước hết xin nói về di chỉ khảo cổ học Bàu Tró. Vào mùa hè năm 1923, hai người Pháp (thuộc trường Viễn đông Bác cổ) đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ Bàu Tró. Cuối mùa hè năm đó, nhà địa chất kiêm khảo cổ học Etinen Patte đã tổ chức khai quật và công bố những hiện vật thời tiền sử ở đây.

Những hiện vật này gồm nhiều rìu đá, mảnh tước, hai hòn ghè bằng thạch anh, bàn nghiền hạt mảnh gốm vỡ… Về sau, mùa xuân năm 1980, trường đại học Tổng hợp Huế đã tổ chức khai quật lại di chỉ Bàu Tró ở khoảng cách cách mép nước hồ lúc đó 40 mét, cao hơn mặt nước 2,3 mét và cách hố khai quật của Patte hơn 100 mét về phía Tây. Hiện vật thu được gồm có nhiều rìu, bôn đá, bàn mài, chày nghiền, mũi nhọn và vô số các mảnh gốm vỡ của các loại nồi, niêu, bình, vò…

Các nhà khảo cổ học đã lấy tên di chỉ này để đặt cho nền văn hoá hậu kỳ đá mới phân bố ở các vùng ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế là văn hoá Bàu Tró[3]. Di chỉ khảo cổ văn hoá Bàu Tró có niên đại cách ngày nay khoảng 5.000 năm lịch sử.

2.2. Còn Hồ nước ngọt nằm trong khu di tích Bàu Tró, cách biển hơn 100 mét. Có thể coi hồ nước này là một trong những hiện tượng thiên nhiên đặc biệt. Bởi dù chỉ cách biển (nước mặn) rất gần nhưng nước trong hồ lại ngọt như nước suối trên rừng. Cư dân Đồng Hới xưa thường ra hồ lấy nước về ăn và giặt quần áo cho trắng. Nước hồ chủ yếu rịn ra từ cát nên rất trong mát và có thể tẩy sạch được áo quần dính bẩn.

Đây là nguồn nước ngọt duy nhất cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân vùng này bao đời nay. Bao xung quanh hồ là những dải rừng cây phi lao xanh tươi nổi lên trên một vùng cát trắng. Gần đây do môi trường sinh thái hồ được cải thiện nên có rất nhiều đàn chim bay về cư trú trong rừng cây. Du khách sẽ cảm thấy rất thú vị khi mắc võng dưới rừng cây nằm nghe sóng biển rì rào xen lẫn tiếng chim rừng hót, kêu ríu ran…

Vào mùa hè, khi mực nước trong hồ cạn xuống khoảng một phần ba, trông hồ giống như dấu một bàn chân trái khổng lồ. Có những câu chuyện huyền thoại về hồ nước. Chẳng hạn, người ta kể rằng hồ sâu đến nỗi không có đáy.

Có người đã ném một quả bưởi xuống hồ, sau đó thấy nó nổi lên ở hồ Sen thuộc huyện… Lệ Thuỷ! Có lẽ những câu chuyện huyền thoại chỉ là để nói lên nguồn nước của hồ không bao giờ cạn, cho dù trong mùa hè nắng nóng dai dẳng hàng tháng trời… Hiện, Hồ Bàu Tró vẫn là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng cho cư dân Đồng Hới.

2.3. Nằm cạnh cửa sông Nhật Lệ, bãi biển Nhật Lệ là một trong những bãi biển thuộc diện đẹp nhất của nước ta. Nơi đây còn mang một vẻ đẹp nguyên sơ, với bãi cát trắng phau trải dài cùng làn nước biển trong xanh nhìn rõ tận đáy.

Thiên nhiên ưu ái ban tặng cho biển Nhật Lệ một khung trời huyễn hoặc với bãi cát trắng trải dài, làn nước biển trong xanh và những cây rau Muống biển hoa tím mọc tràn lan khắp bãi cát, tạo nên nét hoang sơ và lãng mạn.

Từ ngoài khơi xa từng lớp sóng bạc tiến vào bờ tựa như những chùm hoa sóng tung bọt trắng xóa… Những lúc trời xanh trong gió mát, bãi biển sạch như lớp nệm mới, nền cát mịn óng ánh được dầm nén chắc chắn, người ta có thể đạp xe hay chơi các trò chơi thể thao trên đó…

Bãi tắm nơi đây thoai thoải sâu và rất an toàn, gió lồng lộng thổi mát hòa cùng tiếng sóng vỗ rì rào tạo nên một bản giao hưởng của tự nhiên giới với nhiều cung bậc du dương. Dạo chơi trên bãi cát trắng mịn và sạch sẽ, cảm giác thú vị khi từng đợt sóng dạt vào bờ, liếm vào chân rồi nhẹ nhàng rút đi sau khi đã xóa sạch những vết hằn một cách tài tình…

Bãi biển Nhật Lệ náo nhiệt từ khi bình minh ló dạng đến lúc mặt trời đứng bóng, với những tiếng cười đùa cùng những hoạt động sôi nổi của cả dân địa phương lẫn du khách. Đa số dân Đồng Hới thích ra biển khi kết thúc ngày làm việc.

Họ đến đây để tắm biển, chơi thể thao, ăn nhậu hay chỉ đơn giản là gặp bạn bè “bù khú” bên cốc cà phê…

Biển Nhật Lệ có những khoảnh khắc thật lãng mạn lúc hoàng hôn. Đây là thời điểm lắng đọng cho những cuộc hẹn hò tình tứ của những đôi trai gái yêu nhau… Khi màn đêm buông xuống, cả một vùng cửa biển với đủ loại tàu thuyền giăng đèn chấp chới, sáng rực như một thành phố thần tiên. Lúc đó du khách ngỡ như mình được nhìn thấy hàng ngàn vì sao đang tỏa sáng lung linh… Tắm biển hay ngắm biển Nhật Lệ đem lại cho con người niềm vui, hạnh phúc vô bờ bến!

3. Ẩm thực ở bãi biển Nhật Lệ

Được thiên nhiên – biển trời ưu ái, biển Nhật Lệ có đầy đủ các loại hải sản phong phú, tươi ngon, là những sản phẩm ẩm thực thượng hạng. Thời điểm đẹp nhất để đến với biển Nhật Lệ là từ tháng 5 đến tháng 8.

Du khách đến đây, bên cạnh tắm và ngắm biển còn có dịp thưởng thức nhiều món hải sản tươi ngon của Quảng Bình như Hàu, Nghêu, sò Huyết, sò Lụa, sò Điệp, Ghẹ, tôm Hùm, Mực, cá Mú, cá Hồ, cá Chim, cá Bả trầu, cá Hồng, cá Chình, cá Hanh… được các nhà hàng dọc con đường ven biển chế biến rất chuyên nghiệp.

Buổi chiều tối, du khách có thể ghé vào những nhà hàng thoáng mát nằm sát bờ biển Nhật Lệ để thưởng thức những món hải sản hấp dẫn, có hương vị đậm đà riêng. Hấp và nướng là hai cách nấu chủ đạo.

Dưới bàn tay khéo léo của người dân Quảng Bình, du khách thoải mái thưởng thức những món hải sản dù đã nấu chín vẫn giữ được nguyên mùi vị đặc thù, tươi rói, khi ăn thì béo và ngọt. Các món sò huyết, hàu khi hấp lên rất ngon, cá mú, cá hanh, cá chim nướng thơm ngon và béo ngậy, còn mực thì giòn và ngọt…

Trong các món hải sản ở đây, ấn tượng nhất phải kể đến là Đẻn (rắn) biển, một món ăn độc đáo đã được nhắc đến trong thơ ca: “Cụng đầu tí chút mùi men/ Lai rai hương Đẻn mà nên bạn tình”.

Món đẻn được chế biến theo nhiều kiểu khác nhau, nhưng được nhiều người biết đến nhất là tiết đẻn pha rượu và ram đẻn. Rượu tiết đẻn có cái vị ấm nồng và hơi chát hòa lẫn tạo nên cảm giác rất khó quên. Vị đặc trưng của món ram đẻn khó mà diễn tả bằng lời.

Cách làm ram đẻn khá đơn giản, những con đẻn được làm sạch sẽ, băm nhuyễn rồi cho gia vị vào trộn đều, sau đó cuốn lá lốt thành những chiếc ram nhỏ và cho lên chảo rán đều. Một đĩa ram đẻn nóng hổi, thơm ngon sẽ cuốn hút, khiến du khách khi đã thưởng thức rồi thì muốn ở mãi không về.

Đến với Nhật Lệ, du khách không nên bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món bánh bột lọc, được làm từ hai nguyên liệu chính là bột sắn và tôm sông. Sau khi trải qua giai đoạn xay, lọc và nhào bột khá công phu, người làm bánh sẽ có một thứ bột thơm và dẻo. Đem vắt mỏng bột sắn thành từng miếng nhỏ, rồi bỏ vào trong mỗi miếng là một con tôm sông đã được rim kỹ cùng vài sợi nấm mèo thái mỏng, gói chặt trong lá chuối sứ. Công đoạn cuối cùng là hấp bánh lên cho đến khi bánh chuyển sang màu trong suốt thì đưa ra khỏi nồi, ăn kèm với chén mắm ớt cay nồng sẽ rất tuyệt.

Ngoài những món kể trên thì bánh canh là món ăn bình dân rất nổi tiếng ở Đồng Hới. Đây là món mang hương vị thơm ngon đặc trưng của miền Trung, được chế biến khá đơn giản. Bánh canh làm từ bột gạo thơm, dẻo và trắng tinh cắt thành từng sợi mỏng.

Nguyên liệu chính để nấu món này là sườn heo và tôm tươi, loại tôm sống ở đầm, cho thịt đậm đà, không tanh. Một bí quyết nữa làm nên sức hấp dẫn của món bánh canh là chén nước mắm ớt xanh thơm, hăng hăng để ăn kèm.

Ngay trên bãi biển, du khách cũng có thể thưởng thức một số món ăn bình dân được chế biến đơn giản của những người bán hàng rong. Chỉ với một bếp than nhỏ, người bán có thể cung cấp cho du khách món nướng hay luộc đầy hấp dẫn.

Ngoài những món ẩm thực được dùng tại chỗ thì còn có những sản phẩm ẩm thực phục vụ khách du lịch mua về làm quà cho người thân, bạn bè và gia đình. Các sản phẩm ẩm thực kể trên không chỉ đơn thuần có giá trị sử dụng và phục vụ cho hoạt động du lịch, mà ở đó còn kết tinh các giá trị văn hóa truyền thống đang được người dân nơi đây lưu giữ và nâng niu, phát triển…

Khi chọn biển Nhật Lệ du khách sẽ không phải ân hận, bởi Quảng Bình trước sau vẫn là một điểm đến đẹp, nhiều chỗ để tham quan, khám phá và giải trí… Thêm điều đáng ghi nhận nữa là cư dân nơi đây hiền hòa, chất phác, thức ăn rẻ và khách không cần mặc cả…

Đây còn là quê hương của cố thi sĩ tài hoa mà mệnh bạc Hàn Mạc Tử, với những vần thơ dung dị mà đầy sức quyến rũ du khách thập phương: “Mơ khách đường xa, khách đường xa/Áo em trắng quá nhìn không ra…/Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/Ai biết tình ai có đậm đà…”

Đến Nhật Lệ lần đầu, dù chỉ lưu lại đây khoảng thời gian ngắn (hai ngày), mặc dù vẫn còn có hiện tượng chưa làm du khách vui lòng[4] nhưng với bãi biển đẹp cùng những món ẩm thực đặc sắc, nơi đây đã để lại trong tôi những ấn tượng không thể nào quyên về một vùng văn hoá miền Trung của đất nước.

Tài liệu tham khảo

1- Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư (Dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1998.

2- Mục Huyền Trân công chúa, trên http://vi.wikipedia.org/wiki.

3- Mai Kim Thành: Lung linh bãi biển Nhật Lệ (Quảng Bình), đăng trên trang http://www.aseantraveller.net.

4- Bàu Tró – Hồ xanh trên cát, trên http://donghoi.gov.vn.

5- Thông tin điện tử thành phố Đồng Hới (Quảng Bình) – http://donghoi.gov.vn.

Hà Nội, ngày 15-10-2011

TS. BÙI HỒNG VẠN

[1] – Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư (Dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1998, tr. 90.

[2] – Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Tr%C3%A2n, ở mục Huyền Trân công chúa có chú giải – Hai châu Ô, Lý thời Trần là vùng đất tính từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay.

[3] – Bàu Tró – Hồ xanh trên cát, trên http://donghoi.gov.vn.

[4] – Ở bãi biển Nhật Lệ có hiện tượng một số thiếu niên đi xin tiền du khách. Nếu cho 1-2 đứa thì những đứa khác quanh đó sẽ quây lại xin. Nếu không cho du khách sẽ phải nghe những lời nói không hay gây khó chịu, bực mình…

MỘT NGÀY VUI!

* XIN CHÀO CÁC BẠN!

* Tôi là Bùi Hồng Vạn, sinh năm 1957 (1958). Quê quán: Võng Ngoại, Võng Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.

* Bên cạnh tên khai sinh, tôi đã và đang sử dụng một số tên – nickname: Bùi Tâm Văn, Bùi Hà Phúc, Bui David, Kevin Bui, Bui Van, Bùi Lê Khoa, Văn Khoa…

Ảnh Bùi Tâm Văn

* Hiện tôi đang là giảng viên (kéo dài công tác) của Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Thương mại (TMU).

* Hôm nay là “Một ngày vui”, tôi vừa xây xong “ngôi nhà” – buitamvan.com – trở thành “công dân toàn cầu”(!)

* TÔI QUAN NIỆM RẰNG: CUỘC SỐNG CẦN ĐƯỢC CHIA SẺ. NẾU CHIA SẺ TỐT SẼ TẠO NÊN HẠNH PHÚC! Tôi hy vọng sẽ nhận được từ các bạn sự cảm thông, chia sẻ và tình cảm tốt đẹp!

TRÂN TRỌNG!

Hà Nội, 10h00′ ngày 8-11-2019

Bùi Hồng Vạn – Bùi Tâm Văn